|
ĐẠI TẠNG KINH TUỆ QUANG 25,釋經論部,1507 ,
5,分別功德論 ,【失譯附後漢錄】
|
||
|
SỐ 1507/5 LUẬN PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC Hán dịch: Mất tên người dịch. Nay dựa vào bản sao chép đời Hậu Hán. QUYỂN 1 * Kệ thứ nhất được lập đã nói: “Tôn giả Ca-diếp đã tư duy về gốc của chánh pháp” (Ca-diếp tư duy chánh pháp bản): Nghĩa là tư duy về ngôn giáo của kinh pháp là hết sức nhiều. Lấy gì để nhận biết? Tôn giả Ca-diếp tức dùng sự đối chiếu để làm sáng rõ về chỗ nhiều ít. Pháp so sánh khởi đầu từ mười con lừa, nói: Sức của mười con lừa không bằng sức của một con lạc đà thường. Sức của mười con lạc đà thường không bằng sức của một con voi thường. Sức của mười con voi thường không bằng sức của con voi Tế cước. Sức của mười con voi Tế cước không bằng sức của một con voi Đạo thực. Sức của mười con voi Đạo thực không bằng sức của một con voi Liên hoa. Sức của mười con voi Liên hoa không bằng sức của một con voi Thanh liên hoa. Sức của mười con voi Thanh liên hoa không bằng sức của một con voi Hồng liên hoa. Sức của mười con voi Hồng liên hoa không bằng sức của một con voi Bạch liên hoa. Sức của mười con voi Bạch liên hoa không bằng sức của một con voi Tuyết sơn. Sức của mười con voi Tuyết sơn không bằng sức của một Hương tượng. Từ lừa đến Hương tượng là một phần. Tám vạn bốn ngàn Hương tượng như thế là để so sánh với phần bên ngoài, bên trong nơi kinh sách. Đầy đủ số lượng Hương tượng như vậy là để đối chiếu với các sự việc được ghi chép mà Tôn giả A-nan đã nghe, đã nhận biết. Về phần thô là có thể cùng so sánh để nhận biết về số lượng lớn. Còn muốn mỗi mỗi thứ được diễn đạt bằng văn tự thì trọn đời cũng không thể thông suốt. Tư duy về kinh pháp là hết sức rộng lớn. Làm sao sẽ khiến chúng được lưu hành rộng khắp thiên hạ để cho ngàn đời chúng sinh nhận được ân ích của chánh pháp? Xét sâu đạt lý. Ai có thể soạn thuật pháp? Chỉ có Tôn giả A-nan mới có thể kết tập được. Tôn giả Ca-diếp tức thì đánh kiền chùy tập hợp chúng. Bấy giờ, liền có tám vạn bốn ngàn chư vị A-la-hán, vâng lệnh đến họp. Những vị nầy đều là bậc vô lậu, là câu giải thoát. Sở dĩ triệu tập các bậc Hiền Thánh ấy là để chư vị đều có thể nhập định diệt tận. Các vị nhập định diệt tận là có thể khiến cho chúng sinh hiện đời được phước, cứu độ mọi thứ khổ ách. Các bậc A-la-hán trong đại thiên thế giới, số lượng khó có thể nêu tính, trừ các vị ở ba đường, mỗi mỗi đều gấp bội. Nay chỉ chọn lấy hàng câu giải thoát lợi căn, có thể dùng định diệt tận độ thoát chúng sinh. Do đó xưng là phước điền. Lấy gì để làm rõ? Ngày xưa, Thiên Đế-thích phước hết sắp mạng chung, năm điềm suy hiện ra, tâm liền sợ hãi, muốn cầu cứu giúp, đang muốn đi đến chỗ Phật để cầu cứu. Nhớ nghĩ về ân Phật vốn rộng lớn khoan hòa, sợ không kịp để hóa giải thọ mạng. Liền nghĩ tới Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, cũng sợ là không thể cứu mạng. Chỉ có Tôn giả Đại Ca-diếp, do diệu lực của định diệt tận, có thể tức thì cứu kịp nguy ách. Liền đi đến trụ xứ của Tôn giả Ca-diếp. Lúc nầy, Tôn giả Ca-diếp sắp sửa đi tới các nhà nghèo. Phước độ nhớ nghĩ kỹ, đang muốn hiện ra thân trời, nhưng e sợ Tôn giả không nhận vật thí của mình, nên ở giữa đường hiện làm túp lều cỏ, với người bệnh ốm yếu ở trong ấy. Tôn giả Ca-diếp đến khất thực. Người bệnh liền duỗi cánh tay để cho thức ăn. Tôn giả Ca-diếp dùng bát nhận lấy, biến thành cam lồ, Đế-thích bèn hiện trở lại thân trời, ở trong hư không, Tôn giả Ca-diếp bảo: Sao lại vọng ngữ, lừa dối ta chăng? Trời đáp: Không vọng ngữ. Tôi chí thành dâng thí. Tôi là Thiên Đế, năm điềm suy hiện đến, mạng sắp chấm dứt, nên tới đây để cầu nguyện, xin cứu giúp mạng tôi. Tôn giả Ca-diếp liền im lặng nhận lời. Thiên Đế đến chỗ Phật nghe pháp, chốc lát liền ngủ, ngủ rồi liền thức, Phật bảo Thiên Đế: Vừa rồi ông đã chết, nay đã sống trở lại, không còn mạng chung nữa. Trở lại thân như cũ. Đây tức là chỗ cảm ứng từ diệu lực nơi định diệt tận của Tôn giả Ca-diếp. Tôn giả Ca-diếp sở dĩ xem diệu lực của định diệt tận là tối thắng, vì Tôn giả vốn là Phật Bích-chi. Phàm là pháp của Phật Bích-chi thì không thuyết pháp để giáo hóa, chỉ chuyên dùng thần túc để cảm ứng, biến hiện từ Tam-muội. Tôn giả Đại Ca-diếp tuy đã thủ chứng A-la-hán, nhưng thức gốc vẫn còn, nên vừa chọn lấy tám vạn bốn ngàn chúng đức, công sức có thể tạo được cảm ứng ngang với mình. Vấn nạn: Tôn giả Ca-diếp, do gốc là Phật Bích-chi nên nói diệu lực của định kia là thù thắng. Còn các vị A-la-hán nầy cũng đều là Phật Bích-chi chăng? Đáp: Tuy không phải là Phật Bích-chi, nhưng đã hành tập khắp về định diệt tận, nên nơi diệu lực là đồng, nên nói Tôn giả Ca-diếp và chúng Tăng là ruộng phước của chúng sinh. * Kệ viết: Đều đắc La-hán, tâm giải thoát: Là bậc Câu giải thoát. * Kệ viết: Đã thoát buộc chấp, làm phước điền: Nghĩa là Tôn giả Ca-diếp đã triệu tập tám vạn bốn ngàn chúng, đều chứng đắc Câu giải thoát. Do định diệt tận có thể khiến chúng sinh nơi đời hiện tại thoát khổ, về sau đạt được Niết-bàn, nên viết là: Làm phước điền. * Kệ viết: Tập bốn bộ: Là nói lược, lý hợp bốn bộ là tiêu biểu. Lại có tám bộ người trời: Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Trưởng giả, Sa-môn, Tứ Đại vương, Tam Thập Tam thiên, Ma vương, Phạm vương. Đó là tám bộ, cộng có mười hai bộ. * Nói bốn bộ: Là bước đầu nêu phần chính yếu. * Các pháp thâm diệu: Nghĩa là mười hai nhân duyên. Đức Phật vì Tôn giả A-nan nói mười hai nhân duyên là hết sức sâu xa vi diệu. Tôn giả A-nan thưa: Nhân duyên nầy có gì là thâm diệu? Phật bảo: Chớ nói là không thâm diệu. Chính ông, có lúc vào đời trước cũng nói là không thâm diệu. Xưa có vua A-tu-luân thân cao tám vạn do-tuần, hai môi trên dưới cách nhau ngàn do-tuần. Vua có con trai nhỏ, luôn yêu quý đứa bé nầy, bế để ngồi trên đầu gối. Biển sâu ba trăm ba mươi sáu vạn dặm, vua A-tu-luân đứng trong ấy nước chỉ ngang nơi rốn của bụng. Đứa bé thấy cha như thế nên cho biển là cạn, muốn được đi vào nước. Vua cha bảo: Không thể! Vì biển sâu khiến con bị chìm. Đứa bé cứ muốn được vào nước. Vua cha liền buông đứa con, chìm tận đáy biển, nên hoảng sợ kêu la. Người cha bèn đưa cánh tay nắm lấy trở lại kéo ra khỏi nước. Bảo: Ta đã nói là con không thể vào được, mà con không tin. Hiện tại những gì là tương tợ? Vua A-tu-luân thời ấy nay là thân Ta. Đứa bé chính là ông (A-nan). Ngày trước không tin về biển sâu, nên nay không tin. Ông chỉ tư duy vô minh duyên hành, hãy còn không thể hiểu rõ, huống hồ là hiểu rõ về ba mươi bảy phẩm. Đức Như Lai đã nói về bốn thứ không thể nghĩ bàn. Những gì là bốn? Đó là, chúng sinh không thể nghĩ bàn. Thế giới không thể nghĩ bàn. Loài rồng không thể nghĩ bàn. Phật không thể nghĩ bàn. Sở dĩ thế giới không thể nghĩ bàn: Ngày trước, Tôn giả Mãn-nguyện-tử và một Phạm-chí cùng luận bàn. Phạm-chí tự nói: Tôi từng đi đến một ao nước, ngồi nơi bờ suy nghĩ, thấy có bốn thứ quân binh kéo tới, đi vào trong khoảng trống của đóa hoa sen. Liền tự kinh ngạc, không biết mình bị hoa mắt hay là thật có. Nói với người khác, họ đều không tin, tôi bèn đi tới trụ xứ của Phật thưa lại sự việc đã thấy như thế, Phật bảo: Đấy là sự thật không phải là hư vọng. A-tu-luân khởi bốn thứ binh đánh nhau với chư Thiên. A-tu-luân không thắng nổi nên thối chạy vào trong khoảng trống của hoa sen tự ẩn nấp. Đây không phải là chỗ suy lường có thể đạt tới, nên nói là thế giới không thể nghĩ bàn. Thế giới, hoặc cho là Phạm-thiên tạo ra, hoặc cho là do sáu trời tạo nên. Phạm-chí lại nói: Phạm-thiên do ai tạo? Hoặc nói: Phạm-thiên có cha. Hoặc nói là tự tạo. Nói có cha: Tức cha là hoa sen. Có chỗ nói: Hoa sen từ đâu sinh ra? Đáp: Từ trong rốn của Ưu-đà-duyên sinh ra. Ưu-đà-duyên từ đâu sinh ra? Đáp: Từ nơi vua Tán-sa sinh ra. Lại nói: Vua Tán-sa sinh ra từ tộc họ nào? Đáp: Sinh ra từ chủng tộc Sát-đế-lợi. Lại nói: Phạm-thiên là chủng tộc Bà-la-môn, nay nói do Sát-đế-lợi sinh ra, có thể nói như thế được chăng? Lại nói: Thời gian kiếp thiêu đốt, phần thô có thể được riêng. Do đâu nói như thế? Đáp: Vào lúc kiếp thiêu đốt, từ biên giới của đất trở lên đến mười lăm cõi trời, hoàn toàn bị thiêu rụi hết. Điều tương tợ như thế có thể nhận biết. Nhưng lại có từ tầng trời mười sáu trở lên đến cõi trời Ba Mươi Ba thì còn. Khoảng nầy, tuy thế giới khác bị thiêu đốt, vẫn còn. Do đấy mà nói lại không thể nhận biết. Đó là thế giới không thể nghĩ bàn. Hoặc nói: Sau kiếp thiêu đốt, nước bổ sung cho xứ lửa. Gió Tùy-lam thổi, tạo ra cung điện xong, dưới thấp có đất màu mỡ, đám chư Thiên trên cõi trời Quang Âm du hành vui chơi tới vùng đất kia, dần dần nếm thử thứ đất màu mỡ ấy, thân tướng bèn trở nên nặng nề, không thể quay lại trụ xứ. Ăn nhiều đất đó thì hóa làm người nữ, chuyển giảm trở thành mảnh mai, thích ăn bánh làm bằng bột gạo lấy từ đất. Mất thần túc, ánh sáng, đám chư Thiên kia trở lại làm người, hành thiện sinh cõi trời, hành ác bị đọa vào ba đường dữ, lưu chuyển nơi năm nẻo, không có thường định. Giả sử muốn biết cùng tận về nguyên do, cội rễ của một người hãy còn không thể nhận biết, huống chi là hết thảy chúng sinh mà có thể lường xét được? Đó là chúng sinh không thể nghĩ bàn. Do đâu nói loài rồng là không thể nghĩ bàn? Phàm khởi mây, tuôn mưa đều do nơi rồng. Mưa là từ mắt tai mũi miệng của rồng phát ra, hay là từ nơi thân phát ra? Hoặc là từ nơi tâm xuất phát? Dựa vào núi Tu-di để trụ có năm loại trời, cũng có thể tuôn mưa. Vì sao riêng rồng tuôn mưa trời? Mưa trời là sương mù mịn rơi xuống. Hạt to rơi xuống là “Mưa rồng”. Những gì là năm loại trời? Thứ nhất là trời Khúc cước. Thứ hai là trời Đảnh thượng. Thứ ba là trời Phóng dật. Thứ tư là trời Nhiêu lực. Thứ năm là trời Tứ vương. Lúc A-tu-luân dấy binh lên đánh với trời, trước là cùng với trời Khúc cước đánh nhau, chẳng được, sau đấy mới đến trời Đảnh thượng. Tiếp theo tới trời Phóng dật cùng trời Tứ vương, cho đến trời Ba Mươi Ba. Bên dưới trời Tứ vương, lúc muốn chiến đấu thì dùng mưa để cự địch, lại không có binh khí. Có hai loại mưa: Có mưa hoan hỷ. Có mưa giận dữ. Mưa tuôn điều hòa là hoan hỷ. Sấm chớp, sét đánh liên hồi là giận dữ. A-tu-luân cũng tuôn mưa. Trời cũng tuôn mưa. Rồng cũng tuôn mưa. Mỗi mỗi thứ đều tạo ra mưa, lý không thể định, nên nói rồng tuôn mưa là không thể nghĩ bàn. Phật là không thể nghĩ bàn: Thời trước, Phật ở tại tĩnh thất, các vị Phạm-thiên đông nhiều như Hằng hà sa, đi đến trụ xứ của Phật, muốn biết Phật đang an trú trong Tam-muội nào, nhưng không thể biết được. Thần túc như thế là đã biến hiện các sự việc bí mật. Hàng Nhị thừa đã không thể nghĩ bàn, huống chi là hàng phàm phu há có thể xét đoán được! Tôn giả A-nan suy cử trước hết là Tôn giả Ca-diếp, nói: Bậc Niên trưởng có thể đảm nhận công việc vì chúng sinh diễn nói pháp. Sở dĩ như thế vì Đại đức là bậc Tôn trưởng cựu học, hiểu biết nhiều, được Đức Thế Tôn ủy thác, vì chúng sinh đời vị lai, nhằm khiến cho chánh pháp trụ lâu ở đời, do đấy Đức Như Lai đã dành cho nửa tòa ngồi. Tôn giả đã là vị Thượng tọa của chúng Tăng, trí tuệ lại gồm rộng. Xin Tôn giả rủ lòng từ bi tuyên thuyết Pháp bảo! Các Sư nước ngoài nói: Tôn giả Ca-diếp sở dĩ không thuyết pháp là vì trong bốn biện tài, Tôn giả không có từ biện. Lại nói: Tôn giả vốn là Phật Bích-chi, chỉ dùng thần túc hóa hiện. Lần đầu không diễn nói pháp, Tôn giả Ca-diếp đáp: Xin nhường. Tự bảo: Mình già yếu, các căn tối tăm, phần nhiều đều quên cả. Thưa: Pháp chân thật của bốn đế há có thể suy vong chăng? Ví như kim cương không thể hao tổn. Bốn đại sinh tử mới có tăng giảm thôi. Các nhà thuộc Tát-bà-đa lại nói: Chín loại A-la-hán có thối chuyển. Do bao nhiêu sự nên thối chuyển? Có bốn sự: 1. Tuổi tác già cả. 2. Bệnh tật khổ bức. 3. Thích du hành phương xa. 4. Dùng thuốc không thuận hợp. Do bốn sự nầy mới có việc nhầm, quên. Bậc diệu tuệ của Chân đế há có thể quên sao? Tôn giả Ca-diếp khuyên Tôn giả A-nan: Ông nay đang lúc còn trẻ trung, khỏe mạnh, lại thêm có nhiều trí như văn trí v.v…, nắm giữ chung, ghi nhớ giỏi, Đức Phật mỗi lẫn thuyết giảng kinh thường giao phó dặn dò ông. Thế nên ông nên tuyên thuyết kinh pháp rộng khắp. Do đâu biết Tôn giả A-nan có nhiều trí? Thời trước, phía Đông thành Xá-vệ, có cây Ni-câu-loại to lớn, bóng mát che trùm năm trăm cỗ xe. Trong thành có Phạm-chí thông thạo về toán thuật, ở trong chín mươi lăm loại là bậc nhất. Một hôm, Phạm-chí gặp Tôn giả A-nan tại dưới bóng cây Ni-câu-loại ấy, nói với Tôn giả: Người ta nói: Trong số đệ tử của Cù-đàm, thầy là vị có trí tuệ bậc nhất, có việc ấy chăng? Tôn giả A-nan đáp: Cũng có hiểu biết ít nhiều. Phạm-chí nói: Xin được hỏi một việc: Cây to nầy, thân, đoạn, cành, lá mỗi thứ có bao nhiêu? Tôn giả A-nan ngẩng đầu nhìn lên cây, liền đáp: Cây nầy, thân, đoạn, cành, lá đều có từng ấy. Nói xong liền ra đi. Phạm-chí ở sau, suy nghĩ: Sa-môn nầy tất không biết về số lượng nên mới đáp như thế. Nay nên thử xem. Liền leo lên cây, ở mấy chỗ hái lá, tất cả có sáu mươi lá, đem giấu nơi mô đất. Tôn giả A-nan khất thực trở về. Phạm-chí lại hỏi: Tôi vừa quên mất số lượng thầy đã nói trước đây, Tôn giả A-nan ngẩng đầu nhìn lên cây, lại nhìn khắp, rồi nói: Cây nầy số lá vì sao bị thiếu? Phạm-chí hỏi: Thiếu bao nhiêu lá? Tôn giả A-nan bảo: Thiếu sáu mươi lá. Phạm-chí liền chấp tay bái tạ: Thật chưa từng có! Lại hỏi: Thầy là A-la-hán chăng? Đáp: Không phải. Là A-na-hàm, Tư-đà-hàm chăng? Đáp: Cũng không phải. Là Tu-đà-hoàn chăng? Đáp: Vì sao hỏi như thế? Phạm-chí lại hỏi: Thầy có Thầy dạy chăng? Tôn giả A-nan đáp: Có chứ. Thái tử con vua Chân Tịnh xuất gia tu thành Phật, tức là Thầy của tôi. Phạm-chí tâm niệm: Đây là nhờ trí của Thầy, không phải là chỗ nhận biết của chính mình. Bèn đi theo Tôn giả A-nan đến chỗ Phật, cầu làm Sa-môn, liền chứng đắc A-la-hán. Do đấy nên biết Tôn giả A-nan có nhiều trí. Tôn giả A-nan sở dĩ suy tôn Tôn giả Ca-diếp trước tiên, vì Tôn giả Đại Ca-diếp đã là Thượng tọa, lại là chỗ tôn kính, thời xưa, trong năm trăm đời luôn là cha của mình. Túc mạng đã biết kính ngưỡng, gắn bó nên tình nghĩa càng sâu. Tôn giả Đại Ca-diếp sở dĩ luôn ân cần đối với Tôn giả A-nan, là do từ xa xưa, duyên tích chứa sâu dày, ân còn chưa báo đáp hết. Lại thêm Tôn giả A-nan vốn đa văn, nhiều trí, ghi nhớ giỏi, đối với chúng là hơn hết, nối hợp các sách vở đến tám vạn loại chẳng ai hơn. Hai vị cùng cần nương dựa nhau đề cùng tạo lợi ích. Nếu hai vị bỗng dưng gặp được ngàn cân vàng thẻ, lúc ấy cùng bàn tạo thế, hợp sức để mang về thì được dụng lớn. Có thể cho hai Tôn giả Ca-diếp, A-nan, kết hợp trí là đúng với dụ kia. Hai người cùng hợp sức thì Pháp bảo trường tồn. Lúc nầy, Tôn giả A-nan nói kinh là vô lượng, ai là người có thể gôm hợp lại đầy đủ làm một nhóm? (Kinh vô lượng là mười hai bộ kinh) Bèn gọi là mười sự. Hoặc nói mười sự, bèn luận hai sự. Hoặc nói ba sự, mới luận mười một sự. Trên dưới không thứ lớp, không tạo được một nhóm. Hoặc có người nói: Đức Như Lai thuyết pháp, hoặc nói về giáo pháp khuyên dạy. Hoặc nói về việc đoạn trừ kiết. Hoặc nói về việc sinh trong cõi trời, người. Theo đấy mà nói, lại không thể làm một nhóm. Tôn giả A-nan suy nghĩ: Một nên theo một. Hai theo hai. Ba, bốn, năm, sáu cho đến mười, đều khiến sự loại cùng bày rõ. Hoặc có người bảo: Lý không thể như thế. Xét như lời Phật nói không thể theo thứ lớp đối chiếu. Tôn giả A-nan lại suy xét: Kinh pháp là vô cùng rộng lớn, nên phân làm ba nhóm. Tôn giả A-nan riêng khởi ý nghĩ nầy. Trời Thủ-đà-hội mật báo với Tôn giả A-nan: Đúng là nên tạo làm ba phần. Liền như lời trời đã báo cho biết, phân làm ba phần: Một phần là Khế kinh. Phần hai là Tỳ-ni. Phần ba là A-tỳ-đàm. Khế kinh là pháp do Phật thuyết giảng. Hoặc vì chư Thiên, Đế vương. Hoặc vì các đám ngoại đạo, dị học, theo sự mà phân biệt, đều được mở bày, lãnh hội. Khế kinh cũng như sợi chỉ khâu nối kết nghĩa lý khiến thành pháp hành, nên gọi là Khế kinh. Tỳ-ni là luật ngăn cấm. Vì hai bộ Tăng, nói về việc ngăn chận điều ác, thâu giữ điều sai trái. Hoặc có hai trăm năm mươi sự, hoặc có năm trăm sự. Dẫn pháp để phòng gian, như kho bí mật của nhà vua, không phải Sở ty của các quan bên ngoài, nên gọi là Nội tạng. Tạng Giới luật nầy cũng như thế, không phải là chỗ nghe thấy của các Sa-di, Thanh tín sĩ, Thanh tín nữ (Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di), nên xưng là Luật tạng. A-tỳ-đàm là pháp lớn. Sở dĩ nói lớn vì đại tuệ của bốn đế, dấu hiệu của các pháp, đoạn trừ các thứ tà kiến, vô minh, si mê sâu dày, nên viết là pháp lớn. Cũng gọi là pháp không gì sánh bằng (vô tỷ). Tám trí, mười tuệ, chánh kiến vô lậu, vượt chướng ngại của ba cõi, không gì sánh kịp nên gọi là Pháp vô tỷ. Tôn giả Ca-chiên-diên-tử soạn tập các kinh, rút tóm tuệ chính yếu, trình lên Phật và được chấp thuận nên gọi là Pháp tạng lớn. Tôn giả A-nan lại tư duy: Nghĩa của ba Tạng nầy cùng với ba giải thoát tương ưng. Thế nào là Khế kinh? Lý của diệu tuệ cùng với không thuận hợp. Tỳ-ni chế ngự ác, lẽ sâu xa ngang với vô tướng. Chánh kiến của pháp lớn, dấu vết đúng với vô nguyện. Nên gọi là ba Tạng, ba giải thoát, dấu nẻo sâu xa diệu hợp. Tôn giả A-nan lại suy xét: Khế kinh là gốc lớn, nghĩa phân bốn đoạn, vì sao văn nghĩa lẫn lộn? Phải nên dùng sự, lý cùng đến, lớn nhỏ cùng theo thứ lớp. Thứ nhất là Tăng nhất, tiếp đến gọi là Trung, thứ ba gọi là Trường, Thứ tư gọi là Tạp. Dùng một làm gốc, lần lượt đến mười. Một, hai, ba theo sự tăng lên nên gọi là Tăng nhất. Trung là không lớn, không nhỏ, không dài, không ngắn, sự hợp ở trung nên gọi là Trung. Trường là nói sự lâu xa, qua kiếp không dứt, gốc ngọn nguyên do, sự trải bảy Phật, Thánh vương bảy báu, nên gọi là Trường. Tạp là các kinh đoạn, kết, khó tụng khó nhớ, sự nhiều chi li, vui thích khiến quên, nên gọi là Tạp. Tôn giả A-nan soạn hợp ba Tạng xong, chọn lấy mười kinh làm một kệ. Sở dĩ như thế là vì người tụng tập của đời vị lai, e sẽ quên, nhầm, thấy tên gọi nhớ gốc, suy xét tự tỏ, nên dùng mười kinh làm một kệ. Gọi là Tạp tạng, vì không phải một người nói. Hoặc Đức Phật thuyết giảng, hoặc các đệ tử thuyết giảng, hoặc chư Thiên tán tụng. Hoặc nói về túc duyên đã sinh khởi của Bồ-tát trong ba A-tăng-kỳ, văn nghĩa chẳng phải là một mà nhiều hơn nơi ba Tạng, nên xưng là Tạp tạng. Lúc Phật tại thế, vua A-xà-thế hỏi Phật về hành sự của Bồ-tát, Đức Như Lai đã vì nhà vua thuyết pháp đầy đủ. Ví như vua hỏi Phật: Sao gọi là pháp? Đáp: Pháp tức là Bồ-tát tạng. Các chánh kinh Phương Đẳng, đều là sự trong Bồ-tát tạng. Ngày trước, thời Phật tại thế đã gọi là Đại sĩ tạng. Tôn giả A-nan soạn tập tức nay là bốn Tạng, hợp lại mà nói là năm Tạng. Hoặc có nghĩa của một pháp, cũng sâu xa khó trì khó tụng, không thể nhớ nghĩ (một pháp tức là pháp không), vắng lặng không tiếng không vang, không tâm, không niệm, an nhiên không tưởng, là “tối đệ nhất không”, nghĩa không hai. Không dung nạp để có thể xét lường, nên viết là khó trì. Không ngôn từ để có thể đối đáp, nên gọi là khó tụng. Không ý để có thể tư duy nên nói là không thể nhớ. Gọi là nghĩa sâu xa, sự việc là như thế. Lại nữa, một pháp là gốc của các số. Một là số đầu, mười là số sau cùng. Sau cùng nơi mười lại từ một khởi. Hiện đến ngàn vạn luôn bắt đầu nơi một. Như thế, các số một không thể cùng tận. Trong các kinh, hoặc một nghĩa một pháp một hành một sự, mỗi mỗi đều cùng hợp theo, không mất đầu mối, nên nói như vậy. Hai pháp là theo hai: Hoặc nói thiện ác, hoặc nêu chỉ, quán, hoặc gọi danh, sắc. Chỉ là hư, quán là thật. Chỉ là định của Tam-muội, an nhiên diệt tưởng, mênh mông bặt nghĩa, nên gọi là hư. Quán sở dĩ nói là thật, là do phân biệt có hành, thị phi tốt xấu, thức riêng biết rõ, ý không lẫn lộn, nên gọi là thật. Ba pháp là dựa theo ba. Ba là bố thí, công đức, tư duy. Ba hành nầy là pháp thế tục sinh thiên. Hành ba môn giải thoát là pháp đi đến Niết-bàn. Có ba pháp, ba hành, ba phước, ba phần pháp thân, ba, ba cùng hợp theo, dụ như những viên ngọc nối kết. Bốn pháp căn cứ nơi bốn. Năm cũng thế. Năm pháp tiếp đến sáu. Sáu tiếp đến bảy, tám pháp nghĩa rộng, chín tiếp tới thứ mười. Pháp từ mười đến mười một. Các số như thế đều đồng hai, ba loại sự hợp theo. Tôn giả A-nan tức thì lên tòa. Tòa là tòa Sư tử. Trong kinh sở dĩ dùng dụ về tòa Sư tử, vì sư tử là vua trong loài thú, thường ở nơi vùng đất cao, không trú nơi chốn thấp trũng, nên dụ cho tòa cao. Lại chọn lấy tính chất vô úy. Tôn giả A-nan nghe biết rộng vô lượng, ở trong hàng Thanh-văn là một mình cất bước không sợ, nên nói là tòa vô úy. (Tôn giả A-nan lên tòa cao như thế). Bồ-tát Di-lặc khen: Lành thay! Vui thay! (Bồ-tát Di-lặc sở dĩ hiện xuống là sợ Tôn giả A-nan kết hợp pháp Bồ-tát tại ba Tạng, là Đại, Tiểu không riêng), nói vàng, thâu thạch cùng xâu kết, do đấy ân cần khuyến thỉnh phân bộ. Xưa, Thánh vương Đại thiên có đủ bốn Phạm đường, lần lượt được nối tiếp, cho đến tám vạn bốn ngàn vua, đều có Phạm đường, duy chỉ có một người Đại thiên là bậc Đại sĩ, số còn lại đều là “Tiểu tiết”. Theo đấy mà nói, Đại thừa khó thực hiện, phần nhiều là hướng về Thanh-văn. Bồ-tát Di-lặc cũng nhận biết Tôn giả A-nan phân làm ba Tạng, nhưng còn sợ hàng hậu học chuyên tập pháp không, đoạn kiết thủ chứng, do đấy đã hiển dương Đại thừa, phân làm Tạng riêng, nên giảng nói về các hành của sáu Độ, là đề mục chính yếu của hàng Đại sĩ. Giảng: Thí có hai loại: Có tín thí. Có khủng bố thí. Lập căn được nhẫn tức gọi tín thí. Uy lực bức bách, không do bản tâm gọi là khủng bố thí. Tín thì thành độ. Sợ tức cầu phước. Đạo tục khác nhau, không đợi ngôn từ mà tự riêng khác. Người kia bảo: Người thí đầu mắt là bảy trụ trở lên. Thí của cải vật dụng, là sáu trụ trở xuống. Từ đấy thối chuyển, không rơi vào sinh tử mà mong tới Niết-bàn. Lấy gì để làm rõ? Trong Đại Phẩm Bản Vô, nói: Sáu mươi Bồ-tát đắc đạo La-hán, chính là sự việc ấy. Giới như kim cương là giới Đại thừa. Giới như gạch ngói là giới Tiểu thừa. Vì sao? Vì kim cương là không thể hủy hoại. Thời trước, có Bồ-tát là một Tỳ-kheo đoan nghiêm hơn người, ra đi khất thực, giữa đường gặp một cô gái xinh đẹp. Cô gái nhìn Bồ-tát liền khởi tâm dục, mong làm vợ chồng, lại tự suy nghĩ: Ở đây cùng nhau nêu bày thì không thể được, chỉ cùng ngồi gần, ta liền phát tâm vô thượng. Bồ-tát nhận biết tâm của người nữ, nên tiến đến trước, cùng ngồi. Chốc lát, người nữ như muốn xích gần tới trước. Tỳ-kheo im lặng không đáp. Lại xích gần lần nữa. Như cố ý thản nhiên, Tỳ-kheo tức vì người nữ thuyết giảng pháp không: Mắt vốn từ đâu tới, rồi đi về chốn nào? Muốn nói là từ cha mẹ đến chăng? Lúc chưa hội hợp, cũng không có mắt nầy, về sau đến khi tan hoại lại đi về nơi đâu? Theo đấy mà nói, mắt không thật có. Năm căn cũng thế. Cô gái hoát nhiên hiểu rõ không, đắc Tu-đà-hoàn. Đáng lẽ cùng nói có mới lại nêu giảng về không. Pháp của Bồ-tát là nên vào có mà nói về không, do đấy là không hoàn toàn hợp với bản ý. Tôn giả A-nan lúc ấy thấy Tỳ-kheo nầy cùng ngồi với người nữ là phạm oai nghi của Tỳ-kheo, liền trở về bạch Phật: Con vừa thấy có Tỳ-kheo cùng ngồi với người nữ. Đức Phật do đã biết trước nên chỉ im lặng. Tỳ-kheo kia biết Tôn giả A-nan đã thưa với Đức Thế Tôn, nên nghĩ mình đúng ra là không đi đến, nhưng sợ có kẻ phỉ báng sẽ mắc tội, đang muốn hiện biến hóa, vì Phật vốn không cho phép, nên Tỳ-kheo ấy bèn bay thẳng tới chỗ Phật. Phật bảo Tôn giả A-nan: Vị Tỳ-kheo ông vừa thấy phạm luật, hiện là vị Tỳ-kheo đã bay đến đây. Ông từng thấy người phạm dục có thể bay được chăng? Tỳ-kheo nầy vừa rồi đã cùng với người nữ cùng ngồi một chỗ, vì lúc đó do người nữ tâm niệm: Nếu Tỳ-kheo nầy cùng ngồi với ta, ta sẽ phát tâm vô thượng! Tỳ-kheo ấy đã nhận biết tâm ý của người nữ, nên cùng ngồi, tức thì thuyết giảng về pháp không, phân biệt mắt không, năm căn còn lại cũng thế. Người nữ tức sợ hãi nên đắc quả Đạo tích (Tu-đà-hoàn). Do tâm sinh sợ hãi, sợ sinh tử nên chứng đắc Tiểu thừa. Nếu Tỳ-kheo kia, vừa rồi vì người nữ nói về hành có, hoàn thành bản tâm. Do sự việc nầy nên biết, Bồ-tát đó chưa thành nhưng không thối chuyển đối với việc quán xét người, tâm chưa hoàn toàn khéo léo. Đó gọi là giới kim cương. Gọi là người hành nhẫn độ là gặp mắng nhiếc, hủy báng đều im lặng thọ nhận, không đáp trả. Bồ-tát hành nhẫn, thường dùng từ v.v… bình đẳng với mình, người. Mình người đã bình đẳng thì oán thân không hai. Nên kinh nói: Từ của Tiểu thừa là từ ở ngoài da. Từ của Đại sĩ là thấu đến xương tủy. Lấy gì để làm rõ? Như có người chặt đứt chân tay của Bồ-tát, máu tuôn ra kia liền biến thành sữa, tức là chứng cớ của tâm từ. Tỳ-kheo hành nhẫn nhục đạt được sự việc như vậy. Dụ như người mẹ sinh con, liền có sữa xuất hiện. Từ ấy do niệm đã cảm ứng, tự nhiên biến thành. Đại sĩ như thế, nhập Tam-muội Từ, nên có thể cảm ứng thành sữa. Hành từ tột cùng, tuy cầm nắm cung tên, nhưng chúng sinh lại đến nương dựa nơi mình. Hành từ không thấu đáo, tuy không cầm đao gậy, nhưng kẻ trông thấy đều bỏ chạy. Do chứng cớ ấy, nên Đại, Tiểu có khác nhau đã tự tìm tới. Bồ-tát tạo hành thiện ác, nghĩa là tinh tấn làm các công đức thiện, còn hành ác, cũng như ngày xưa Đồng tử Hỏa Man phỉ báng Phật Ca-diếp, nói: Sa-môn đầu trọc có đạo gì. Đạo khó chứng đắc đã có thể đắc đạo. Do đấy, nên về sau phải thọ nhận sáu năm khổ nhọc rồi mới đắc đạo. Trong giáo pháp để lại, các Tỳ-kheo thường tranh luận về việc nầy. Cũng như miệng không thể nói mà phải nói để đáp lại. Sáu năm khổ hạnh là không thể hành mà hành báo. Đó là Bồ-tát thân miệng hành ác. Thiền định là đi vào nẻo tịch tĩnh, an nhiên bất động. Trí tuệ nhận biết số lượng như vi trần cùng Hằng hà sa số. Nhớ nghĩ, ghi chép là không thể tính kể. Tuệ sáng hiểu rõ là không thể cùng tận. Sự việc của sáu Độ vô cực (Ba-la-mật) nầy đều ở tại Bồ-tát tạng, không nên hợp với ba Tạng. Tôn giả A-nan muốn khiến Đại, Tiểu khác nhau là có nhân duyên. Những người kia không cùng biết, lý ấy tự không, khó có thể làm sáng rõ. Đại sĩ nghi về không: là không thủ chứng, nên gọi là hồ nghi. HẾT - QUYỂN 1 LUẬN PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC QUYỂN 2 * Bồ-tát Di-lặc khen ngợi: Lành thay! Là do việc tập hợp pháp lớn của sáu độ làm một phần. Đây tức là Bồ-tát tạng. * Đoạn kiết: Là đoạn trừ các kiết sử của kiến chấp sai lầm. Là sự việc thành tựu đạo quả Đại thừa với Nhất thiết trí. * Tôn giả A-nan chỉ nói là nghe, không nói là thấy: Tức há có thể không thấy Đức Như Lai thuyết pháp? Sở dĩ không nói thấy là vì tương lai nơi bốn bộ. Nếu như nói thấy thì bốn bộ chúng sau nầy lại vâng theo Tôn giả A-nan, nói thấy tức là hư vọng. Do đấy, nên chỉ xưng là nghe, không nói thấy. Đầu tiên thuyết pháp, độ năm người như A-nhã-câu-lân v.v… Nơi nước Ma-kiệt hàng phục ba anh em Ca-diếp. Thích-sí tức là Ca-tỳ-la-vệ. * Nếu không biết được xứ thuyết giảng kinh, chỉ xưng tại Xá-vệ: Là do Phật ở tại Xá-vệ trải qua hai mươi lăm năm, so với thời gian ở tại các nước khác là lâu hơn cả. Sở dĩ lâu là vì nước ấy cảnh quan tươi đẹp bậc nhất, có nhiều châu báu kỳ lạ, dân chúng đông đúc, hiểu biết nghĩa lý. Tinh xá nơi khu lâm viên Kỳ-đà – Cấp Cô Độc có dị thần chứng nghiệm, nên khi chúng Tăng tập hợp tại giảng đường, đám khỉ vượn hàng ngàn con kéo tới, lân la khắp chốn, xem xét, lắng nghe, hoàn toàn vắng lặng, không một tiếng ồn. Đám chim chóc thì hầu như từ khắp nơi bay về tụ tập. Chúng Tăng chính thức nghỉ ngơi thì các bầy chim kia đều trở về nơi trú ngụ. Kiền chùy vừa gióng lên thì chúng đã lại vân tập. Đây là do đất nước có nhiều bậc nhân từ, nên các loài khác cùng nương bóng. Đức Phật, hoặc có thể tạm thời hành hóa vì thọ thỉnh, hoặc có thể dùng thần lực, vừa giáo hóa xong liền trở lại bổn xứ. Do đấy chỉ xưng là Xá-vệ, đủ biết về chỗ chính yếu. * Sở dĩ xưng riêng Kỳ-hoàn, Cô Độc, là tên của hai người: Là vì hai vị nầy qua đời trước đây, nay ở tại cõi trời, cũng tập hợp chư Thiên thuyết pháp giáo hóa. Lúc ấy, tâm niệm, nói: Chúng ta vốn là Đàn-việt của chúng Tăng, là hạng đầu tiên, lại không xưng tên họ của chúng ta sao? Nhằm thích ứng với tâm niệm kia, nên lại xưng riêng tên của hai vị. * Nói: Nên tu một pháp: Là cũng không nói về thứ lớp. Nếu xét về thời gian mới thành đạo thuyết pháp, thì phải từ vườn Lộc-dã thành Ba-la-nại, thuyết giảng tứ đế là đầu tiên. Tiếp theo, đến nước Ma-kiệt hàng phục ba anh em ông Ca-diếp. Nhân việc gọi tên vị chủ Tinh xá, liền nói là: Nên tu một pháp. Do một pháp ấy so với bốn pháp, về vị của lý không khác. Một pháp cũng đoạn trừ kiết, bốn pháp cũng đoạn trừ kiết, cùng đạt đến Niết-bàn, tức “Thù đồ mà đồng quy”. Tóm hai mươi mốt kiết diễn làm ba mươi sáu, số tuy thừa thiếu, nhưng cùng là kiết. Sự thường có trăm lẻ một, mở ra lại là tám vạn bốn ngàn. Do đấy một pháp cùng với ngàn vạn đồng là con đường đến với đạo. Do về nghĩa lý sâu xa là không khác, nên khởi đầu từ một pháp. * Không phóng dật: Là tông chỉ của một pháp. Hoặc hỏi: Giới nên ở trước. Trước phải trì giới, sau đấy mới niệm Tam Tôn. Hoặc nói: Đây là người mới học, trước niệm Tam Tôn, tức ba tự quy, nối kết ý tại Phật, Pháp, chúng Tăng, do tiếp đến là thọ giới. Theo đấy mà nói, giới nên ở thứ tư, niệm hơi thở ở sau cùng. * Giải thích: Thân tĩnh lặng, niệm khổ: Nghĩa là quán thân có ba mươi sáu vật bất tịnh, hiện rõ sự xấu, ác, để tự giác ngộ, có thể do đấy mà thành tựu đạo. Lấy gì để làm rõ? Xưa có vị Tỳ-kheo, tạo A-luyện-nhã, hành khất thực, gặp một nữ Trưởng giả, nên theo cô ta khất thực. Vị Tỳ-kheo và nữ Trưởng giả đều đoan nghiêm, xinh đẹp. Người nữ thấy Tỳ-kheo liền khởi tưởng dục. Tỳ-kheo thấy người nữ cũng dấy ý dục. Ý động khiến tay run, đưa cơm vào bát lại để rơi xuống đất. Người nữ tự cười lạ. Tỳ-kheo thấy răng của người nữ trắng, tức tự giác ngộ: Trong miệng của người nữ chỉ là xương thôi. Như Đức Phật đã dạy: Nơi thân người có ba trăm hai mươi xương, có sáu trăm đốt, bảy mươi vạn mạch máu, chín mươi vạn lỗ chân lông, một lỗ nhập, chín lỗ xuất, tiết ra chất bất tịnh, không một thứ gì đáng tham ái. Quán xét kỹ về thân người nữ với ba mươi sáu vật bất tịnh, thốt nhiên xót xa, lông tóc dựng đứng, chuyên tự nghĩ xét, liền hiểu rõ thân không, đắc đạo Tu-đà-hoàn. Lại tự niệm, nói: Ta nhân nơi người nữ nầy mà thấy pháp, tức người ấy là thiện tri thức của ta. Nay nên báo ân. Tức lại vì người nữ nói pháp quán thân vừa được tỏ ngộ, người nữ tâm mở, cũng chứng được đạo Tu-đà-hoàn. Do đấy mà nói, niệm thân là hơn hết. * Niệm tử: Là niệm người lúc phước hết, mạng chung, hiện điềm thấy địa ngục kinh sợ hết mực. Hoặc thấy ngạ quỷ, hoặc thấy súc sinh, tùy theo hành nghiệp, gắn liền với chỗ thấy đều là sợ hãi, ý muốn bỏ đi, lại bị phía đối diện dẫn dắt. Hoặc là người sẽ sinh, duyên nơi việc hội hợp của cha mẹ. Nếu mang thai là nam thì tham ái người nữ, nếu mang thai là nữ, thì lại tham ái người nam kia. Ngoại trừ tật nạn, ba sự không sai, liền được nhập thai. Đã thọ rồi, lại cho là vì mình nên có. Bảy ngày một lần biến đổi khéo léo, hơi gió như khắc, chạm, đến ba mươi tám thất mới thành hình. Nếu sinh nơi cõi trời thì có nhạc trời tiếp đón, vui thích không thù thắng tức mất tiện lợi nhỏ. Năm đường ấy hiện điềm, đều có chỗ thấy. Việc chết đó nên thuận theo, do đã nêu rõ nơi giới, suy xét sâu về vô thường, mạng sống mau chóng như ánh chớp, như bóng mây bay qua sân trước. Già, bệnh, chết ập tới, không gì là không dẫn đến thất tán. Nhớ nghĩ về sự biến đổi ấy để tự giác ngộ, nên gọi là Niệm tử. Mười niệm trước, Đức Phật tự thuyết giảng, chưa có người hỏi nên không giải thích. Mười niệm sau, Tỳ-kheo thưa hỏi, Phật lại vì họ diễn nói, nên mỗi mỗi niệm đều giải thích đầy đủ. * Tôn đệ tử: Nghĩa là năm trăm vị A-la-hán, mỗi vị đều có sở trường: Hoặc trí tuệ bậc nhất. Hoặc thần túc. Hoặc biện tài. Hoặc phước đức. Hoặc giữ giới. Hoặc biết đủ. Hoặc thuyết pháp, đều đạt được bậc nhất. * Muốn luận bàn anh trước, em sau: Là do A-nhã-câu-lân là lớn hơn hết, còn Tu-bạt là nhỏ nhất. Đây là chỗ chính yếu theo thứ bậc của pháp Phật. Nếu lấy trí thông tỏ, biết rộng làm đầu thì đấy chính là pháp của Bà-la-môn. * Nói một ngàn hai trăm năm mươi: Là nêu số lượng thường theo hầu Đức Phật. Hoặc nói: Năm trăm người: Tức lúc Phật nhận lời thỉnh của Long vương A-nậu-đạt, chỉ chọn năm trăm vị có thể tức thì tháp tùng đến cung Long vương. Vì sao? Vì suối A-nậu-đạt ấy không phải là nơi chốn dành cho hàng hữu lậu, hình tướng bị vướng mắc, có thể tới lui thuận hợp được. Thời gian Tôn giả A-nan “xuất kinh”, đã tập hợp tám vạn bốn ngàn vị A-la-hán, theo đấy mà nói, số lượng là không thể tính kể. Kinh nầy nay nêu ra bậc lớn nhất là một trăm người. Thứ nhất là thông tỏ về bốn bộ chúng. Hai trăm hai mươi vị, đều là bậc nhất. Số còn lại há lại có thể kể ra? Vị kia nói: Kinh nầy vốn có một trăm sự, Tôn giả A-nan phó chúc cho Tôn giả Ưu-đa-la, như Tăng-nhất A-hàm đã nêu, trải qua mười hai năm sau, Tôn giả A-nan Bát-Niết-bàn. Các vị Tỳ-kheo đều hành tập tọa thiền, không còn tụng tập, cho Phật có ba việc làm, tọa thiền là thứ nhất, bèn phế bỏ việc đọc tụng kinh trong mười hai năm, rồi Tỳ-kheo Ưu-đa-la lại Bát-Niết-bàn, do đấy kinh nầy bị mất chín mươi sự. Pháp nước ngoài, thầy trò truyền cho nhau, do khẩu truyền cùng giao phó, không cho phép chép thành văn. Bấy giờ, công việc truyền kinh nầy đều chỉ mười một sự mà thôi. Từ đấy nối tiếp truyền thừa chính là văn bản hiện có. Tuy nhiên, phái Tát-bà-đa không có phần Tự và sự mười một sau cùng. Kinh điển lưu truyền, trôi nổi, trải qua thời gian lâu dài, phần bị mất mát càng nhiều. Sở dĩ phải phó chúc riêng cho đệ tử nầy về Kinh Tăng Nhất: Là do vị kia được thấy từ bảy Phật trở đi, đã hợp tập riêng về Tăng-nhất A-hàm. Các vị Thánh trước, cũng đều phó chúc về kinh nầy. Do đấy, Đức Năng Nhân lúc chuyển pháp luân lại càng tinh tấn, và vị Tỳ-kheo ấy cũng thế. Lúc nầy, đệ tử của Tôn giả Ưu-đa-la tên là Thiện Giác, theo thầy thọ học, tụng Tăng Nhất đúng là được mười một sự. Tôn giả Ưu-đa-la Bát-Niết-bàn, ba Tạng hiện nay của nước ngoài đều được truyền từ Tôn giả Thiện Giác. Thầy trò cùng trao cho nhau, đến nay là không thay thế. Sở dĩ Tôn giả Ca-diếp thường gọi Tôn giả A-nan là “Đứa trẻ con”: Là do từ nhiều kiếp đến nay, ý của người cha cùng tăng thêm. Khi ấy, em gái của Tôn giả A-nan là một Tỳ-kheo-ni, nghe Tôn giả Ca-diếp nói như thế thì rất tức giận, nói: A-nan là bậc thông tuệ, hiểu biết rộng, mọi người đều trông cậy, mà Tôn giả cho là “Đứa trẻ con” sao? Tôn giả Ca-diếp bảo Tỳ-kheo-ni: Đại muội! A-nan có hai sự việc đáng xấu hổ. Vậy cớ gì mà cô phải giận? Chánh tọa A-nan đã khuyên Phật độ cho người mẹ, khiến pháp Phật bị giảm mất ngàn năm, là việc thứ nhất. A-nan có sáu mươi đệ tử, gần đây, ba mươi Tỳ-kheo đã trở về làm bạch y. Phật dạy, pháp độ đệ tử, nếu là hàng tại gia có tín tâm, đến cầu đạo thì nên “thử việc” trong bảy ngày. Nếu là hàng ngoại học tới cầu đạo, thì thời gian “thử việc” là bốn tháng. Vì sao thời gian không như nhau? Là do nơi nhà ngoại đạo, hoặc vì tâm ác muốn tìm kiếm chỗ hơn kém. Vì thế, trước cần “thử việc” để biết có chí thành hay không. A-nan thì không như vậy, có người đến cầu đạo thì độ ngay, là điều đáng xấu hổ thứ hai. Ba mươi Tỳ-kheo nầy sở dĩ hoàn tục là vì vốn nghe Tôn giả A-nan ở trong chín mươi sáu thứ đạo, là vị “Đẳng trí” bậc nhất, nên theo Tôn giả cầu được xuất gia, muốn thưa hỏi về trí ấy. Nhưng A-nan đã đã không vì họ giảng nói, do đấy không hợp với bản tâm của họ, thế là hoàn tục. Hoàn tục tất chê bai A-nan, cho là không có Đẳng trí. Độ đệ tử dụ như cá sinh con hàng ngàn ức vạn, nếu tâm niệm, liền sinh, không niệm thì hủy hoại hết. Đệ tử cũng như vậy, nếu lưu tâm dạy bảo thì thành tựu, không lưu tâm tức thối lui. Đây há không phải là điều đáng xấu hổ sao? Tỳ-kheo-ni nầy, do tâm giận dữ hướng tới Tôn giả Ca-diếp nên hiện thân bị vào địa ngục. Do Tôn giả A-nan có khuyết điểm ấy nên Tôn giả Ca-diếp gọi là “Đứa trẻ con”. Tôn giả A-nan biện bạch với việc dẫn chuyện xa xưa từng là Chuyển luân Thánh vương tên là Trường Thọ, nhận “Di giáo” của vua cha nối ngôi vua cai trị, giáo hóa muôn dân. Vì nhằm xuất gia, nên lại phó chúc cho Thái tử Thiện Quán, ủy thác chánh sự. Lần lượt cùng trao truyền, chưa từng thay đổi. Xưa do cha con tương thừa, nay thì thầy trò cùng nối nghiệp. Ngày xưa, hãy còn không làm mất giáo pháp hữu lậu, huống hồ là nay lại để mất diệu pháp chí chân sao? Tức dẫn chuyện để tự chứng minh các vị đệ tử tất có thể thọ nhận kinh điển truyền lại. * Đối với pháp nên nhớ nghĩ tôn kính: Là trong kệ trên đã nhận định về ba Tạng, bốn A-hàm, nơi phần văn xuôi lại nói: Trong một kệ mà có thể gồm thâu các pháp của ba Tạng, huống chi lại “Tăng Nhất” mà không gồm thâu các pháp sao? Sở dĩ lại nói có một đoạn kệ nầy, là do trong tâm của các Thiên tử khởi niệm: Tôn giả A-nan không thể làm kệ để thuyết pháp chăng? Vì sao lại tạo ra lời nói mơ hồ ấy? Tôn giả A-nan đã nhận biết tâm niệm của chư Thiên như vậy, nên nói với các vị Thiên tử: Giả sử số kinh được tám vạn bốn ngàn thớt voi chuyên chở đều viết bằng kệ tụng, tôi hoàn toàn có thể làm kệ tụng, huống hồ là một ít pháp mà không thể làm được sao! Là nhằm thích ứng với tâm ý của chư Thiên, nên lại dùng kệ, tụng về các pháp, khuyến dụ chư Thiên cùng các chúng sinh lợi căn, nên nghe kệ để hiểu rõ. Pháp tức chương trên đã nêu: Các ác chớ tạo Các thiện phụng hành Tự tịnh tâm ý Là chư Phật dạy. Nên nói pháp nầy có thể thành tựu ba thừa, dứt trừ ba nẻo ác, gồm thâu các quả thật, hai đời thọ nhận báo, do năng lực có hơn kém, nên dẫn khuyên để tiến tới. Tụng viết: Bậc thượng trì ba Tạng Thứ đến bốn A-hàm Hoặc thọ trì Luật tạng Tức là Như Lai bảo. * Sở dĩ gọi là báu (bảo): Là dụ như vua có kho báu, không khiến kẻ ngoài biết. Chỉ có các quan nơi nội cung cùng nhà vua đồng tâm, thì mới giao cho việc trông coi. Giới luật cũng như thế. Nếu người có thể thọ trì hai trăm năm mươi cùng năm trăm sự, thì mới trao cho họ, không thể khiến hàng Thanh tín sĩ, Thanh tín nữ bên ngoài có thể xem xét, nên dụ cho kho báu của vua. Nếu năng lực không đạt tới hai Tạng, chỉ thọ trì A-tỳ-đàm, cũng có thể hàng phục ngoại đạo, chín mươi sáu thứ đường hẹp không gì là không quy về gốc lớn. Vì sao? Vì đây là tuệ diệu không gì sánh bằng có thể quyết đoán những vướng mắc sâu xa nhất, khiến thông suốt cùng với nẻo thật. Tuy lại là năm thông trụ kiếp, nhưng chưa tránh khỏi sự chế ngự của bốn ngựa phóng nhanh. Thế nên hàng ngoại học không dám dòm ngó. Tôn giả A-nan xướng: Lời khuyên tốt đẹp nhất của mười kệ nầy chính là vì ba vạn người, trời ở đây. Ngày trước, Đức Phật mới thành đạo, nơi vườn Lộc-dã, thành Ba-la-nại, đã vì năm người như A-nhã-câu-lân chuyển pháp luân thuyết giảng bốn đế. Phật nói: Câu-lân nên biết! Đây là khổ đế, khổ tập đế, khổ tận (diệt) đế, khổ xuất yếu (đạo) đế. Là nói thẳng về bốn đế ấy. Câu-lân từ lâu đã vướng mắc về hữu, nghe nói về trí tuệ, ý cũng không tỏ ngộ, Đức Phật liền vì ông giảng nói về không: Câu-lân nên biết! Chỗ vướng mắc của bốn tuệ, tất cả đều không, cũng lại vô thường, dụ như huyễn hóa, chẳng thật, chẳng có! Câu-lân liền lãnh hội, được thấy “Đạo tích”. Bốn người kia chưa hiểu, Đức Như Lai lại quán về gốc tâm: Hai người bệnh tại tưởng chấp nơi xúc, nghĩ nhớ về tại gia, năm dục tự vui thích, luyến chấp không xả. Nên theo bệnh cho thuốc, liền giảng nói về Tam-muội vô tưởng: Chỗ tưởng của ông đều quy về diệt tận. Tưởng chấp chưa bỏ, nên bị tâm là ngựa dong ruổi phóng nhanh nơi chốn hoan lạc. Chỗ tưởng liền mở, hai người lại đắc “Đạo tích”. Hai vị còn lại, tâm thường mong sinh cõi Phạm-thiên, nơi Phạm làm vua, chỗ vướng mắc không cởi bỏ, lại do đấy thêm trói buộc, Đức Như Lai thấy rõ tâm niệm đang có, nên vì họ thuyết giảng về vô nguyện: Chỗ nguyện của ông là cầu Phạm-thiên vương, tức không thể xuất yếu, đều quy về diệt tận, là không thường còn, có thể xả bỏ chỗ mong cầu, trước hết là chọn lấy nẻo xuất yếu. Lại liền được mở bày, thành tựu “Đạo tích”. Chỗ vướng mắc của năm người đều khác, nên cởi mở không đồng. * Điều gọi là ba luân bốn đế: Là trong không, vô tướng, vô nguyện đều có bốn đế. Đế tức là quán. Định tức là chỉ. Chỉ, quán song hành là cùng đối trị bệnh si, ái trong ấm, trì, nhập. Mười hai là phá trừ mười hai nhân duyên. Thời trước, lúc Phật tại thế, vì bốn bộ chúng thuyết pháp, hoặc thuyết giảng bốn đế, hoặc thuyết giảng về sáu độ, tùy theo chỗ có thể lãnh hội được của chúng sinh được hóa độ, Đức Phật đều vì họ giảng nói rộng về vô thường v.v… Hoặc có các Quốc vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Phạm-chí, cung thỉnh cúng dường, hoặc đến thỉnh vấn. Các trường hợp có thể thuyết giảng, Tôn giả A-nan hỏi Phật: Vì sao gọi như thế? Nên nói về văn (nghe)? Nên nói về kiến? Đức Phật bảo Tôn giả A-nan: Về sau nầy, lúc vì bốn bộ chúng thuyết pháp, nên nói về văn, không được nói về kiến. Nếu nói về kiến tức là hư vọng. Vì sao? Vì văn là quá khứ đã qua. Kiến là hiện tại. Như bảy Phật quá khứ, chính có thể nói là văn, không được nói là kiến. Ông đối với việc sau nầy cũng lại như vậy. Nên nói là “Nghe như vầy”. * Ta sở dĩ ân cần phó chúc, dặn dò A-nan: Là chư Phật quá khứ tuy có thị giả, nhưng không có vị nào như Tôn giả A-nan biết rõ ý thú của Phật. Từ thời xa xưa, đã từng cúng dường hai mươi ức Phật, luôn làm thị giả, không cầu dứt hết các lậu, thường nguyện đạt được Đẳng trí, nhận biết ý thú của Phật, do đấy nên nay có được phước báo kia. Nhìn mắt thấu ý không mất phép tắc. Trong chư Phật, tinh tấn dũng mãnh, không vị nào vượt hơn Đức Thích-ca-văn. Trong số anh em, Di-lặc lẽ ra nên ở trước, nay lại đứng sau. Vì sao? Thời xa xưa, ba mươi kiếp về trước, lúc ấy có ba vị Bồ-tát cùng du hành nơi vùng núi rừng, trông thấy một con cọp đói muốn ăn thịt con nó. Một vị suy nghĩ: Cọp nầy đã là súc sinh, lại muốn ăn thịt con mình, chết tất thọ khổ, vì làm mẹ lại chẳng có lòng từ. Ta nay thân nầy, bốn đại hợp thành, rốt cuộc phải quy về nẻo chết. Phải nên dùng thân để cứu mạng các cọp con kia. Vị thứ hai không đồng ý, mới muốn đi đến chợ mua thịt dùng thay cho mạng đám cọp con. Vị còn lại suy nghĩ, nói: Nếu từ đây đến chợ, đi về thì mạng của các cọp con không vẹn toàn. Phải nên xả thân để cứu đám cọp con ấy. Liền từ nơi núi cao buông thân rơi xuống chỗ thấp, ngay vào miệng cọp mẹ. Thân vẫn an ổn, cọp mẹ không dám ăn. Sở dĩ như thế là vì, phàm nhập Tam-muội Từ, thì các vật không thể hại. Bồ-tát cố ý dùng gai tre tự chích vào thân, cọp quen mùi máu nên được ăn. Dũng mãnh như thế tức vượt qua chín kiếp, nên nay ở trước Di-lặc. Theo đấy mà nói, đạo không có trước sau, ý quyết là trước. Do đấy, Ta nay thành Phật, nên đem kinh điển để lại giao phó cho A-nan. Ông, nơi đời vị lai, xưng: Nghe như vầy. Vì sao lại nói Một thời? Là vì số lượng của ngày tháng hay là nói về tên người? Đáp: Cũng là số lượng của thời tiết. Cũng là ở nơi tên người. Hoặc nói: Lại có hai tên gọi: Hoặc Sát-đế-lợi, hoặc Bà-la-môn. Lại có hai tên gọi: Hoặc tộc họ Trưởng giả, hoặc tộc họ Cư sĩ. Hoặc tại cõi trời, hoặc tại nhân gian. Các hoặc như thế không phải là một xứ, nên cho là một thời. * Bà-già-bà: Là xưng về Đức Thế Tôn. Kiết sử đều dứt hết, không ai có thể vượt hơn nên xưng là Tôn. Chư Thiên, ba cõi đều đến quy ngưỡng, tám bộ quỷ thần cũng đều kính chủ, nên xưng là Thế Tôn. Có thể hàng phục ma, tức lại là Tôn. Chỗ xưng tụng như vậy là không thể lường tính, nên hiệu là Thế Tôn. * Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên: (Khu lâm viên Kỳ-đà – Cấp Cô Độc): Thái tử Kỳ-đà: Là con vợ cả của vua Ba-tư-nặc, có khu vườn lớn rộng tám mươi khoảnh, đất bằng phẳng, cây cối um tùm, nhiều loại chim thú, mặt trời hiện ra thì cùng tập hợp. Kỳ-đà, tâm luôn nhớ tới Phật, thường muốn dâng Phật để làm Tinh xá. Không bao lâu, Trưởng giả Tu-đạt (Cấp Cô Độc) lại tìm đến xin mua khu vườn ấy. Kỳ vốn ít có dịp thân thiện với Trưởng giả, mỗi khi vui vẻ hay đùa cợt, đùa bảo là đồng ý bán. Tu-đạt nghe được, ý quyết nên rất vui mừng, quay sang bảo người hầu mau chóng đóng ngựa vào xe, cả voi, để chở vàng tới trải kín khắp khu vườn. Kẻ hầu vâng lời, công việc được tiến hành, chỉ trong chốc lát đã đầy bốn mươi khoảnh. Thái tử Kỳ-đà nói: Thôi thôi! Tôi chỉ nói đùa mà làm thật. Không cần phải trải vàng nữa. Tu-đạt tức cùng với Thái tử đi tới chỗ vua, tâu lại sự việc. Vua bảo: Pháp không hai lời, hứa quyết đã định, lý không được hối. Kỳ-đà nói với Tu-đạt: Tôi lấy phần cây, ông thì lấy phần đất. Hai người hợp công có thể cùng lập Tinh xá. Tinh xá được dựng lên, có bảy mươi hai giảng đường, một ngàn hai trăm năm mươi phòng ốc. Xung quanh, lối đi phẳng lặng, cây trái xanh tươi, trĩu cành, suối chảy ao tắm, lạnh ấm luôn thích hợp, bốn tháng cùng bày rõ trong lành, hai mùa Đông Hạ đều không đổi. Mọi việc xong xuôi, cùng thỉnh Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn liền cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo đi đến, an trụ ở đấy, Đàn-việt cúng dường, bốn sự không thiếu. A-nan-bân-để do là quan của nước, nhường cao ở trước, thế nên các kinh thường xưng Kỳ đứng đầu. Do công đức cùng liên kết, nên tên gọi cũng không được lìa nhau, thường hợp dùng để xưng gọi. * Phật bảo các Tỳ-kheo: Vì sao không bảo với các Cư sĩ nam, nữ, chỉ bảo với các Tỳ-kheo, là vì đối với bốn bộ chúng, Tỳ-kheo là đứng đầu. Lại là chủ của việc phá ác, dùng pháp vô lậu đoạn trừ các thứ hữu lậu. Do đấy, nên trước là nói với Tỳ-kheo. Cũng gọi là Sa-môn. Sa-môn là tâm được dừng dứt. Dứt chuyển hữu dục, vắng lặng, không vướng mắc. Cũng gọi là trừ cận. Người đời đói khát nơi sắc dục. Tỳ-kheo là dứt trừ tưởng đói khát của ái dục ấy. Đức Thế Tôn thuyết pháp, Tỳ-kheo có thể thọ nhận, nhằm đoạn dứt sinh tử, đi tới cửa Niết-bàn. Vì vậy nên bảo với các Tỳ-kheo. * Nên tu hành một pháp: Nghĩa là niệm Phật. Niệm Phật là những sự việc gì? Thân Phật là kim cương không có các lậu. Nếu khi đi, bàn chân cách mặt đất bốn tấc, tướng “Thiên bức” dấu vết hiện rõ nơi đất. Dưới bàn chân, các loài trùng kiến được an ổn bảy ngày, nếu chúng mạng chung đều được sinh lên cõi trời. Xưa có một Tỳ-kheo ác, gốc là ngoại đạo, muốn giả phục tùng để phỉ báng, nên theo đường Phật đi, giết nhiều loài trùng bay đặt nơi dấu chân Phật, bảo là đạp chết loài trùng. Nhưng loài trùng tuy chết gặp chỗ có dấu chân Phật, tức thì được sống trở lại. Nếu đi vào thành ấp, bàn chân vừa giẫm lên ngưỡng cửa, thì trời đất chấn động, trăm loại âm nhạc không tấu mà tự vang lên. Những kẻ điếc mù câm ngọng, trăm thứ bệnh tật tự nhiên dứt khỏi. Ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, nếu có người trông thấy, theo bước đi được độ, công đức giáo hóa, cứu giúp không thể tính kể. Tuệ sáng tỏa chiếu, há có thể chê trách được sao! Phật là chủ của các pháp, hợp chung của muôn hành, do chuyên chở là trước tiên. Gọi là niệm Phật, về nghĩa là như thế. * Niệm Pháp là thế nào? Pháp là pháp vô lậu, pháp vô dục, pháp của đạo, pháp vô vi, là từ dục đến vô dục. Phật là chủ của các pháp. Pháp là chủ của các kiết sử. Hoặc có người hỏi: Pháp là trước hay Phật là trước? Đáp: Pháp ở trước. Làm sao nhận biết? Kinh viết: Pháp sinh ra chư Phật. Pháp sinh Phật đạo. Theo đấy mà nói thì pháp ở trước. Lại hỏi: Nếu như thế, vì sao không niệm Pháp trước, mà lại niệm Phật trước? Đáp: Pháp tuy vi diệu, nếu không người có thể nhận biết thì cũng như trong lòng đất có kho tàng chứa nhiều châu báu, không xứ nào là không có, mà bao người nghèo khổ vẫn thiếu thốn của cải, vật dụng. Như được người có thần thông chỉ rõ nơi chốn, có được châu báu mới tự cung cấp, cứu giúp kẻ nghèo thiếu. Hoặc lại hỏi: Báu là hơn hay người là hơn? Đáp: Người là hơn. Do đâu nói là hơn? Kho tàng nơi lòng đất tuy nhiều nhưng nếu không có thần thông thì chẳng thể thấy. Do người nên có được của cải, há kho báu ở trong lòng đất tự cho là quý chăng? Pháp cũng như thế. Lý tuy huyền diệu, nhưng nếu không có Đức Như Lai thì không được biện giải, nếu không có Đức Thế Tôn thì không thể thông suốt. Thế nên niệm Phật ở trước, tiếp theo là niệm Pháp. * Thế nào là niệm Tăng? Tăng là bốn hướng bốn quả, mười hai Hiền sĩ, xả bỏ mọi tham tranh của thế tục, mở phước dẫn đầu, thông đường trời, người, không gì là không do đấy, tức là ruộng phước tốt đẹp bậc nhất của chúng sinh. Lấy gì để làm sáng rõ chúng Tăng là ruộng phước tốt đẹp? Ngày trước, có một Tỳ-kheo phước mỏng tên là Phạm-ma-đạt, ở trong chúng một ngàn hai trăm năm mươi vị khiến chúng Tăng không được thọ thực, mà không biết ai có lỗi. Đức Phật liền phân chúng Tăng làm hai bộ, trong một bộ lại khiến một bộ phận không được ăn. Lại phân một bộ phận nầy làm đôi, một nửa khiến theo nửa kia, lại khiến nửa nầy không được ăn. Như vậy lần lượt phân nửa, cho đến hai người cũng không được ăn. Rốt cuộc, còn chỉ riêng một người mới nhận biết kẻ vô phước. Ở chỗ hành thì có thức ăn, tiếp đến nơi bát thì tự nhiên tiêu mất. Phật thương xót ách nạn nầy nên tự tay trao cho thức ăn, ngay trong bát, do thần lực chế ngự nên thức ăn không bị biến mất nữa. Phật muốn khiến cho Tỳ-kheo kia thân hiện tại có được phước, nên khiến hai Tỳ-kheo nhập định diệt tận ở hai bên Tỳ-kheo kia, dùng thức ăn thí cho hai Tỳ-kheo hành định diệt tận. Phàm hành Tam-muội diệt tận đều tức thì được phước. Tiếp theo, khiến hai Tỳ-kheo ở hai bên nhập Tam-muội Từ. Rồi khiến cả hai nhập Tam-muội Bi, Hỷ, Hộ (Xả), mỗi mỗi thứ đều thay khắp khiến thực hiện xong bốn tâm vô lượng. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc, nghe Tỳ-kheo ấy phước mỏng, Phật đã thương xót ban cho thức ăn, nên nghĩ: Ta nay cũng nên vì vị ấy tạo phước. Liền sai kẻ hầu lo việc giã gạo cho trắng. Lúc ấy, có một con quạ bay tới tha một hạt gạo bay đi. Kẻ hầu vua trách cứ: Nhà vua đã vì Tỳ-kheo Phạm-ma-đạt tạo phước, mày vì sao lại tha gạo đi? Quạ liền mang hạt gạo trả lại chỗ cũ. Sở dĩ như thế là vì Tỳ-kheo nầy đã nhờ phước lực của chúng Tăng, do đấy các thứ chim thú không thể xâm hại. Dùng sự việc ấy để chứng tỏ, biết chúng Tăng là phước điền tốt đẹp. Do đã tự độ, lại có thể độ người đến đạo ba thừa. Pháp niệm chúng Tăng, về nghĩa là như thế. * Tiếp đến là niệm giới: Về nghĩa là thế nào? Từ năm giới, mười giới, hai trăm năm mươi giới, đến năm trăm giới, đều là để cấm chế thân miệng, ngăn chận các thứ tà vạy, sai trái, điều phục sáu căn, dứt các niệm dục, bên trong biểu hiện thanh tịnh là ứng hợp với giới tánh. Xưa có hai Tỳ-kheo cùng đi đến trú xứ của Phật, trên đường phải đi qua vùng đầm rộng khô hạn, không có nước uống, chỉ còn một vũng nước nhỏ, trong nước ấy đầy những trùng. Một Tỳ-kheo suy nghĩ sâu xa về giới luật, lấy việc không phạm làm đầu, nếu uống nước nầy là giết hại rất nhiều mạng sống. Ta thà giữ toàn giới mà bỏ mạng, cũng không ân hận. Thế rồi mạng chung, liền được sinh lên cõi trời. Tỳ-kheo kia thì tự nghĩ: Phải nên uống nước để bảo toàn mạng sống mới có thể đi đến chỗ Phật. Đâu biết Tỳ-kheo bạn, sau khi qua đời, sinh nơi xứ nào. Tức uống nước có trùng, hại rất nhiều trùng, tuy được thấy Phật nhưng cách giáo pháp của Ngài rất xa. Tỳ-kheo nầy khóc lóc, hướng về Phật, tự thưa: Đồng bạn của con đã mạng chung. Phật chỉ tay lên trời, bảo: Ông biết vị trời nầy chăng? Đấy là bạn của ông. Do công đức giữ giới, nên sau khi mạng chung liền được sinh lên cõi trời, nay lại có mặt ở đây. Ông tuy được thấy Ta, nhưng lại cách Ta rất xa. Tỳ-kheo nầy tuy đã qua đời, nhưng luôn ở nơi chỗ Ta. Ông nay đến đây thấy Ta, nhưng thật sự là chỉ thấy nhục thân của Ta, đâu biết được diệu giới chí chân! Do đấy mà nói, trì giới không phạm thì sở nguyện đạt được. Trong mười niệm, thì giới ở trước, còn theo sáu độ mà nói, thì thí đứng trước. Sở dĩ trước sau không đồng, vì trong mười niệm, giới là giới của hàng Thanh-văn, pháp của hàng Thanh-văn lấy việc kìm chế, điều phục thân là trước tiên, thế nên giới đứng trước. Pháp của hàng Đại sĩ lấy tuệ thí làm trọng. Vì sao? Vì phàm là hàng Đại sĩ sinh trong cõi trời người, tâm luôn nhớ nghĩ đến việc tế độ, tạo lợi ích. Chính yếu của việc tế độ, tạo lợi ích, nếu không thí thì chẳng cứu. Phàm là chúng sinh sinh sống, thì thức ăn, y phục là trước hết. Nên dùng tài thí để trước cứu giúp về thân xác, sau đấy dùng pháp để thâu phục, dẫn dắt về tinh thần. Do vậy hàng Đại sĩ lấy thí làm trước. Giới có hai: Có giới của tục, có giới của đạo. Năm giới, mười thiện là giới của tục (thế gian). Ba Tam-muội là giới của đạo (xuất thế gian). Hai trăm năm mươi giới, đến năm trăm giới cũng là giới của tục. Diệu tuệ của bốn đế là giới của đạo. Chỉ hành giới an, không ra ngoài ba cõi. Dùng tuệ dẫn dắt giới khiến thành vô lậu mới hợp giới của đạo. Giới của hàng Thanh-văn dụ như hoa để trên đầu gối, có động tức rơi ngay. Giới của hàng Đại sĩ dụ như hoa cài trên đầu, đi đứng chẳng động. Vì sao? Vì Tiểu thừa bó buộc về hình tướng, động tức vượt oai nghi. Đại sĩ thì thống lãnh tâm, không câu nệ phép tắc bên ngoài. Khuôn mẫu của Đại, Tiểu có dị biệt, do hình tướng, nội tâm làm khác. Ngoài, trong tuy khác nhưng cùng đi tới Niết-bàn, nên gọi là niệm giới. * Niệm thí sở dĩ đạt được Niết-bàn: Là do thí có tài thí, pháp thí. Nhân nơi tài thí mà đạt được pháp thí, thành tựu Đàn độ vô cực (Thí Ba-la-mật) nên được đến Niết-bàn. * Niệm thiên: Là thiên (trời) của ba cõi Dục, Sắc, Vô sắc. Thiên có hai loại: Thiên có thọ phước và thiên có đạo đức. Các thiên Tu-đà-hoàn của cõi Dục, vĩnh viễn lìa ba nẻo ác, tiến lên chốn đạo. Thiên của tám Tịnh cư thuộc sắc giới, không giới, tăng tu chỉ, quán, tiến thành vô lậu, tức Niết-bàn kia không trở lại thế gian. Thiên phàm phu: Là mười thiện, bốn thiền, bốn không, nơi cõi ấy thọ phước, phước hết, trở lại rơi vào nẻo lưu chuyển không dừng. Gọi là niệm thiên, là niệm các vị thiên đắc đạo kia, chuyên tâm học theo chư vị, kính ngưỡng nẻo hành, ý không dong ruổi phân tán, cũng đạt tới Niết-bàn. Nên gọi là niệm thiên. * Niệm dừng dứt: Nghĩa là tưởng của tâm ý dứt, năm dục không khởi. Vắng lặng, hoàn toàn định, nên gọi là dứt. Dứt cũng có hai thứ: Phạm-chí của ngoại đạo trói buộc thân hình cầu phước, cũng cho là dứt. Bốn quả Sa-môn, các kiết vĩnh viễn tiêu trừ, mới là dứt chân thật. Do đâu nhận biết như thế? Xưa có vị Tỳ-kheo tên Tu-la-đà, đi đến thành Xá-vệ, giáo hóa khắp chốn. Lúc đó, phía Tây thành Xá-vệ là xứ của Ương-quật-ma có thể giết hại người. Đất bằng phẳng, rộng rãi, có nhiều cây cối. Bấy giờ, có một Phạm-chí đang tọa thiền dưới một bóng cây không ăn năm thứ lúa thóc, chỉ ăn các thứ trái cây, cỏ, nếu không có trái cây thì ăn cỏ rau, để tinh khí được nối tiếp. Thân mặc áo lá cây, hình tướng ốm gầy, giảm thiểu để tự chống giữ. Khi ấy, Tu-la-đà đi ngang qua, từ xa trông thấy, cho là Đạo sĩ, bèn ngồi thiền, quán dò thử biết tâm của vị kia là định chăng? Thấy tâm của kẻ ấy vốn là cầu làm Quốc vương xứ nầy, nên nghĩ: Đây là tên giặc lớn chăng? Đang muốn bỏ đi, e về sau lại rơi vào tội lỗi. Đang muốn giáo hóa, nhưng ắt là không theo lời ta, nên tạo phương tiện để độ người nầy. Bèn đi tới bên một gốc cây tọa thiền, cách vị kia không xa, trải qua bảy ngày chẳng hề dao động. Sau bảy ngày, Tu-la-đà đứng dậy, đi đến trước Phạm-chí, búng ngón tay cho biết, nói: Đồng bạn thấy trong người thế nào? Hồi lâu, Phạm-chí mới từ từ ngẩng đầu, đáp: Kẻ nghèo thiếu đâu có gì để cùng trao cho nhau. Tỳ-kheo lại bảo: Tôi nay sẽ trao cho ông một vật. Liền hóa ra một con gà. Ông có thể giết con gà nầy để ăn. Phạm-chí kinh sợ nói: Đến loài chấy rận tôi hãy còn không giết hại, huống hồ là sẽ giết con gà nầy sao? Tỳ-kheo bảo: Bản tâm của ông chính là muốn giết hại vô số người, nay giết một con gà nầy thì đâu đủ để nói. Phạm-chí lại bảo: Tôi vì sao lại giết hại vô số người? Tỳ-kheo đáp: Ông vào lúc ngồi thiền, bản tâm chính là muốn cầu làm Quốc vương xứ nầy. Làm vua, cai trị, mỗi ngày có thể giết bao nhiêu người, sao bảo là không giết? Con gà nầy tức là phần thức trong tâm của ông. Gà mới có thể đắc đại đạo vô vi, chứ không phải làm vua mà đạt được. Phạm-chí liền tư duy: Tỳ-kheo nầy đã nhận biết tâm niệm ta, tất là Thánh nhân, nên đi theo giáo pháp của vị ấy. Tỳ-kheo lại vì Phạm-chí giảng nói pháp, liền chứng đắc quả Tu-đà-hoàn. Phạm-chí nầy thân hình tuy tĩnh nhưng tâm không dừng dứt. Tự giết được con gà thức rồi mới có thể gọi là dừng dứt. Nên tiếp sau, giải thích, gọi là tưởng của tâm ý dứt. * Niệm thân: Là quán thân có ba mươi sáu vật bất tịnh, bày rõ sự xấu ác. Niệm xét đúng đắn, không loạn, cũng chứng đắc Niết-bàn. Do đâu biết được? Xưa có vị Tỳ-kheo tạo lập A-luyện-nhã, thường hành khất thực, thọ thực nơi bờ sông, xong thì rửa bát. Bấy giờ, bên bờ vùng thượng lưu sông là một nghĩa địa, có người nữ mới chết, gió thổi tóc trên đầu hốt nhiên rơi trong bát. Tỳ-kheo dùng tay cầm lấy mớ tóc ấy, xem kỹ là hết sức mượt mà, tâm miệng riêng nói: Nếu là đuôi ngựa thì đuôi nầy rất nhỏ. Nếu là tóc của người nam thì lại càng nhỏ mịn. Nếu buộc lại không bung ra thì tất là tóc người nữ. Tức liền buộc lại, không bung ra, nên sinh nghĩ tưởng: Người có tóc như thế ắt là xinh đẹp. Mặt như sắc hoa đào, mắt như hạt ngọc sáng, mũi như ống trúc chuốt gọn, miệng như ngậm son, mày ngài má phấn. Tạo sự phân biệt như vậy rồi, liền khởi tâm dục, theo dòng nước tìm cầu, tưởng sẽ thấy một nhan sắc cho bõ công sức, nhưng chỉ thấy một người nữ bị chồn sói ăn mất một nửa, thân hình thối rữa, riêng tóc vẫn còn. Cầm tóc so sánh thì ngắn dài tương tợ, tưởng dục vừa có tự dưng tiêu tan. Tỳ-kheo lại quán lần nữa, suy xét, phân biệt: Người nầy lúc còn sống hình dung đẹp đẽ, nay thì tan hoại, ai cũng thấy rõ. Ta vừa khởi tưởng chỉ muốn tham thân ái dục, nên sinh niệm ấy. Thân kia đã như vậy, thân ta khác gì? Xét kỹ về thân nầy là bốn đại hợp thành, phước hết duyên lìa, tự nhiên tiêu tán. Thấy chuyển, tâm ngộ, tức đắc Tu-đà-hoàn. Do đấy mà nói, niệm thân đạt quả Sa-môn. * Niệm về chết: Là niệm về hành nhân, mạng sống trôi đi không dừng, các căn hư hoại, như cây gỗ mục, mạng căn đoạn dứt, nên nhớ nghĩ về vô thường để tự giác ngộ. Xưa có Tỳ-kheo tên Bà-cát-lê, hành đạo tọa thiền, trải qua nhiều năm mà hữu lậu chẳng trừ. Tự lo về thân mình, cho là lụy lớn, mỗi khi tư duy, tự ghét bỏ: Sở dĩ con người không chứng đắc được đạo vô thượng chính là vì thân nầy lưu chuyển triền miên, biết lúc nào có thể dứt? Tức dùng tay cầm dao sắp sửa tự đâm vào cổ. Lại tư duy lần nữa: Đức Thế Tôn có dạy khuyên: Các đệ tử không được tự sát hại. Tuy vậy, ta nay muốn cầu Niết-bàn, trong Niết-bàn không có thân, do đó trước trừ bỏ thân, chính là chọn lấy giải thoát. Bèn đưa dao lên tự đâm vào cổ, đầu cũng rơi, tim cũng thủng, tức đắc A-la-hán. Đức Phật biết Tỳ-kheo kia đắc đạo, nên sai các Tỳ-kheo hỏa táng thi thể. Vì thế, niệm về chết cũng đạt Niết-bàn. Mười niệm trước Đức Phật giảng nói chung, vì các chúng sinh lợi căn. Sau lại nói lần nữa, vì các chúng sinh độn căn, nên đã giải thích rõ về nghĩa. * Danh dự: Là về sau được làm Chuyển luân Thánh vương. * Được quả báo lớn: Là về sau được làm Thiên Đế-thích. * Các thiện khắp nơi cùng đến: Là về sau được quả báo Phạm-thiên. * Được vị cam lồ: Là về sau được quả Phật Bích-chi. * Đến xứ vô vi: Là về sau đạt được quả A-la-hán. Trên nói mười niệm không có năm câu nầy. Nay sở dĩ thêm các quả báo, là muốn làm rõ về lý thâm diệu của nghĩa niệm Phật. Phật nói: Các đệ tử Bát-Niết-bàn đều do sự đền trả của túc duyên, đối nhân mà giữ lấy Niết-bàn. Tôn giả Mục-kiền-liên bị đánh đập. Tôn giả Xá-lợi-phất bị đau đường ruột. Như thế, năm trăm vị đệ tử của Đức Phật đều do túc duyên mà giữ lấy diệt độ, chỉ có Tôn giả A-nan nhập Niết-bàn là tốt đẹp hơn hết. Lúc Tôn giả A-nan sắp vào Niết-bàn, trước hiện điềm lành là ánh sáng. Có Phạm-chí theo Tôn giả A-nan học toán thuật, thấy sắc diện của Tôn giả phát sáng, liền báo với vua A-xà-thế: Tôn giả A-nan sắc diện khác thường, là sắp sửa Bát-Niết-bàn chăng? Vua liền sai người đi tìm Tôn giả A-nan. Tôn giả lúc nầy đã dẫn năm trăm đệ tử đi đến quãng giữa trên bờ sông Hằng, lên thuyền sắp qua sông, vừa ra giữa dòng, người của vua A-xà-thế cũng đã tới bờ. Tỳ-xá-ly biết Tôn giả A-nan tới cũng khiến năm trăm Đồng tử nghinh đón. Muốn vừa ý cả hai nước, nên Tôn giả A-nan dùng thần lực chế ngự thuyền khiến đứng yên giữa sông. Lúc nầy, đệ tử được độ, một người tên Ma-thiền-đề, người thứ hai tên Ma-thân-đề, Tôn giả A-nan bảo Ma-thiền-đề: Ông đi tới nước Yết-tân hưng khởi pháp Phật, đất ấy chưa có chánh pháp, khéo làm cho pháp Phật truyền bá rộng khắp. Lại bảo Ma-thân-đề: Ông đi đến nước Sư-tử-chử hoằng dương làm cho Phật pháp hưng thịnh. Dặn dò như vậy xong, Tôn giả hiện mười tám thần biến, phát ra lửa thiêu thân, ở giữa phân Xá-lợi, khiến hai nước đều được cúng dường. Đây là do diệu lực của niệm Phật, nên được tự tại. HẾT - QUYỂN 2 LUẬN PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC QUYỂN 3 * Đức Phật nói với các Tỳ-kheo: Đức Phật là bậc Đại từ, muốn khiến cho các đệ tử nhận biết đầy đủ về nghĩa của niệm Phật. Cũng như người cha dựa theo lời khuyên răn để dạy bảo con cháu, nhằm khiến chúng thành tựu, không nhằm báo đáp cho mình. Đệ tử đã chuyên tinh niệm Phật, quán hình tướng của Như Lai mắt chưa từng rời. Cũng như Tôn giả A-nan quán Phật không chán, tâm niệm không dừng. Lúc nầy, Tôn giả A-nan trên lưng sinh mụt nhọt, Đức Phật sai Kỳ-bà chữa trị. Kỳ-bà bạch Phật: Không dám chạm tay lên lưng Tôn giả A-nan. Đức Phật bảo Kỳ-bà: Chỉ chữa trị, chớ nghi. Tự Ta sẽ vì Tôn giả A-nan thuyết pháp, khiến không còn biết đau. Đức Như Lai khiến Tôn giả A-nan luôn chiêm ngưỡng tướng hảo của Phật, Phật vì Tôn giả mà thuyết pháp. Thân Như Lai là thuộc về kim cương không thể hủy hoại. Ba ngàn hai trăm công đức của phước báo tạo thành, Tôn giả A-nan mắt nhìn không biết mỏi, tai lắng nghe không biết chán, tâm nhớ nghĩ không buông. Bấy giờ, Kỳ-bà phá vỡ mụt nhọt trên lưng Tôn giả A-nan rồi bôi thuốc. Đức Phật hỏi Tôn giả A-nan: Ông có thấy đau trên lưng không? Tôn giả A-nan thưa: Không thấy đau. Không thấy đau là do niệm Phật. Mười lực tạo thành cùng bốn vô sở úy. Xưa, có vị Trưởng giả dẫn theo kẻ hầu nữ đi lễ Thâu-bà (Tháp), đọc: Nam-mô Đức Thế Tôn mười lực! Kẻ hầu nữ đứng sau lễ, đọc: Nam-mô Đức Như Lai mười một lực. Trưởng giả bảo: Như Lai chính là có mười lực, vì sao lại đọc mười một? Kẻ hầu nữ thưa: Mười một lực lại có trở ngại gì sao? Chỉ không nên nói chín lực. Nói mười một lực là thêm một lực, đâu có lỗi lầm gì. Ông Trưởng giả im lặng trở về nhà. Lại hỏi các vị Pháp sư: Đức Như Lai có bao nhiêu lực? Đáp: Hoặc có ba lực. Hoặc có mười lực. Hoặc nói là vô số. Theo đấy mà nói thì không hạn định nơi mười chăng? Trưởng giả liền xuất gia học đạo, cho kẻ hầu nữ khỏi hầu chủ nhà. Nói bốn chẳng phải là không đủ. Nói vô số chẳng phải là có thừa. Hợp thời, ứng vật, không có lượng cố định. * Niệm Pháp: Từ dục đến không dục. Từ dục đến đạo. Từ lậu đến vô lậu. Từ hữu vi đến vô vi. Do đâu nhận biết như thế? Ngày trước, Đức Thế Tôn ở tại nước của vua Ưu-điền thuyết pháp, giáo hóa. Bấy giờ, Đức Thế Tôn lên cõi trời Ba Mươi Ba (Trời Đao-lợi) vì mẹ là Ma-da, thuyết pháp, chín mươi ngày mới trở về trần gian, từ nơi phía Bắc thành Ca-thi đi xuống. Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-liên-hoa tâm niệm muốn riêng mình được thấy Phật trước. Các vị Quốc vương không trông thấy Phật đã chín mươi ngày, đều có tình cảm khao khát, ngưỡng mộ, nên cùng tề tựu đông đủ. Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-liên-hoa suy nghĩ: Ta là Tỳ-kheo-ni, không nên ở trong chỗ đông đảo, ồn ào nầy. Cần tạo ra phương tiện thích hợp để được đón Phật trước. Liền hóa làm vị Chuyển luân Thánh vương, đám tùy tùng đều đúng theo pháp của Thánh vương. Các Tiểu vương quốc trông thấy Thánh vương thảy đều tự tránh xa. Tỳ-kheo-ni liền hiện trở lại hình tướng như trước, gặp Phật, lễ bái, vấn an. Các vị vua đều đến yết kiến Đức Phật, không còn thấy Chuyển luân vương, mới biết là do Tỳ-kheo-ni nầy hóa ra, bèn nói: Điều trông thấy vừa rồi là lừa dối như thế chăng? Lúc nầy, Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-liên-hoa tâm niệm tự cho mình là người thấy Phật trước nhất. Đức Phật bảo Ưu-bát-liên-hoa: Cô tự cho mình là người thấy Phật trước tiên, nhưng lại có người thấy Phật trước cô đấy. Cô biết rõ là vị nào chăng? Đức Phật nói: Nơi mé núi phía Đông thành La-duyệt (Vương-xá), Tôn giả Tu-bồ-đề đang vá y ở đấy. Có vị trời báo cho biết: Đức Phật đã trở lại trần gian. Tu-bồ-đề nói: Tôi là đệ tử, theo pháp là phải đi đến lễ bái, thưa hỏi. Lại tự tư duy: Phật hiện ở tại chốn nào? Hoặc sắc vàng óng là Phật chăng? Vàng lại có hạn lượng nào? Đức Phật đã dạy: Tất cả các pháp là không, là vô sở hữu, nếu hiểu rõ mười hai nhân là không, không tạo, không tác, không người, không sĩ phu, không thọ mạng, không kẻ thọ mạng, tức là thấy pháp. Thấy pháp không mạng, chẳng phải là mạng là thấy ta. Liền chấp tay, đọc: Bà nam! Đúng là như thế! Liền ngồi trở lại để vá y. Theo đấy mà nói, Tu-bồ-đề là người thấy Phật trước cô! Phật là chủ của các pháp. Hiểu rõ pháp không tức là niệm Pháp. * Niệm Chúng (Tăng): Là chúng Hiền Thánh. Phàm là chúng, tức có từng ấy loại. Chín mươi lăm thứ ngoại đạo, mỗi thứ cũng đều có chúng. Hoặc có thứ hòa hợp. Hoặc có thứ chẳng đồng. Cũng dùng giới luật để tự ngăn cấm. Hoặc hành thiền định. Hoặc cho vô tưởng là vi diệu tột bậc. Đều tin nơi việc làm của mình, tự cho là chân thật. Song không đạt được bát Thánh đạo phẩm đích thực, do đấy không thể đạt đến Niết-bàn. Tuy lại có kẻ chứng đắc năm thông, sống lâu cùng nhập vô tưởng kéo dài hàng kiếp, đều không tránh khỏi sinh tử. Chỉ có Thánh chúng của Như Lai gồm các vị đã đắc bốn hướng bốn quả là không còn bị bốn thứ nhanh chóng (bốn Bộc lưu?) làm cho nổi trôi, chín thứ dứt dừng khiến cho tan tác. Nên kinh nói: Chín mươi sáu thứ Tăng, Tăng của Đức Phật là chân thật hơn hết. Bốn bộ chúng của Như Lai đều là đồng Thích chủng. Dụ như bốn dòng sông Hằng đều có riêng năm trăm nhánh, đều hợp nhập nơi biển cả để cùng một vị. Chúng cũng như thế. Có người là chủng tộc Sát-đế-lợi. Có người là chủng tộc Bà-la-môn. Có vị là chủng tộc Trưởng giả, Cư sĩ. Trong bốn chủng tánh, có người xuất gia học đạo đều đồng là Thích chủng, là một họ, không có các tên gọi riêng như thế. Do phạm vi bao quát càng xa, nên về nghĩa càng sâu rộng. Chúng Tăng chính là đều thọ nhận nơi ba thừa. Tăng A-la-hán cũng xuất sinh từ đấy. Hàng Duyên giác cũng ở trong đó. Tăng Đại thừa cũng vậy. Thế nên gọi là ruộng phước tốt đẹp bậc nhất. Cứu giúp chúng sinh trong ba cõi, không gì vượt hơn loại “Ruộng đất” tốt đẹp ấy. Đức Như Lai tuy đã thành Chánh giác, vẫn thường hướng trở lại đến chúng Tăng để sám hối. Là do “đất” của Tăng dày, nặng. Ba đời chư Phật, Duyên giác, Thanh-văn, không bậc nào là không do Tăng mà được diệt độ. Cũng như Tỳ-kheo Phạm-ma-đạt, nhờ nơi Thánh chúng mà được cứu độ vẹn toàn. * Niệm giới: Nghĩa là hành trì giới tịnh gồm thâu các luật nghi. Cũng như người thợ gốm sử dụng các thứ đất thó, bùn v.v… tạo thành những đồ chứa đựng lớn nhỏ, vuông tròn, đều thích hợp với sự mong muốn của người tiêu dùng. Giới cũng như vậy. Hoặc nguyện sinh thiên, thọ phước của ba cõi. Hoặc muốn đoạn trừ kiết cầu đạo, sở nguyện đều hợp ý. Giống như chiếc bình Cát tường, tùy theo ý muốn của người giữ lấy, tức được như ý. Dùng giới làm gốc, hành trì luôn ba mươi bảy phẩm và các Tam-muội, định, đoạn bảy sử, chín kiết, tiến đến thành Niết-bàn, dụ như đất thó thành đồ đựng, không thể bị hư hoại nữa. * Niệm thí: Tức thí có hai sự: Hoặc có chủ thí, hoặc không chủ thí. Lại có hai thí: Một gọi là cho. Hai gọi là xả. Lại có hai thí: Một là của cải. Hai là giáo pháp. Cho tức là thí có chủ. Xả là thí không chủ. Xả tức là xả bỏ kiết. Cho tức người trước mặt thọ nhận của cải, giáo pháp. Sở dĩ thí đạt đến Niết-bàn: Là nếu lúc cho người của cải, giáo pháp, tâm không mong cầu quả báo, không chấp mình, người, do ba sự vô ngại tức đồng với giải thoát. Hoặc có thể xả bỏ kiết, cũng là Niết-bàn. Xả, cho cùng đạt đến Niết-bàn. Cũng như chú voi tuân theo đứa trẻ mạnh mẽ, tiến tới cùng thối lui. Nếu cả hai được thịt, tiến tới thì phá trừ quân binh, thối lui thì mất việc ăn thịt, tất nhiên là thế. * Niệm thiên: Có ba loại thiên (trời): Có Thiên cử, có Thiên sinh, có Thiên thanh tịnh. Thế nào là Thiên cử? Nghĩa là Chuyển luân Thánh vương, được mọi người suy cử. Sở dĩ gọi là thiên: Là do Thánh vương có mười thiện giáo hóa ở đời, khiến người đều sinh thiên. Vì ở trên con người nên gọi là Thiên. Hoặc có người nói: Thánh vương hơn Phật. Do đâu mà nói như thế? Vì Thánh vương trị đời, người không bị đọa vào đường ác. Lúc Phật xuất hiện nơi thế gian, ba đường ác không dứt. Do đấy nên là hơn. Hoặc lại có thuyết nói: Phật hơn Thánh vương. Sở dĩ nói hơn là vì Thánh vương dùng mười thiện giáo hóa ở đời, không hơn người, trời. Phật xuất hiện, giáo hóa thế gian đạt đến Niết-bàn. Do đấy nên là hơn. Thế nào là Thiên sinh? Là từ bốn Thiên vương cho đến hai mươi tám cõi trời, những người thọ nhận phước, đều là Thiên sinh, do đó nói Thiên sinh. Lưu chuyển không dứt, chẳng lìa sinh tử, nên gọi là Thiên sinh. Thế nào là Thiên thanh tịnh? Là ba bậc Phật, Duyên giác, Thanh-văn, đều dứt hết kiết sử, ra khỏi ba cõi, thanh tịnh không dục, nên nói là Thiên thanh tịnh. Tám Tịnh cư thiên: Là vượt hơn Thiên sinh, Thiên cử, không bằng xứ thanh tịnh, ở khoảng giữa ấy, là chỗ kính mộ của người niệm thiên. Nhân niệm về sinh, cử, cũng có lý đạt đến Niết-bàn. Vì sao? Chuyện kể trong thành Xá-vệ có đôi vợ chồng là Thanh tín sĩ (Ưu-bà-tắc) không có con cháu, cả hai đều tinh tấn, tâm luôn nhớ nghĩ đến Tam bảo. Bấy giờ, người vợ mất sớm, được sinh lên cõi trời Tam Thập Tam, làm thiên nữ, nhan sắc tuyệt trần, trong cõi trời ít ai sánh bằng. Thiên nữ nầy tự suy nghĩ: Chồng của ta đang làm gì? Bèn dùng thiên nhãn xem xét thế gian, thấy người chồng cũ của mình đã xuất gia học đạo, do tuổi cao trí kém, chỉ chuyên tin tưởng mà thôi, công việc thường làm là dùng chổi quét dọn tháp miếu. Thấy sự siêng năng ấy, lý nên sinh thiên, tất trở lại làm chồng mình. Lúc nầy, người chồng cũ đang ở tĩnh thất, ngồi một mình suy nghĩ, bất chợt có ánh sáng hiện ra, cho là điều lạ, nên ngẩng đầu lên nhìn, thấy có thiên nữ, liền hỏi nàng là ai, từ đâu đến? Thiên nữ đáp: Tôi từ nơi cõi trời Ba Mươi Ba tới đây, vốn là vợ của chàng, nay là thiên nữ. Trên cõi trời ấy, không ai nhận làm chồng tôi. Xem thấy chàng luôn tinh tấn với công việc, nên trở lại làm chồng tôi. Vì thế nên đến đây để nêu bày ý mình. Nói xong, hốt nhiên biến mất, quay trở về cõi trời. Từ đấy trở về sau, người Tỳ-kheo già càng thêm siêng năng, lại gồm luôn việc tu bổ tháp miếu cũ, sớm chiều không biếng trễ. Do tích chứa công sức, khiến phước đức càng hơn, nên được sinh lên cõi trời thứ tư là Đâu-suất. Thiên nữ lại dùng thiên nhãn xem xét, thấy người chồng cũ được sinh nơi cõi trời Đâu-suất, lại đi tới, bảo: Chàng tích chứa tinh tấn, nên đã vượt qua cảnh giới của tôi. Tôi lại không có được chàng để làm chồng. Nói xong liền lui gót. Tỳ-kheo nầy lại càng tinh tấn, hơn cả thời gian trước. Ngày thì kinh hành, đêm thì tọa thiền, tâm ý chuyển sáng, tư duy về bốn đế. Như vậy không lâu, bèn chứng đắc A-la-hán. Đó là nhân niệm thiên mà đạt đến Niết-bàn. * Niệm dừng dứt: Nghĩa là đạt được định. Dừng dứt có hai: Có dừng dứt của thế tục. Có dừng dứt của đạo. Dừng dứt của thế tục: Cũng như hành tác mệt nhọc để dứt bỏ biếng nhác, nhưng an trụ rất nhỏ. Dừng dứt c |