ĐẠI TẠNG KINH TUỆ QUANG

25,釋經論部,1513 , 3,能斷金剛般若波羅蜜多經論釋 ,【無著菩薩造頌 世親菩薩釋 唐 義淨譯】

Tập 25, Thích Kinh Luận Bộ ,số 1513 , 3 quyển, Năng Đoạn Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh Luận Thích , [ Vô Trước Bồ Tát tạo Tụng Thế Thân Bồ Tát Thích Đường Nghĩa Tịnh dịch ], Nguyên Huệ Việt dịch
 

 
 

SỐ 1513/3

LUẬN THÍCH KINH NĂNG ĐOẠN KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

Bồ tát Vô Trước viết tụng.

Bồ tát Thế Thân giải thích.

Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp Nghĩa Tịnh.

QUYỂN 1

Kinh nầy: Văn, câu nghĩa, thứ lớp

Đời không minh tuệ, không thể hiểu

Đảnh lễ bậc ấy dạy chúng con

Công đức vô biên sinh khởi thân.

Đủ đức như đây nên lễ kính

Dấu chân hoằng hóa dốc phụng trì

Biết rõ nẻo vận hành chánh pháp

Tâm cầu lợi khắp mọi hàm thức.

* Kinh viết: Có thể đem lại lợi ích tối thắng. Đây là căn cứ vào các Bồ-tát đã thành thục. Có thể tạo được sự phó chúc tối thắng. Đây là căn cứ vào các Bồ-tát chưa thành thục. Thế nào là lợi ích tối thắng đối với các Bồ-tát? Lại, những gì là phó chúc tối thắng? Đáp lại câu hỏi ấy, tụng viết:

Lợi ích thắng, nên biết

Nơi thân cùng quyến thuộc

Đạt, chưa đạt, không thối

Là phó chúc tối thắng.

Nghĩa là ở trong thân Bồ-tát, vì lợi ích kia, nên cũng có thể khiến Bồ-tát ấy tạo lợi ích cho quyến thuộc, bạn bè hiện có, gọi là lợi ích tối thắng. Ở trong thân đó, khiến pháp Phật được thâu hợp thành thục, tức là tạo lợi ích cho thân. Cũng khiến việc hóa độ các hữu tình khác, nhng người có thể kham nhận hiện có đều thành tựu, là đối với người thân thuộc có thể đạt được lợi ích. Nên biết như thế.

Nơi các công đức hiện có, đạt được, chưa đạt được, có thể vì họ tạo nhân không thối chuyển. Do đối với thiện hữu đã hết lòng phó thác. Đó gọi là đem sự phó chúc thù thắng mà cùng phó chúc. Ở đây, đạt được mà không thối chuyển: Là nhằm khiến không xả bỏ Đại thừa. Chưa đạt được nhưng không thối chuyển: Là khiến đối với Đại thừa, càng hướng tới nẻo thù thắng.

Các hữu tình phát tâm hướng đến thừa Bồ-tát, nên trụ như thế nào? Để đáp lại câu hỏi ấy, tụng nêu:

Nơi tâm rộng, hơn hết

Tột cùng, không điên đảo

Lợi ích, chốn ý lạc

Thừa nầy công đức đủ.

Đây là nêu rõ về nghĩa gì? Nếu Bồ-tát tạo bốn thứ ý lạc lợi ích ấy, khởi đầu là trụ phát tâm, đối với Đại thừa có đủ ý lạc đó, mới có thể gọi là công đức viên mãn.

Những gì là 4 ý lạc lợi ích? Đó là:

1. Rộng lớn.

2. Hơn hết.

3. Tột cùng.

4. Không điên đảo.

* Kinh viết: Các hữu tình phát tâm hướng đến thừa Bồ-tát, nên sinh tâm như vầy: Nói rộng cho đến: Tất cả như thế. Đây là nêu rõ về ý lạc lợi ích rộng lớn.

+ Ta đều khiến nhập Niết-bàn vô dư, đạt được giải thoát: Đây là làm rõ về ý lạc lợi ích hơn hết.

+ Tuy hóa độ vô lượng chúng sinh như thế, cho đến: Không gọi là Bồ-tát. Đây là làm rõ về ý lạc lợi ích tột cùng.

Đấy là có ý gì? Tức muốn biện minh tất cả chúng sinh hiện có thảy đều thâu giữ đồng với Bồ-tát. Thân mình do đấy chỉ là vắng lặng. Thân mình không khác biệt với hữu tình. Nếu tạo sự dị biệt là có chúng sinh, không phải là tưởng của chính mình, thì đấy tức không gọi là Bồ-tát. Nếu thâu giữ làm thể của mình, tức là tận cùng không xả bỏ. Do đấy gọi là ý lạc tột cùng.

+ Nếu Bồ-tát có tưởng về ngã, tưởng về chúng sinh, tưởng về thọ giả, tưởng về cánh cầu thú, tức không gọi là Bồ-tát: Đây là nêu rõ về ý lạc lợi ích không điên đảo. Đó tức do dựa nơi hữu thân kiến, nên các tưởng như ngã v.v… sinh khởi. Vì khiến chánh đoạn là không điên đảo, nên phần tiếp sau sẽ hiển bày.

Các hữu tình phát tâm hướng đến thừa Bồ-tát nên tu hành như thế.

* Kinh viết: Bồ-tát không trụ nơi sự để hành bố thí, nói rộng như vậy. Ở đây do đâu chỉ dùng một tiếng bố thí mà gồm thâu chung hết thảy sáu thứ Ba-la-mật? Kệ đáp:

Sáu Độ đều gọi thí

Do tài, pháp, vô úy

Trong đó một, hai, ba

Gọi tu hành chẳng trụ.

Tức nêu rõ sáu Độ ấy đều có tướng thí. Tánh của thí do tài, pháp, vô úy. Tài thí gồm thâu một thứ, đó là Thí Ba-la-mật. Vô úy thí gồm thâu hai thứ là Giới, Nhẫn Ba-la-mật. Nơi không oán thù (Giới) cùng xứ oán thù (Nhẫn) đều không sợ hãi. Pháp thí gồm thâu ba: Là Cần (tinh tấn), Định, Tuệ. Do quên hẳn mệt nhọc (Cần), rõ tâm kia rồi (Định) thì nêu giảng pháp như thật (Tuệ). Đây là xứ tu hành của Đại Bồ-tát, tức dùng một tiếng thí, gồm thâu hết sáu Độ.

* Kinh viết: Bồ-tát không trụ nơi sự để hành bố thí v.v…: Ở đây thế nào là tánh không trụ? Tụng nêu:

Là tự thân, báo ân

Quả báo, đều không chấp.

+ Nói không trụ nơi sự: Đó là hiển bày không chấp trước nơi tự thân.

+ Không trụ theo xứ để hành bố thí: Đây là làm rõ không chấp trước nơi báo ân, đối với lợi dưỡng cung kính. Cầu ân, mong xứ có lợi ích, sự việc ấy có nhiều đường, nên gọi là: Không nên theo xứ sinh chấp trước mà hành bố thí.

+ Không trụ nơi sắc v.v…: Là không chấp trước nơi quả báo.

Hỏi: Do đâu hành không trụ như thế để bố thí?

Tụng nêu:

Là lìa nơi không khởi

Cùng lìa các hành khác.

Do quyến luyến tự thân, không hành bố thí, vì nhằm lìa tâm không dấy khởi bố thí ấy, nên chớ chấp trước tự thân, nên mau chóng hành thí. Vì tâm mong báo ân, cùng mong cầu quả, nên bèn xả bỏ tánh của quả Bồ-đề Chánh giác. Do ở nơi các sự khác mà hành tuệ thí, vì thế nên xả bỏ cầu hành thí khác.

Phần tiếp sau sẽ nói về thâu phục tâm. Sự ấy như thế nào? Tụng nêu:

Thâu phục tại ba luân

Nơi tướng, tâm trừ dứt

Các nghi hoặc về sau

Theo đời, thảy đều diệt.

* Kinh viết: Bồ-tát nên hành bố thí như thế, cho đến: Tướng tưởng cũng không nên chấp trước: Đây là hiển bày về vật được xả thí, cùng đối tượng được thí là chúng sinh vả chủ thể thí.

Nơi ba xứ ấy, đều trừ bỏ tâm tưởng chấp.

Tiếp đến là nêu rõ về lợi ích của bố thí. Hoặc có vấn nạn: Đã ở nơi thí v.v…, lìa các tướng trạng, như thế thì có đạt được phước đức, lợi ích? Vì đáp lại vấn nạn ấy, nên nói là sinh phước rất nhiều.

Hỏi: Vì sao nêu bày về tu hành ở sau, không làm sáng rõ về phước lợi đối với việc thâu phục, sau đấy mới bắt đầu nói?

Đáp: Vì nhằm hiển bày: Nếu người không chấp trước nơi tướng, tưởng, mới có thể hành bố thí không chấp trước.

Từ đây trở về sau, phần văn kinh hiện có đều là nhằm trừ bỏ các nghi hoặc tiếp sau. Ở đây, tức có sinh nghi như thế.

Hỏi: Nếu không gắn liền với pháp mà hành bố thí, thì làm sao hành tuệ thí để cầu thắng quả Chánh giác?

Nhằm đáp lại nghi vấn ấy, nên kinh viết: Ý của Tôn giả thế nào? Có thể dùng tướng thù thắng để quán Như Lai chăng? Nói rộng như thế. Tụng nêu:

Nếu dùng để hợp tạo

Diệu tướng phi thắng tướng

Ba tướng dời đổi khác

Không đấy tức Như Lai.

Nếu cho Như Lai là do nhân duyên như bố thí v.v… tạo nên, thì ở trong tướng hữu vi đạt được tánh tối thắng, tức thấy Như Lai có thắng tướng kia. Nếu đối chiếu với tánh chân như của Như Lai, tức không có thắng tướng ấy. Do đấy, không nên dùng tướng để quán Như Lai. Do Pháp thân kia không phải là chỗ hiển bày của hợp tạo, nên tiếp theo nói: Vì sao? Vì Như Lai nói thắng tướng kia nơi ba tướng là đổi khác. Do thắng tướng ấy tức phi thắng tướng.

Ở đây ý nói thể của ba tướng là dời chuyển, nên nầy Diệu Sinh (Tu-bồ-đề)! Thắng tướng hiện có đều là hư vọng. Vì vậy, nên dùng thắng tướng phi tướng để quán Như Lai.

Ý nầy nhằm làm rõ: Từ nhân sinh pháp là hư giả, nên không. Đấy nghĩa là Như Lai do hoàn toàn không có ba thứ tướng kia. Do lìa tướng ấy, tức lấy vô tướng làm tướng. Nếu ở nơi xứ đó, không sinh khởi tánh biến dị trụ diệt, có thể nhận biết rõ: Đấy là hiển bày Như Lai không là tánh tạo tác của hữu vi, do nhân duyên tạo thành. Như vậy là giải thích rõ về tánh của Như Lai rồi, tuy vì quả Phật mà hành bố thí, không phải là chấp trước nơi pháp thí, tức là trừ bỏ niệm nghi. Tiếp sau diệu sinh lại khởi niệm nghi lần nữa: Nếu do hành không trụ như thế để bố thí, tức là nhân hết sức thâm diệu. Lại nói Như Lai là tánh vô vi, tức là quả vô cùng sâu xa. Vì sao vào đời sau cùng có được người tin, khiến quả báo kia không bị dứt bỏ? Vì đoạn trừ nghi ấy, tụng nêu:

Nhân cùng quả sâu xa

Lúc nơi ác kia nói

Đây chính là lợi ích

Do ba, Bồ-tát khác.

Nếu ở đời sau cùng mà có Bồ-tát gồm đủ giới, đức, tuệ, do đấy nói pháp, quả lợi không hư dối. Tụng nêu:

Từ nơi chốn Phật trước

Phụng trì về giới học

Cùng gieo trồng thiện căn

Gọi đủ giới đủ đức.

* Kinh viết: Nhưng Bồ-tát kia không phải ở nơi một Đức Phật mà hành sự cúng dường. Không phải ở nơi một Đức Phật gieo trồng các thiện căn: Đây là hiển bày, nơi trụ xứ của Đức Phật trước, vì trì giới mà hành cung kính, thừa sự, cùng gieo trồng các thiện căn. Như thứ lớp ấy tức là đủ giới đủ đức. Tiếp theo là làm rõ về người đủ tuệ. Tụng nêu:

Hay đoạn trừ tưởng ngã

Cùng do nơi tưởng pháp

Đây gọi là đủ tuệ

Hai, bốn khác thành tám.

Đấy là nêu rõ: Tưởng ngã có bốn, tưởng pháp cũng có bốn, nên thành tám tưởng. Tụng nêu:

Thể riêng nối tiếp khởi

Đến thọ mạng hết, trụ

Lại cầu tìm nẻo khác

Tưởng tưởng có bốn thứ.

Bốn thứ tưởng ngã:

1. Tưởng ngã.

2. Tưởng hữu tình.

3. Tưởng thọ giả.

4. Tưởng cánh cầu thú.

Bốn thứ ấy chẳng đồng. Ở đây nơi hữu tình của năm uẩn, mỗi mỗi riêng biệt tự sinh, đoạn dứt là tưởng ngã, thấy nối tiếp khởi, tạo tưởng hữu tình, cho đến thọ mạng tồn tại, tạo tưởng thọ giả. Mạng căn đã diệt, chuyển cầu hữu sau, là tạo tưởng cánh cầu thú. Bốn thứ tưởng pháp, tụng nêu:

Đều không nên chẳng có

Có nên không thể nói

Là nêu bày về nhân

Tưởng pháp có bốn thứ.

Bốn thứ tưởng pháp:

1. Tưởng pháp.

2. Tưởng không pháp.

3. Tưởng có.

4. Tưởng không.

Đây nghĩa là chủ thể giữ lấy, đối tượng được giữ lấy là các pháp đều không, nên tưởng pháp không sinh, tức tưởng không pháp. Chúng không phải làpháp mà là không tự tánh. Tánh không có, nên không phải là tưởng không pháp. Tức chúng không phải có, có không phải là tánh có. Không phải là ngôn từ nơi đối tượng được nêu giảng, nên không phải là tưởng có. Là nhân của ngôn thuyết nên không phải là tưởng không. Do sức của tưởng, nên tuy không phải là ngôn từ hiển bày mà cho là ngôn thuyết, nên có tám nghĩa chẳng đồng. Vì tám tưởng của ngã và pháp dứt hết, nên gọi là người đủ tuệ. Nghĩa nầy có ý gì? Tức chỉ nơi gồm đủ tuệ mà nói, không phải là đủ giới đủ đức, vì sao? Đáp: Vì hiển bày về tưởng thật có sai biệt, nên nói như thế. Tụng nêu:

Do lực tin hiểu kia

Tin nên sinh tưởng thật

Chẳng như lời chấp giữ

Chấp giữ cho chánh thuyết.

Do nghĩa ấy nên nói. Về sau, tức gọi là người có thể nghe kinh điển nầy sinh khởi nhất tâm tin tưởng. Do gồm đủ tuệ, nên không như ngôn thuyết mà chấp giữ. Cùng do tùy thuận trí thắng nghĩa, nên dùng làm chánh thuyết, gọi là tưởng thật. Vì lý ấy nên nói, về sau tức cho là không nên giữ lấy làm pháp, không nên giữ lấy làm phi pháp. Không nên như ngôn thuyết dùng làm pháp, cũng lại chẳng tức cho là phi pháp. Do đấy là có thể tùy thuận trí thắng nghĩa, dùng làm chánh thuyết. Tức là kinh nói: Nghe thuyết giảng kinh nầy sinh khởi tin thật chăng?

* Kinh viết: Diệu Sinh! Như Lai đều đã thấy biết về người ấy v.v…: Là hiển bày nghĩa gì? Tụng nêu:

Phật rõ quả không đối

Do nguyện trí nên biết.

Người có đủ giới v.v… kia, với quả báo hiện có, Phật không dùng so sánh để nhận biết, nhưng do hiện lượng của nguyện trí mà thấu tỏ. Nếu không nói thấy, thì hoặc cho là do so sánh nên biết. Nếu không nói biết, thì e cho là do nhục nhãn v.v… mà thấy. Thế nên cùng nói là thấy, biết. Do đâu Đức Thế Tôn nói như vậy? Tụng nêu:

Vì cầu được lợi, kính

Ngăn chỗ tự nêu ấy.

Kẻ đủ giới kia, vì cầu được lợi dưỡng, cung kính, nên tự nói về đức của mình, liền sinh niệm: Đức Như Lai đã từ xa thấy rõ Ta, vì đấy, không nên tự nói.

* Kinh viết: Diệu Sinh! Các hữu tình kia sẽ sinh, sẽ gồm thâu vô lượng nhóm phước: Đây là nêu về nghĩa gì? Tức khiến nhóm phước kia sẽ sinh. Lại, phước kia sẽ có thể nối tiếp, huân tập không dứt.

 Nói có ngã chấp v.v…: Ý nói có tánh của tùy miên, không phải là có chấp hiện hành.

* Kinh viết: Do đó, Như Lai mật ý tuyên thuyết về pháp môn dụ như chiếc bè. Các hữu tình trí tuệ, pháp hãy còn nên bỏ, huống chi là phi pháp. Ở đây có mật ý gì? Tụng nêu:

Chứng chẳng trụ nơi pháp

Đó chính là tùy thuận

Cũng như bỏ bè kia

Là mật ý, nên biết.

Nghĩa là đối với các pháp như kinh v.v…, không phải là trụ xứ của tăng thượng chứng. Tức được chứng rồi, nên xả bỏ pháp đó. Như tới bờ kia thì xả bỏ chiếc bè. Đối với tăng thượng chứng, là tùy thuận, nên cần thâu giữ. Như chưa đạt đến bờ tất nhờ vào bè ấy. Đó gọi là mật ý.

Trên một chiếc bè có sự lấy, bỏ, nên gọi là mật. Nếu là từ nơi khác, không phải là thuận chứngpháp, cần xả bỏ. Nên tiếp theo sau lại là trừ nghi. Thế nào là văn ở trên viết: Không nên dùng thắng tướng để quán Như Lai. Vì Như Lai là từ nơi vô vi hiển bày tánh. Nếu như thế, thì vì sao lại nói: Như Lai Thích-ca Mâu-ni chứng đắc Chánh đẳng Bồ-đề Vô thượng, mới có thể tuyên dương pháp giáo hiện có. Do đạo lý ấy, nên Như Lai kia không phải là Chánh giác, cũng khiến thuyết pháp. Đáp lại nghi vấn ấy, tụng nêu:

Hóa, thể không Phật thật

Cũng không người thuyết pháp.

Do có 3 Phật:

1. Phật Pháp thân.

2. Phật Thọ dụng thân.

3. Phật Hóa thân.

Nói Phật Thích-ca Mâu-ni, tức là Hóa thân. Đây chính là gốc, không phải là chứng giác, cũng không thuyết pháp độ sinh. Văn viết: Vì sao? Vì Phật đã thuyết pháp v.v… Vì nhằm ngăn trừ sự bài bác chung về tất cả sự việc thuyết pháp, nên nói:

Hóa, thể không Phật thật

Cũng không người nói pháp.

Nhưng chẳng phải toàn bộ là không. Tụng nêu:

Thuyết pháp không hai thủ

Chỗ nói lìa giảng nêu.

Hai thứ như thế, nghĩapháp tánh, phi pháp tánh, phi tai có thể nghe, phi lời có thể nói. Do đó nên biết, phi pháp, phi - phi pháp. Đây là căn cứ nơi đạo lý của chân như mà nói. Phi kia là pháp, nghĩapháp, tánh là vô vi. Lại, phi - phi pháp. Do pháp kia không tự tánh, thể là có, vì sao chỉ nói pháp của đối tượng được nêu giảng, không nói người chủ thể chứng đắc?

Đáp: Chỉ nói về đối tượng được thuyết giảng thì nghĩa của chủ thể chứng đắc hiển bày, do phi chẳng giác tức có được đối tượng nêu giảng.

* Kinh viết: Do các bậc Thánh đều từ nơi vô vi mà được hiển bày: Là nêu rõ về nhân của pháp ấy. Do các Thánh nhân đều từ pháp thanh tịnh của chân như mà hiển hiện, nên gọi là chỗ hiển bày của vô vi, vì thế, Thánh nhân trở lại thuyết giảng pháp vô vi. Phàm các sự hiện có, ngôn từ không thể nêu bày: Đây tức nêu đâu có thể giữ lấy. Tự tánh của pháp kia không phải là xứhành của ngôn thuyết, làm rõ đây tức là tánh phi ngôn thuyết. Do đâu trong ấy không có lựa chọn phân biệt, để nói chung về Thánh giả, không chỉ nói Phật?

Đáp: Vì làm rõ Thánh nhân đều từ nơi chân như thanh tịnh hiển bày. Do có một phần tịnh của hoàn toàn tịnh, theo chỗ ứng hợp, nên không có lỗi. Lại nói phước sai khác, là muốn hiển bày về gì?

Đáp: Pháp tuy thật tánh là không thể giữ lấy, cùng không thể nói, nhưng mà có ích. Tụng nêu:

Tự thọ, vì khác nói

Hợp phước không vô ích.

Do đâu kinh viết: Thế Tôn! Nhóm phước nầy, tức không phải là nhóm phước, thế nên Như Lai nói là nhóm phước, nhóm phước. Tụng nêu:

Phước không giữ Bồ-đề

Hai ấy đều nên giữ.

Nói phước đối với Bồ-đề không thể gánh giữ. Hai thứ đối với Bồ-đề là có thể thọ trì. Ý của tụng là như thế. Thế nào gọi là hai? Nghĩa là tự thọ nhận và vì kẻ khác giảng nói.

* Kinh viết: Đã tự thọ nhận rồi, ở nơi kẻ khác diễn nói. Chưa rõ lời ấy sắp nêu về nghĩa gì? Do tiếng nhóm (tụ) kia có 2 thứ nghĩa:

1. Nghĩa tích tụ.

2. Nghĩa gánh vác.

Cũng như ở nơi vai, có thể gánh vác, vì đấy nên gọi vai là tụ (Nhóm). Do lý ấy, nên phước kia tích tụ, gọi là phước tụ. Do không thể nhận giữ Bồ-đề, nên nói là phi tụ, tức chẳng phải là nghĩa về vai gánh vác, mà là nghĩa tích tụ. Hai thứ đó là nhân của Bồ-đề, nên phước mới rất nhiều.

Hỏi: Do đâu hai thứ ấy có thể nhận giữ Bồ-đề? Vì hiển bày nghĩa ấy, nên kinh nói: Vì sao? Nầy Diệu Sinh! Do quả Bồ-đề Vô thượng của các Như Lai đã từ nơi kinh nầy xuất sinh. Vì sao Bồ-đề gọi là xuất, chư Phật gọi là sinh? Tụng nêu:

Đạt nhân của tự tánh

Phần khác ấy là sinh.

Nói Bồ-đề tức là Pháp thân. Đây là tánh vô vi, nên gọi là tự tánh. Do đó, hai thứ ấy là đạt được nhân của tự tánh kia, không phải là nhân sinh. Nếu đối chiếu với hóa thân thọ dụng khác đây, là nhân sinh. Do sự thân cận ấy, có thể nắm giữ Bồ-đề, nên sinh phước đức rất nhiều. Vì hiển bày nghĩa đó, nên kinh nói: Vì sao? v.v… Tức do đâu đó là nhân có thể thành lập? Tụng nêu:

Nên chính là pháp Phật

Hay thành phước tối thắng.

Nói Như Lai thuyết giảng là phi Phật pháp: Đây hiển bày về pháp của đối tượng được giác ngộ, chỉ Phật mới có thể chứng đắc, do tánh bất cộng, thế nên là tối thắng. Đây là tánh của nhân nơi phước tối thắng, nên chiêu cảm phước rất nhiều. Ý nêu rõ đấy là nhân gần có thể tạo thành thắng phước. Ở trên, kinh nói: Thánh nhân đều chẳng phải là chỗ hiển bày của tích tập tạo tác. Vì các bậc Thánh ấy, nơi pháp chứng đắc kia là không thể giữ lấy, không thể nêu bày. Các Thánh nhân như bậc Dự lưu v.v…, thảy đều giữ lấy tự quả của mình, vì sao ở đây xác nhận không phải là tánh được giữ lấy? Nơi đối tượng được giữ lấy kia mà tuyên thuyết, thì không phải là tánh không thể nêu bày? Vì nhằm dứt trừ nghi, nên sinh khởi phần văn sau, tức làm rõ phi đối tượng được giữ lấy, phi đối tượng được chứng đắc, lý khéo thành tựu. Tụng nêu:

Không giữ lấy tự quả

Phi có thể giữ, nói.

Do là chỗ hiển bày tánh của vô vi, nên vị kia đối với sáu cảnh không có một chút pháp nào có thể thủ đắc. Đã không thể tham dự gọi là Dự lưu, cho đến A-la-hán cũng không có pháp, vì lý đều đồng nơi Thể của pháp vô vi ấy, không thể giữ lấy cho đó là Thánh nhân. Đối với tự quả không giữ lấy, không nêu bày. Nếu Thánh nhân khởi niệm như vầy: Ta chứng đắc quả, tức là có các chấp như ngã v.v… Ý nói có tùy miên Hoặc, không phải là hiện hành. Do không phải vị kia lúc chứng hiện quán, có các chấp như ngã v.v…, mà gọi là ngã chứng đắc. Vì đâu Diệu Sinh tự nói là đắc A-la-hán? Vì khiến một phần hữu tình nhận biết là đã thân chứng. Lại tự nói đạt được trụ vô tránh, là hiển bày thân cùng thắng đức tương ưng. Vì nhằm khiến cho kẻ khác sinh tin kính hơn hết. Do ý nghĩa sâu xa gì, mà nói: Diệu Sinh đều không chỗ trụ? Nhưng đã nói: Ta đạt được trụ vô tránh, đạt được trụ vô tránh? Tụng nêu:

Giải thoát nơi hai chướng

Nói Diệu Sinh không tranh.

Chướng có 2 thứ:

1. Chướng của phiền não.

2. Chướng của định.

Đối với các chướng ấy đã giải thoát, nên không trụ nơi hai chướng. Vì đấy nên nói lần nữa. Nói hai lần về tánh không tranh, tức là sự tranh cãi không hề có.

Tiếp theo lại khởi nghi vấn: Đức Thế Tôn, thời xa xưa, ở nơi trụ xứ của Phật Nhiên Đăng, có thể giữ lấy pháp hiện có. Vị kia cũng vì người khác nêu giảng pháp yếu. Theo đấy mà nói, vì sao được xác nhận là không giữ lấy, không nêu bày? Vì đáp vấn nạn ấy, nên nói: Thật không có pháp nào để Như Lai giữ lấy. Đây có ý gì? Tụng nêu:

Tại nơi Phật Nhiên Đăng

Nói không giữ pháp chứng.

Đây là nói Đức Thế Tôn nơi trú xứ của Phật Nhiên Đăng, cũng không dùng ngôn từ để giữ lấy pháp chứng đắc kia. Tụng nêu:

Do đấy pháp chứng thành

Không nơi giữ chốn nêu.

Nếu nói các Thánh đều là chỗ hiển bày của vô vi, thì pháp kia không là chỗ được giữ lấy, cũng không phải là chỗ được nêu bày. Vì sao các Bồ-tát đã giữ lấy việc làm nghiêm tịnh quốc độ Phật? Lại, thân thọ dụng, vì sao tự mình cho là Pháp vương? Thế gian đối với bậc ấy cũng cho là Pháp vương? Vì dứt trừ nghi vấn ấy, nên mới sinh khởi phần văn tiếp sau. Ý ở đây, như tụng nêu:

Trí động, chỉ tánh thức

Quốc độ không chỗ giữ.

Do thật không có cõi Phật nghiêm tịnh, là sự việc có thể giữ lấy, ngoại trừ từ nơi trí tịnh của chư Phật lưu xuất, chỉ là thức hiện bày. Đây tức không thể có chỗ chấp giữ. Nếu nói thật có hình chất, là tánh có thể giữ lấy, Ta sẽ thành tựu quốc độ nghiêm tịnh, thì đấy thực là vọng ngữ. Như Lai nói quốc độ kia không là nghiêm tịnh. Do đấy nói là quốc độ nghiêm tịnh. Đây là có nghĩa gì? Tụng nêu:

Không hình nên hơn hẳn

Không nghiêm, cho tánh nghiêm.

Nói trang nghiêm, ở đây2 nghĩa:

1. Hình tướng.

2. Thắng tướng.

Đây nói tối thắng là đệ nhất nghĩa. Đấy là cho không hình chất, nên cõi Phật trang nghiêm, chẳng phải là trang nghiêm, do cõi kia không là trang nghiêm đích thực, thế nên nói đấy là tối thắng. Pháp thù thắng tích tập ở đấy nên gọi là tối thắng. Nếu chấp có cõi Phật hình tướng thù thắng trang nghiêm, nói là Ta sẽ thành tựu cõi ấy, tức là ở nơi cảnh giới như sắc v.v…, có tâm trụ chấp. Vì nhằm ngăn chận kiến chấp ấy, nên có văn nói về chẳng trụ. Lại sinh khởi nghi vấn: Phật của thân thọ dụng, vì sao tự mình cho là phó chúc, người khác cũng cho như thế. Vì đáp vấn nạn ấy, nên đem thân thọ dụng đồng nơi núi Diệu Cao. Văn nầy nhằm hiển bày nghĩa gì? Tụng nêu:

Ví như núi Diệu Cao

Nơi thọ dụng không lấy.

Như núi chúa Diệu Cao, đạt được tánh của vị Tôn chủ lớn lao hơn hẳn, nên gọi là Diệu Cao, nhưng không tự cho là tánh của núi chúa, do tánh của núi không phân biệt. Phật của thân thọ dụng cũng lại như thế: Gồm đủ tánh Pháp vương do đạt được tánh của bậc Tôn chủ lớn lao thù thắng, nên gọi là vĩ đại, thù thắng, nhưng không tự chấp giữ tánh Pháp vương kia: Ta là Pháp vương, do không còn phân biệt. Vì sao được nói là không phân biệt? Vì hiển bày nghĩa ấy, văn viết: Như Lai nói là chẳng phải thân. Do thân kia không phải là có, nên nói là có thân. Đây là có ý gì? Tụng nêu:

Tánh không phải hữu lậu

Cũng không là nhân tạo.

Nhưng thân thọ dụng, tánh không phải là hữu lậu. Do đấy, không phải là có thân, nói là có thân, hiển nhiên, thuần tịnh tự thể là có, nên cũng không phải là từ nhân gây tạo. Do đấy có thân, không phải là dựa vào nhân duyên khác sinh khởi. Vì sao ở trước phần hiển bày về tánh của phước đức, đã nói dụ kia, nay lại nói nữa? Tụng nêu:

Vì hiển nhiều sai biệt

Cùng do thành thù thắng

Trước sau phước không đồng

Lại nêu ra dụ nói.

Trước là nêu dụ về Tam thiên thế giới để hiển bày phước nhiều, nay nói vô số Tam thiên, là làm rõ về sự việc kia càng rộng.

Do đâu ở trước không nói dụ ấy? Là do chỗ ưa thích của người thọ hóa không đồng. Trước ít, sau nhiều, ý ở tại đấy. Phước trước sai biệt, không nêu rõ nhân được thành, nên đối với Bồ-đề không có dụng của sự gánh vác, nhận giữ. Nay muốn hiển bày về tướng của nhân có thể thành lập, lại nêu dụ riêng theo sự mà nói.

HẾT - QUYỂN 1


 

LUẬN THÍCH KINH NĂNG ĐOẠN KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

QUYỂN 2

Thế nào là có thể lập tướng nhân? Tụng nêu:

Hai thành, nên tôn trọng

Do đẳng lưu thù thắng

Do tánh nhân phiền não

Nên kém cũng thành hơn.

+ Nói hai thành nên tôn trọng: Là do nơi chốn nhờ gởi lưu giữ, thành Tháp miếu (Chế để), nghĩa là vùng đất giảng nói pháp. Là chỗ dựa nơi thân kia, thành tánh tôn trọng như bậc Đại sư. Tức là người thọ trì kinh, vùng đất bố thí châu báu, cùng với chủ thể hành thí, không có sự việc như thế (?). Nên tiếp sau, văn kinh hiển bày về pháp môn ấy, chính là chỗ chứng đắc gần của chư Phật hợp với tánh của đẳng lưu.

+ Từng có pháp là Như Lai thuyết giảng chăng?: Đấy là nêu rõ về ý gì? Tức nói không có pháp là riêng của Như Lai giảng nêu, đều là chư Phật cùng tuyên dương.

Lại, phước có được do bố thí châu báu ấy là nhân sinh khởi sự khổ não. Công đức của pháp môn chính là yếu tố đoạn trừ các thứ Hoặc. Hơn kém đã quá cách biệt rõ, thế nên phần tiếp sau, văn dùng vi trần làm dụ.

+ Như Lai nói tạo phi vi trần, do đấy nói là vi trần. Gọi là thế giới, Như Lai nói là phi thế giới, do đấy nói là thế giới. Đây là có ý gì? Nói vi trần nầy không là tánh trần nhiễm v.v…, do đấy gọi là vi trần. Lại, thế giới kia không phải là nhân của phiền não, gọi là giới, vì đấy nói là thế giới. Giới là nghĩa nhân, tức là nhân của đời. Ở đây nói, ý là hiển bày phước đức ấy chính là nhân của phiền hoặc trần cấu. Do ngoại trần kia tuy là vô ký, phước ấy dù là thiện cũng là quá kém, so với nhân của phước đều thành Phật, mà không lại là nhỏ kém!

Lại, nghiệp phước hiện có kia có thể thành tựu tướng đại trượng phu so với nhân thành Bồ-đề nầy, tức phước của việc thọ trì, nêu giảng pháp môn cũng còn là kém. Do các tướng ấy không phải là thể tánh của chánh giác. Vì đấy gọi là tướng đại trượng phu, là nêu rõ về tướng ấy. Do phước của việc thọ trì, giảng nói có thể đạt được tánh của Đại giác. Vì vậy gọi là kém, cũng hơn hẳn phước của hành bố thí châu báu, huống chi là nhân của Pháp thân mà không siêu việt! Thế nên kém cũng là hơn. Tức là phước của bố thí châu báu rất kém, có thể thành lập nhân. Đây đã thành lập phước của bố thí châu báu, so với nhân của phước nầy có sai biệt rồi, các văn tiếp theo lại thành lập nữa. Là nhằm nêu rõ về điều gì? Tụng nêu:

Quả kia hơn hẳn khổ

Khó gặp được sự thắng

Cảnh, cõi không phải biết

Nơi phần khác chẳng cùng.

Tánh ấy rất sâu xa

Hơn khác, lược giảng nói

Tộc họ vốn, cao, hơn

So phước, phước hơn hẳn.

Đây là nêu bày về nghĩa nào? Đáp: Phước của bố thí châu báu là quả đã thọ dụng của tự thân đạt được. Thân kia là hơn, do có thể xả bỏ vô biên thân. Phước nầy hơn trước, vì tự thân ấy là tánh khổ, huống chi là đem thân ấy hành bố thí.

* Kinh viết: Bấy giờ, Cụ thọ Diệu Sinh, hiểu rõ tự thân đó là sự khổ, do uy lực của pháp nên bèn rơi lệ. Pháp môn nầy lại là khó gặp. Diệu Sinh, từ lúc phát sinh trí đến giờ cũng chưa từng nghe. Lại là thắng sự. Ở đấy nói muốn hiển bày về tên gọi của Bát-nhã. Từ đây trở xuống, ý nhằm thành lập sự thắng diệu ấy. Tức như kinh nêu: Như Lai nói là Bát-nhã Ba-la-mật-đa, đấy tức phi Ba-la-mật-đa. Là do ý nghĩa sâu xa gì nên nói như thế? Đáp: Cảnh, cõi không phải biết. Do cảnh, cõi của đối tượng được nhận biết ấy, trừ Đức Phật, kẻ khác không thể nhận biết. Tức đối với kẻ khác lại là bất cộng.

+ Pháp môn nầy, với tưởng thật hiện có, tức là tưởng thật: Là trừ giáo pháp của Phật ra, xứ khác không có.

+ Nói tưởng thật: Tức chỉ xứ nầy có.

+ Nói phi thật: Là nghĩa ở nơi khác không sinh. Vì thế, văn nêu: Nếu có thể sinh tưởng như thật, thì người ấy sẽ thành tựu sự hy hữu bậc nhất.

Lại, pháp môn nầy cũng là thâm diệu. Do đối với kinh ấy hoặc thọ nhận chút ít, hoặc hành trì đầy đủ, ở nơi các tưởng như ngã v.v…, không còn sinh khởi. Do không còn sinh khởi các tưởng đó: Là nêu rõ ở nơi nghĩa của đối tượng được nhận lấy, không có điên đảo.

+ Đối với các tưởng như ngã v.v…, tức là phi tưởng: Là làm rõ, ở nơi chủ thể nhận lấy không có điên đảo. Hai thứ đó, theo như trình tự là làm rõ hai trí vô tánh của ngã, pháp.

Đức Phật ở nơi nghĩa nầy đã thuận ấn chứng các sự việc do Tôn giả Diệu Sinh nêu bày.

+ Nói không kinh, không sợ, không hãi: Ba thứ ấy đều gọi là sợ, tức là kinh sợ, lo sợ, sợ hãi, nhưng theo sự chẳng đồng nên có ba thứ riêng. Nói kinh: Nghĩa là đối với phi xứ sinh sợ hãi. Trái vượt với lý chánh, như vượt chánh đạo, đáng chán ghét. Nói sợ: Là nối tiếp sinh sợ hãi, tức sinh rồi, không thể đoạn trừ. Nói hãi: Là sinh tâm quyết định hoàn toàn là sợ hãi. Những thứ ấy nếu không có, tức thành tựu tâm lìa hoảng loạn, lầm lạc.

Lại, pháp môn nầy đã giảng tóm lược, hơn hẳn các thứ khác. Do kinh nói: Đây là Ba-la-mật-đa tối thắng, do Đức Như Lai đã thuyết giảng.

Lại, pháp môn nầy, tộc họ cao, thắng. Nói tộc họ thắng: Là do chư Phật cùng thuyết giảng.

Nhưng bố thí châu báu kia không có các đức viên mãn như đây. Tức là thành lập phước ấy, so với nhóm phước đức là vượt hơn, huống chi là nói riêng về lý. Chỗ gọi đối với thân là tánh khổ, thí kia tức là tánh của quả khổ, nên phước đó là thấp kém. Nhưng pháp môn nầy, nếu có người thọ trì, giảng nói, thì bậc Đại sĩ ấy hành các hạnh khổ, đây cũng đâu phải là chiêu cảm khổ báo? Vì sao không phải là nhận lấy quả khổ? Vì để trừ bỏ vấn nạn ấy, nên có văn tiếp sau. Nhằm hiển bày về nghĩa gì? Tụng nêu:

Hành ấy khi gắng nhẫn

Tuy hành khổ nhưng thiện

Đức kia khó lường xét

Do đấy gọi thắng sự.

Vì tình không giận dữ

Không gọi là tánh khổ

Có an lạc, đại bi

Lúc hành, không quả khổ.

Hỏi: Đó là nêu bày về nghĩa gì?

Đáp: Nếu khiến kẻ kia lúc hành hạnh khổ, có quả khổ não, nhưng vào khi đó, do có tánh gắng nhẫn, nên đấy gọi là thắng sự. Có 2 nhân:

1. Là tánh thiện. Do các Ba-la-mật-đa đều dùng thiện làm thể tánh.

2. Là đức kia khó lường.

Như kinh nói: Đây tức là phi Ba-la-mật-đa.

+ Do bờ cõi của đức ấy từng không nhận biết: Vì đấy gọi là không nhận biết về bờ bến. Do cùng với thắng pháp tương ưng. Tức khổ của hành khó nầy, so với khổ não ở trước, tự có khác biệt, huống hồ là tưởng ngã, tưởng giận dữ thể tánh không có, tất không có khổ kia. Không phải chỉ không khổ, mà lại sinh bi, lạc. Như kinh nói: Ta không có tưởng ấy cũng không phải là không tưởng.

+ Nói không phải là không tưởng: Đây là hiển bày có tưởng cùng với tâm bi tương ưng.

Căn cứ theo đấy, nói về lý, nếu các hữu tình, đối với tưởng ngã v.v…, không trừ diệt, thì lúc hành khổ thấy có khổ não, tức liền muốn bỏ tâm Bồ-đề. Do đó nên lìa các tưởng, cho đến nói rộng. Đây là hiển bày về điều gì? Nếu người không phát tâm Bồ-đề thù thắng, liền có lỗi lầm sinh tâm sân hận như thế. Tụng nêu:

Nhân sinh tâm không bỏ

Vì thế nên dốc cầu.

Hỏi: Nơi xứ nào, tâm là nhân sinh tâm ấy, mà khiến kiên cố siêng cầu. Lại ở nơi xứ nào là không xả bỏ nhân của tâm Bồ-đề khiến tinh tấn mong cầu? Tức là tâm không trụ. Văn viết: Nên lìa các tưởng để phát khởi tâm Chánh đẳng giác vô thượng.

+ Vì sao? Vì đây là hiển bày về nhân sinh khởi của tâm không trụ chấp. Nếu ở nơi xứ như sắc v.v…, có tâm trụ chấp: Thì ở đấy tất không thể tiến cầu quả Phật.

+ Các Bồ-tát nên không chỗ trụ mà hành bố thí: Ý của văn muốn nêu rõ bố thí gồm thâu cả sáu Ba-la-mật. Tức là sinh khởi phương tiện của tâm không trụ chấp. Nghĩa là, được nhẫn rồi, tuy gặp phải khổ mà không từ bỏ tâm Đại Bồ-đề.

Hỏi: Vì sao phát khởi hành tạo lợi ích cho hữu tình, lại khiến không trụ nơi sự lợi ích cho hữu tình? Đây tức lấy bỏ đồng môn, tâm nghi bèn khởi.

Đáp: Bồ-tát nên hành bố thí như thế để tạo lợi ích cho chúng sinh. Đây là hiển bày về ý gì? Tụng nêu:

Nên biết kẻ chánh hành

Là nhân của lợi sinh

Nơi sự tướng hữu tình

Nên biết dứt trừ khắp.

Đó là nói về nghĩa nào?

Nói chánh hành ấy: Là nhân tạo lợi ích cho chúng sinh. Nên biết tức là tạo lợi ích cho hữu tình, nhưng không giữ lấy tướng mạo hiện có của hữu tình.

Thế nào là sự việc thuộc tướng mạo của hữu tình? Tụng nêu:

Sự kia gọi là tụ.

+ Chúng sinh ấy: Tức là danh tự được nêu đặt, gọi là chúng sinh, cùng chỗ dựa là sự việc. Thế nào là chánh hành? Nghĩa là đối với sự tướng của chúng sinh đều trừ bỏ.

+ Do tưởng của danh tự kia, tức là phi tưởng. Do gốc của tự thể ấy không có. Tức chúng sinh kia không là chúng sinh, nghĩađối với năm uẩn gọi là chúng sinh, do tự thể của chúng sinh đó là không, nên ngã pháp ấy là không tánh. Vì sao? Vì do Đức Phật, Thế Tôn đều dứt trừ các tưởng. Đây là làm rõ hai tưởng ngã, pháp đều không. Vì sao có thể thành sự diệu tối thắng? Tụng nêu:

Hơn hết trừ bỏ tưởng

Các Thế Tôn không đấy

Do thấy đúng tương ưng.

Đây là nêu bày về gì? Do hai thứ kia không phải là tánh thật có, nhưng các Đại sư quyết trừ bỏ tưởng ấy. Chư Như Lai cùng với thấy đúng tương ưng, nên quả không trụ nơi phần vị của nhân, do đâu có thể thấy nhân của quả kia? Đã có nghi ấy, nên đáp: Như kinh nói: Nầy Diệu Sinh! Như Lai là thật ngữ (có bốn câu). Tụng nêu:

Quả không trụ vị nhân

Là đạt nhân quả kia

Thế Tôn nói lời thật

Nên biết có bốn thứ.

Tánh của thật ngữ ấy có bốn thứ. Những gì là bốn? Tụng nêu:

Lập nên nói thừa dưới

Cùng nêu nghĩa Đại thừa

Do các sự thọ ký

Đều không có sai biệt.

Do Đức Phật lập thời hạn cần thiết, gốc cầu quả Phật không có sai lầm. Nơi Thừa thấp kém cùng với Đại thừa và các thọ ký, đều không lầm lẫn. Ở đây, luôn tùy theo thứ lớp: Thật ngữ (nói thật), như ngữ (nói như), nói không dối trá, nói không sai khác, mà cùng phối hợp.

+ Nói Như Lai: Là do nơi thừa Thanh-văn, giảng nói bốn đế như khổ v.v…, là thật không hư giả. Đối với Đại thừa thuyết pháp không tánh, hiển bày chân như, gọi là nhận biết thật, nên Như Lai là nghĩa nhận biết. Nơi tất cả thời quá khứ, hiện tại, vị lai, như sự thọ ký hiện có, đều không sai lầm, nên gọi là Như Lai. Kinh nói: Như Lai chứng đắc pháp, cùng thuyết giảng pháp. Đấy tức là phi thật phi vọng. Tụng nêu:

Không đạt chỗ thuận kia

Trái phải thật không vọng

Như lời mà chấp giữ

Đối ứng nên tuyên thuyết.

Nói chư Như Lai thuyết pháp hiện có. Là nói đây không đạt kia (?), nhưng là tùy thuận nơi kia (?). Do thuyết pháp ấy không thể gần đạt pháp nội chứng, ở nơi ngôn thuyết thấp, không có thể tánh (?), nên không phải là thật (?). Do thuận theo kia (?) nên không phải là vọng ngôn (?).

+ Ta hiện chứng Chánh giác Vô thượng: Đây là nhằm căn cứ nơi đạo lý văn cú (?) mà có lời nói ấy.

Hỏi: Do đâu Đức Thế Tôn tự lập lời cốt yếu: Ta là người nói lời chân thật, nhưng pháp được nêu giảng là phi thật phi hư. Nói một gồm hai lý thành khó tin. Do đấy, đáp nói:

Như lời mà chấp giữ

Đối kia nên tuyên thuyết.

Nói các Thánh nhân là chỗ hiện bày của vô vi: Tức tánh của chân như là thường hằng, có khắp. Vì sao quả Phật phải do tâm vô trụ mới có thể chứng đắc, không phải là tâm hữu trụ? Lại nữa, vì sao thật thể nơi chân như là thường hằng, có khắp, nhưng có trường hợp được, hoặc không đạt được? Vì dứt trừ nghi vấn ấy, nên nói dụ về kẻ đi vào nơi tối tăm. Đây là nêu rõ về nghĩa gì? Tụng nêu:

Thường hằng, các xứ có

Nơi chân tánh không đạt

Do không biết, có trụ

Trí vô trụ, đạt thật.

Ở đây ý nói tánh của chân như tuy là thường hằng, có khắp, nhưng do không trí, tâm có trụ, tức không thể đạt được, là nghĩa không thanh tịnh. Do có trí, tâm không trụ, tức liền được thấy, là nghĩa thanh tịnh. Nhưng Đức Phật, Thế Tôn luôn là chỗ hiển bày của chân như, do lý ấy, nên vì tâm có trụ tức không thể chứng đắc. Tụng nêu:

Không trí, cũng như tối

Nên trí tối hoặc sáng

Chủ đối cù