============================================================
【經文資訊】大正新脩 大藏經 第十二冊 No. 374《 大般涅槃 經》CBETA 電子佛典 V1.29 普及版
【Kinh văn tư tấn 】Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh đệ thập nhị sách No. 374《Đại bát Niết-bàn Kinh 》CBETA điện tử Phật Điển V1.29 phổ cập bản
【Kinh văn tư tấn 】Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh thứ mười hai sách No. 374《Đại bát Niết-bàn Kinh 》CBETA điện tử Phật Điển V1.29 khắp cùng bản
# Taisho Tripitaka Vol. 12, No. 374 大般涅槃 經, CBETA Chinese Electronic Tripitaka V1.29, Normalized Version
# Taisho Tripitaka Vol. 12, No. 374 Đại bát Niết-bàn Kinh , CBETA Chinese Electronic Tripitaka V1.29, Normalized Version
# Taisho Tripitaka Vol. 12, No. 374 Đại bát Niết-bàn Kinh , CBETA Chinese Electronic Tripitaka V1.29, Normalized Version
=========================================================================
=========================================================================
=========================================================================
Thích Nữ Chơn Tịnh hiệu đính
Vol. 12, No. 374
大般 涅槃經 卷第二十一
Đại bát Niết-bàn Kinh quyển đệ nhị thập nhất
Kinh Đại Bát Niết-bàn
Quyển Thứ Hai Mươi Mốt 北涼 天竺 三藏 曇無讖譯
Bắc Lương Thiên trúc Tam Tạng Đàm Vô Sấm dịch
Tam Tạng Đàm-vô-sấm người Thiên trúc dịch vào đời Bắc Lương.
光明遍照高貴德王 菩薩 品第十之一
quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương Bồ-tát phẩm đệ thập chi nhất
Phẩm thứ mười, phần thứ nhất: Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ-tát .
爾時 世尊 。
nhĩ thời Thế tôn 。
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn
告光明遍照高貴德王 菩薩 摩訶薩言。 善男子 。
cáo quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương Bồ-tát Ma-Ha tát ngôn 。thiện nam tử 。
bảo với Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ-tát Ma-ha -tát rằng: Thiện nam tử ,
若有 菩薩 摩訶薩修行如是大 涅槃經 。得十事 功德 。不與 聲聞 辟支佛 共。
nhược hữu Bồ-tát Ma-Ha tát tu hành như thị Đại Niết-bàn Kinh 。đắc thập sự công đức 。bất dữ Thanh văn Bích-chi-phật cộng 。
nếu có Bồ-tát Ma-ha -tát tu hành kinh Đại Niết-bàn này, tức được mười thứ công đức , hơn hẳn Thanh văn và Bích-chi-phật.
不可思議聞者驚怪。
bất khả tư nghị văn giả kinh quái 。
Là không thể nghĩ bàn, ai nghe thấy cũng kinh ngạc,
非內非外非難非易非相非非相。非是世法無有相貌世間所無。
phi nội phi ngoại phi nan phi dịch phi tướng phi phi tướng 。phi thị thế Pháp vô hữu tướng mạo thế gian sở vô 。
chẳng phải trong chẳng phải ngoài, chẳng khó chẳng dễ, chẳng có tướng chẳng phải phi tướng, chẳng phải pháp thế gian, không có tướng mạo.
何等為十。一者有五。何等為五。
hà đẳng vi thập 。nhất giả hữu ngũ 。hà đẳng vi ngũ 。
Thế nào là mười? Thứ nhất gồm có năm việc, thế nào là năm ?
一者所不聞者而能得聞。二者聞已能為利益。
nhất giả sở bất văn giả nhi năng đắc văn 。nhị giả văn dĩ năng vi lợi ích 。
một là có thể nghe điều không nghe, hai là nghe rồi có thể làm lợi ích
三者能斷 疑惑 之心。四者慧心正直無曲。
tam giả năng đoạn nghi hoặc chi tâm 。tứ giả tuệ tâm chánh trực vô khúc 。
ba là có thể đoạn trừ tâm nghi ngờ, bốn là tâm huệ ngay thẳng không có cong quẹo
五者能知 如來 密藏。是為五事。何等不聞而能得聞。
ngũ giả năng tri Như Lai mật tạng。thị vi ngũ sự。Hà đẳng bất văn nhi năng đắc văn 。
năm là có thể biết tạng bí mật của Như Lai , đó là năm việc. Thế nào gọi là có thể nghe điều không nghe,
所謂甚深微密之藏。一切眾生悉有佛性。
sở vị thậm thâm vi mật chi tạng 。nhất thiết chúng sanh tất hữu Phật tánh 。
đó tức là tạng bí mật thâm sâu, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh,
佛法眾僧無有差別。 三寶 性相常樂我淨。
Phật Pháp chúng tăng vô hữu sai biệt。 Tam Bảo tánh tướng thường lạc ngã tịnh 。
Phật, Pháp và chúng Tăng không có sai khác, tánh tướng của Tam Bảo là thường lạc ngã tịnh,
一切諸佛無有畢竟 入涅槃 者常住無變。 如來 涅槃。
nhất thiết chư Phật vô hữu tất cánh nhập Niết-Bàn giả thường trụ vô biến 。 Như Lai Niết-Bàn 。
tất cả chư Phật không có rốt ráo nhập Niết-bàn , mà thường trụ không biến đỗi. Niết-bàn của Như Lai
非有非無。非有為非無為。非有漏非無漏。
phi hữu phi vô 。phi hữu vi phi vô vi 。phi hữu lậu phi vô lậu 。
là chẳng có chẳng không, chẳng hữu vi chẳng vô vi , chẳng hữu lậu chẳng vô lậu,
非色非不色。非名非不名。非相非不相。 非有 非不有。
phi sắc phi bất sắc 。phi danh phi bất danh 。phi tướng phi bất tướng 。 phi hữu phi bất hữu 。
chẳng sắc chẳng vô sắc, chẳng có danh chẳng phải không có danh, chẳng có tướng chẳng phải không có tướng, chẳng có chẳng phải không có,
非物非不物。非因非果。非待非不待。
phi vật phi bất vật 。phi nhân phi quả 。phi đãi phi bất đãi 。
chẳng phải vật chẳng chẳng phải không vật, chẳng nhân chẳng quả, chẳng có đối đãi,chẳng phải không đối đãi
非明非闇非出非不出。非常非不常。非斷非不斷。
phi minh phi ám phi xuất phi bất xuất。phi thường phi bất thường。phi đoạn phi bất đoạn 。
chẳng sáng chẳng tối chẳng xuất chẳng phải không xuất, chẳng thường chẳng phải không thường, chẳng đoạn chẳng phải không đoạn
非始非終。非過去非未來非現在。非陰非不陰。
phi thủy phi chung 。phi quá khứ phi vị lai phi hiện tại 。phi uẩn phi bất uẩn 。
chẳng thỉ chẳng chung, chẳng phải quá khứ vị lai hiện tại, chẳng phải năm ấm chẳng phải không năm ấm,
非入非不入。非界非不界。
phi nhập phi bất nhập 。phi giới phi bất giới 。
chẳng phải mười hai nhập,chẳng phải không có mười hai nhập, chẳng phải mười tám giới, chẳng phải không có mười tám giới;
非十 二因 緣非不十二因緣。如是等法甚深微密。
phi thập nhị nhân duyên phi bất thập nhị nhân duyên 。như thị đẳng Pháp thậm thâm vi mật 。
chẳng phải mười hai nhân duyên , chẳng phải chẳng phải không có mười hai nhân duyên. Như vậy các pháp thâm sâu bí mật vi diệu.
昔所不聞而能得聞。復有不聞。
tích sở bất văn nhi năng đắc văn 。phục hữu bất văn 。
Xưa không được nghe mà nay có thể nghe. Lại có điều không nghe,
所謂一切外道經書四毘陀論 毘伽羅 論衛世師論 迦毘羅 論。
sở vị nhất thiết ngoại đạo Kinh thư tứ tì đà luận tì dà la luận vệ thế sư luận ca tì la luận 。
đó là tất cả kinh thư ngoại đạo, luận Tứ-tỳ-đà, luận Tỳ-già-la, luận Vệ-thế-sư, luạn Ca-tì-la,
一切呪術醫方伎藝。
nhất thiết chú thuật y phương kỹ nghệ 。
tất cả chú thuật y phương kỹ nghệ,
日月博蝕星宿運變圖書讖記如是等經。初未曾聞。
nhật nguyệt bác thực tinh tú vận biến đồ thư sấm kí như thị đẳng Kinh 。sơ vị tằng văn 。
nhật nguyệt bác thực tinh tú vận biến đồ thư sấm kí,
祕密之義今於此經而得知之。復有十一部經除 毘佛略 。
bí mật chi nghĩa kim ư thử Kinh nhi đắc tri chi 。phục hữu thập nhất bộ Kinh trừ tì Phật lược 。
ý nghĩa bí mật, nay ở nơi kinh này mà được biết hết. Lại có mười một bộ kinh Trừ-tỳ-phật-lược,
亦無如是深密之義。今因此經而得知之。 善男子 。
diệc vô như thị thâm mật chi nghĩa 。kim nhân thử Kinh nhi đắc tri chi 。thiện nam tử 。
cũng có ý nghĩa thâm sâu như vậy, nay ở nơi kinh này mà được biết hết. Này, thiện nam tử!
是名不聞而能得聞。聞已利益者。
thị danh bất văn nhi năng đắc văn 。văn dĩ lợi ích giả 。
Đây có thể gọi là nghe điều không nghe. Nghe rồi có thể làm lợi ích,
若能聽受是大 涅槃經 。悉能具知一切方等 大乘經 。
nhược năng thính thọ thị Đại Niết-bàn Kinh 。tất năng cụ tri nhất thiết phương đẳng Đại thừa Kinh 。
nghĩa là có thể nghe và lãnh hội kinh Đại Niết-bàn này, thì có thể biết đủ tất cả kinh Đại thừa phương đẳng
典甚深義味。
điển thậm thâm nghĩa vị 。
có ý nghĩa thâm sâu,
譬如男女於明淨鏡見其色像了了分明。 大涅槃 鏡亦復如是。
thí như nam nữ ư minh tịnh kính kiến kỳ sắc tượng liễu liễu phân minh 。Đại Niết-Bàn kính diệc phục như thị 。
thí như nam nữ đứng trước gương sáng thấy rõ ràng hình tượng. Gương Đại Niết-bàn cũng lại như vậy,
菩薩執之悉得明見 大乘經 典甚深之義。
Bồ-tát chấp chi tất đắc minh kiến Đại thừa Kinh điển thậm thâm chi nghĩa 。
Bồ-tát cầm kinh nầy đều thấy rõ ý nghĩa thâm sâu của kinh điển Đại thừa
亦如有人在闇室中執大炬火悉見諸。物 大涅槃 炬亦復如是。
diệc như hữu nhân tại ám thất trung chấp Đại cự hỏa tất kiến chư 。vật Đại Niết-Bàn cự diệc phục như thị 。
cũng như có người ở trong nhà tối cầm cây đuốc lớn tức thấy rõ các vật, đuốc Đại Niết-bàn cũng lại như vậy.
菩薩執之得見 大乘 深奧之義。
Bồ-tát chấp chi đắc kiến Đại thừa thâm áo chi nghĩa 。
Bồ-tát nắm giữ thì được thấy rõ ý nghĩa thâm sâu của kinh Đại thừa ,
亦如日出有千光明。悉能照了諸山幽闇。
diệc như nhật xuất hữu thiên quang-minh 。tất năng chiếu liễu chư sơn u ám 。
cũng như mặt trời xuất hiện có ngàn ánh sáng, có thể chiếu đến các nơi tối tăm,
令一切人遠見諸物。是 大涅槃 清淨慧日亦復如是。
lệnh nhất thiết nhân viễn kiến chư vật 。thị Đại Niết-Bàn thanh tịnh tuệ nhật diệc phục như thị 。
khiến tất cả mọi người từ xa cũng nhìn thấy các vật, mặt trời trí huệ của Đại Niết-bàn cũng lại như vậy,
照了 大乘 深邃之處。令 二乘 人遠見 佛道 。所以者何。
chiếu liễu Đại thừa thâm thúy chi xử 。lệnh nhị thừa nhân viễn kiến Phật đạo 。sở dĩ giả hà 。
chiếu rõ các nơi thâm sâu của kinh Đại Thừa , khiến hàng Nhị thừa từ xa được thấy Phật đạo . Tại vì sao?
以能聽受是 大涅槃 微妙經典故。 善男子 。
dĩ năng thính thọ thị Đại Niết-Bàn vi diệu Kinh điển cố 。thiện nam tử 。
bởi có thể nghe và nhận lãnh kinh điển Đại Niết-bàn này. Thiện nam tử ,
若有 菩薩 摩訶薩聽受如是大 涅槃經 。
nhược hữu Bồ-tát Ma-Ha tát thính thọ như thị Đại Niết-bàn Kinh 。
nếu có Bồ-tát Ma-ha -tát nghe và nhận lãnh kinh Đại Niết-bàn này
得知一切諸法名字。若能書寫讀誦通利。
đắc tri nhất thiết chư Pháp danh tự 。nhược năng thư tả độc tụng thông lợi 。
thì được biết danh tự của tất cả các pháp. Nếu có thể biên chép đọc tụng thông thạo,
為他廣說思惟其義。則知一切諸法義理。 善男子 。
vi tha quảng thuyết tư duy kỳ nghĩa 。tắc tri nhất thiết chư Pháp nghĩa lý 。thiện nam tử 。
vì người khác rộng nói suy nghĩ ý nghĩa, thì biết được nghĩa lý của tất cả pháp. Thiện nam tử !
其聽受者唯知名字。不知其義。若能書寫受持讀誦。
kỳ thính thọ giả duy tri danh tự 。bất tri kỳ nghĩa 。nhược năng thư tả thọ trì độc tụng 。
Nếu nghe và nhận lãnh thì chỉ biết danh tự mà không biết ý nghĩa. Nếu có thể biên chép thọ trì đọc tụng,
為他廣說思惟其義。則能知義。復次 善男子 。
vi tha quảng thuyết tư duy kỳ nghĩa 。tắc năng tri nghĩa 。phục thứ thiện nam tử 。
vì người khác rộng nói suy nghĩ ý nghĩa, thì có thể biết nghĩa lý. Lại nữa Thiện nam tử ,
聽是經者聞有佛性未能得見。
thính thị Kinh giả văn hữu Phật tánh vị năng đắc kiến 。
nghe kinh này rồi, nghe có Phật tánh mà chưa được thấy,
書寫讀誦為他廣說思惟其義則得見之。
thư tả độc tụng vi tha quảng thuyết tư duy kỳ nghĩa tắc đắc kiến chi 。
nếu biên chép đọc tụng vì người khác rộng nói suy nghĩ ý nghĩa thì có thể được thấy.
聽是經者聞有檀名未能得見 檀波羅蜜 。
thính thị Kinh giả văn hữu đàn danh vị năng đắc kiến đàn ba la mật 。
nghe kinh này rồi, nghe có tên bố thí mà chưa được thấy bố thí Ba-la-mật ,
書寫讀誦為他廣說思惟其義。則能得見 檀波羅蜜 。
thư tả độc tụng vi tha quảng thuyết tư duy kỳ nghĩa 。tắc năng đắc kiến đàn ba la mật 。
nếu biên chép đọc tụng vì người khác rộng nói suy nghĩ ý nghĩa, thì có thể được thấy bố thí Ba-la-mật ,
乃至 般若波羅蜜 亦復如是。 善男子 。
nãi chí Bát-nhã ba la mật diệc phục như thị 。thiện nam tử 。
cho đến trí huệ Ba-la-mật cũng lại như vậy. Thiện nam tử !
菩薩 摩訶薩 若能聽是大 涅槃經 。則知法知義具二無礙。
Bồ-tát Ma-Ha tát nhược năng thính thị Đại Niết-bàn Kinh 。tắc tri Pháp tri nghĩa cụ nhị vô ngại 。
Bồ-tát Ma-ha -tát nếu có thể nghe kinh Đại Niết-bàn này, thì biết pháp biết nghĩa, đủ hai thứ vô ngại,
於諸 沙門 婆羅門 等。
ư chư Sa-môn Bà-la-môn đẳng 。
ở nơi các Sa-môn, bà- la- môn ...
若天魔梵一切世中得無所畏。 開示 分別 十二部經 演說其義無有差違。
nhược Thiên ma phạm nhất thiết thế trung đắc vô sở úy 。khai kì phân biệt thập nhị bộ Kinh diễn thuyết kỳ nghĩa vô hữu sái vi 。
hoặc Trời, ma, phạm thiên , tất cả thế gian đều không sợ hãi, có thể khai thị phân biệt diễn thuyết ý nghĩa mười hai bộ kinh mà không có trái ngược
不從他聞而能自知。
bất tòng tha văn nhi năng tự tri 。
không từ người khác nghe mà có hể tự biết,
近於阿耨多羅三藐三 菩提 。 善男子 。是名聞已能為利益。斷疑心者。
cận ư a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề 。thiện nam tử 。thị Danh-Văn dĩ năng vi lợi ích 。đoạn nghi tâm giả 。
gần gũi nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Thiện nam tử , đây gọi là nghe rồi có thể làm lợi ích. Ba là có thể đoạn trừ tâm nghi ngờ,
疑有 二種 。一者疑名。二者疑義。
nghi hữu nhị chủng 。nhất giả nghi danh 。nhị giả nghi nghĩa 。
nghi có hai thứ: Một là nghi về danh tự, hai là nghi về ý nghĩa.
聽是經者斷疑名心。思惟義者斷疑義心。復次 善男子 。
thính thị Kinh giả đoạn nghi danh tâm 。tư duy nghĩa giả đoạn nghi nghĩa tâm 。phục thứ thiện nam tử 。
nghe kinh này rồi thì đoạn trừ được tâm nghi về danh tự, suy nghĩ nghĩa lý thì đoạn trừ được tâm nghi về ý nghĩa. Lại nữa Thiện nam tử !
疑有五種。一者疑佛定 涅槃 不。
nghi hữu ngũ chủng 。nhất giả nghi Phật định Niết-Bàn bất 。
Nghi có năm thứ: Một là nghi Phật có Niết-bàn hay không,
二者疑佛是常住不。三者疑佛是真樂不。
nhị giả nghi Phật thị thường trụ bất 。tam giả nghi Phật thị chân lạc bất 。
hai là nghi Phật có thường trụ hay không, ba là nghi Phật có phải là lạc chơn chánh không,
四者疑佛是真淨不。五者疑佛是實我不。
tứ giả nghi Phật thị chân tịnh bất 。ngũ giả nghi Phật thị thật ngã bất 。
bốn là nghi Phật có phải tịnh chơn chánh không, năm là nghi Phật có phải thật ngã không.
聽是經者疑佛 涅槃 則得永斷。
thính thị Kinh giả nghi Phật Niết-Bàn tắc đắc vĩnh đoạn 。
Nếu nghe kinh này thì đoạn trừ sự nghi Phật Niết-bàn hay không,
書寫讀誦為他廣說思惟其義四疑永斷。復次 善男子 。疑有 三種 。
thư tả độc tụng vi tha quảng thuyết tư duy kỳ nghĩa tứ nghi vĩnh đoạn 。phục thứ thiện nam tử 。nghi hữu tam chủng 。
nếu biên chép đọc tụng vì người khác rộng nói, suy nghĩ ý nghĩa thì đoạn trừ hết bốn sự nghi còn lại. Lại nữa Thiện nam tử , nghi có ba thứ,
一疑 聲聞 為有為無。二疑緣覺為有為無。
nhất nghi Thanh văn vi hữu vi vô 。nhị nghi Duyên giác vi hữu vi vô 。
một là nghi có Thanh văn hay không, hai là nghi có Duyên giác hay không,
三疑佛乘為有為無。聽是經者如是三疑永滅無餘。
tam nghi Phật thừa vi hữu vi vô 。thính thị Kinh giả như thị tam nghi vĩnh diệt vô dư 。
ba là nghi có Phật Thừa hay không. Nếu nghe kinh này thì đoạn hết ba thứ nghi trên,
書寫讀誦為他廣說思惟其義。
thư tả độc tụng vi tha quảng thuyết tư duy kỳ nghĩa 。
nếu biên chép đọc tụng, vì người khác rộng nói, suy nghĩ về nghĩa lý
則能了知一切眾生悉有佛性。復次 善男子 。
tắc năng liễu tri nhất thiết chúng sanh tất hữu Phật tánh 。phục thứ Thiện nam tử 。 thì có thể rõ biết tất chúng sanh đều có Phật tánh. Lại nữa, Thiện nam tử,
若有眾生不聞如是大 涅槃經 其心多疑。
nhược hữu chúng sanh bất văn như thị Đại Niết-bàn Kinh kỳ tâm đa nghi 。
nếu có chúng sanh nghe kinh Đại Niết-bàn này thì trong tâm có nhiều nghi ngờ,
所謂若常 無常 若樂不樂若淨不淨若我 無我 。若命非命。
sở vị nhược thường vô thường nhược lạc bất lạc nhược tịnh bất tịnh nhược ngã vô ngã 。nhược mạng phi mạng 。
đó là nghi thường hay không thường, Lạc hay không lạc, tịnh hay không tịnh, ngã hay vô ngã , có mạng hay không,
若眾生非眾生。若畢竟不畢竟。若他世若過世。
nhược chúng sanh phi chúng sanh 。nhược tất cánh bất tất cánh 。nhược tha thế nhược quá thế。
là chúng sanh hay phi chúng sanh, rốt ráo hay không rốt ráo, là đời khác hay quá khứ,
若有若無。
nhược hữu nhược vô 。
nếu có hay không có,
若苦若非苦若集若非集若道若非道若滅若非滅。若法若非法。若善若非善。
nhược khổ nhược phi khổ nhược tập nhược phi tập nhược đạo nhược phi đạo nhược diệt nhược phi diệt 。nhược Pháp nhược phi Pháp 。nhược thiện nhược phi thiện 。
khổ hay không khổ, tập hay chẳng phải tập, đạo hay chẳng phải đạo, diệt hay không phải diệt, pháp hay phi pháp, thiện hay bất thiện,
若空若非空。聽是經者如是諸疑悉得永斷。
nhược không nhược phi không 。thính thị Kinh giả như thị chư nghi tất đắc vĩnh đoạn 。
hoặc là không hoặc chẳng phải không. Nếu nghe kinh này thì các sự nghi như vậy đều đoạn hết.
復次 善男子 。若有不聞如是經者。
phục thứ thiện nam tử 。nhược hữu bất văn như thị Kinh giả 。
Lại nữa thiện nam tử, nếu có người không nghe kinh này,
復有種種眾多疑心。所謂色是我耶 受想行識 是我耶。
phục hữu chủng chủng chúng đa nghi tâm 。sở vị sắc thị ngã da thọ tưởng hành thức thị ngã da 。
thì sẽ có nhiều thứ nghi ngờ, nghi rằng sắc là ngã hay thọ tưởng hành thức là ngã,
眼能見耶我能見耶。乃至識能知耶我能知耶。
nhãn năng kiến da ngã năng kiến da 。nãi chí thức năng tri da ngã năng tri da 。
nhãn là năng kiến hay ngã là năng kiến,cho đến thức là năng tri hay ngã là năng tri,
色受報耶我受報耶。乃至識受報耶我受報耶。
sắc thọ báo da ngã thọ báo da 。nãi chí thức thọ báo da ngã thọ báo da 。
sắc là thọ báo hay ngã thọ báo, cho đến thức thọ báo hay ngã thọ báo,
色至他世耶我至他世耶。乃至識亦如是。
sắc chí tha thế da ngã chí tha thế da 。nãi chí thức diệc như thị 。
là sắc đi đến đời khác hay ngã đi đến đời khác, cho đến thức cũng lại như vậy,
生死之 法有 始有終耶。
sanh tử chi Pháp hữu thủy hữu chung da 。
pháp sanh tử có thủ chung không,
無始無終耶聽是經者如是等疑亦得永斷。復有人疑。
vô thủy vô chung da thính thị Kinh giả như thị đẳng nghi diệc đắc vĩnh đoạn 。phục hữu nhân nghi 。
hay là vô thỉ vô chung. Nếu nghe kinh này thì các thứ nghi như vậy cũng đươ;cj đoạn trừ. Lại có người nghi rằng:
一闡提人犯 四重禁 作 五逆 罪謗方等經。
nhất xiển đề nhân phạm tứ trọng cấm tác ngũ nghịch tội báng phương đẳng Kinh 。
hạng Nhất xiển đề phạm bốn tội nặng, làm năm tội nghịch, hủy báng kinh phương đẳng,
如是等輩有佛性耶無佛性耶。聽是經者如是等疑悉得永斷。
như thị đẳng bối hữu Phật tánh da vô Phật tánh da 。thính thị Kinh giả như thị đẳng nghi tất đắc vĩnh đoạn 。
hạng người như vậy là có Phật tánh hay không có Phật tánh. Nếu nghe kinh này rồi thì các sự nghi như vậy sẽ được đoạn trừ.
復有人疑。世間有邊耶世間無邊耶。
phục hữu nhân nghi 。thế gian hữu biên da thế gian vô biên da 。
Lại có người nghi rằng, thế gian có chỗ tận cùng hay không tận cùng,
有 十方 世界耶無十方世界耶。
hữu thập phương thế giới da vô thập phương thế giới da 。
có mười phương thế giới hay không có mười phương thế giới.
聽是經者如是等疑亦得永斷。是名能斷 疑惑 之心。
thính thị Kinh giả như thị đẳng nghi diệc đắc vĩnh đoạn 。thị danh năng đoạn nghi hoặc chi tâm 。
Nếu nghe kinh này rồi thì các sự nghi như vậy cũng được trừ diệt, đó gọi là có thể đoạn trừ tâm nghi hoặc .
慧心正直無邪曲者。心若有疑則所見不正。
tuệ tâm chánh trực vô tà khúc giả 。tâm nhược hữu nghi tắc sở kiến bất chánh 。
Bốn là tâm huệ ngay thẳng không có cong quẹo, nếu tâm có nghi ngờ thì sự thấy không chơn chánh,
一切凡夫若不得聞是 大涅槃 微妙經典所見邪曲。
nhất thiết phàm phu nhược bất đắc văn thị Đại Niết-Bàn vi diệu Kinh điển sở kiến tà khúc 。
tất cả phàm phu nếu không được nghe Kinh Đại Niết-bàn vi diệu này thì sự thấy đều tà vọng,
乃至 聲聞 辟支佛 人所見亦曲。
nãi chí Thanh văn Bích-chi-phật nhân sở kiến diệc khúc 。
cho đến hàng Thamh Văn, Bích-chi-phật cũng lại như vậy.
云何名為一切凡夫所見邪曲。於有漏中見常樂我淨。
vân hà danh vi nhất thiết phàm phu sở kiến tà khúc 。ư hữu lậu trung kiến thường lạc ngã tịnh 。
Tại sao nói chỗ thấy của tất cả phàm phu là tà vọng? bởi đối với hữu lậu mà thấy thường, lạc, ngã, tịnh.
於 如來 所見 無常 苦不淨 無我 。見有眾生壽命知見。
ư Như Lai sở kiến vô thường khổ bất tịnh vô ngã 。kiến hữu chúng sanh thọ mạng tri kiến 。
Đối với Như Lai thì thấy vô thường , khổ, bất tịnh, vô ngã , thấy có chúng sanh thọ mạng, tri kiến,
計 非有 想非無想處以為 涅槃 。
kế Phi hữu tưởng Phi vô tưởng xứ dĩ vi Niết-Bàn 。
nghĩ rằng cõi phi hữu tưởng và phi vô tưởng là Niết-bàn ,
見 自在天 有 八聖 道。有見斷見如是等見名為邪曲。
kiến Tự Tại Thiên hữu bát Thánh đạo 。hữu kiến đoạn kiến như thị đẳng kiến danh vi tà khúc 。
thấy cõi trời Tự Tại có Bát Thánh Đạo, hữu kiến, đoạn kiến, các sự thấy như vậy thì gọi là tà vạy.
菩薩 摩訶薩 若得聞是大 涅槃經 。
Bồ-tát Ma-Ha tát nhược đắc văn thị Đại Niết-bàn Kinh 。
Bồ-tát Ma-ha -tát nếu được nghe kinh Đại Niết-bàn này,
修行聖行則得斷除如是邪曲。
tu hành Thánh hành tắc đắc đoạn trừ như thị tà khúc 。
tu hành bậc Thánh, tức trừ diệt các thứ tà vạy như trên.
云何名為 聲聞 緣覺邪曲見耶。見於 菩薩 從 兜率 下化乘白象降神母胎。
vân hà danh vi Thanh văn Duyên giác tà khúc kiến da 。kiến ư Bồ-tát tòng Đâu Suất hạ hóa thừa bạch tượng hàng Thần mẫu thai 。
Thế nào gọi là Thanh văn , Duyên giác thấy tà vạy? đó là thấy Bồ-tát từ cõi trời Đâu Suất cưỡi voi trắng giáng trần rồi vào thai mẹ,
父名淨飯母曰 摩耶 。
phụ danh Tịnh Phạn mẫu viết ma da 。
có cha tên là Tịnh Phạn, mẹ là Ma-gia,
迦毘羅城處胎滿足十月而生。生未至地 帝釋 捧接。
ca tì la thành xử thai mãn túc thập nguyệt nhi sanh 。sanh vị chí địa đế thích phủng tiếp 。
cung Vua tại thành Ca-tỳ-la, Bồ-tát ở trong thai đủ mười tháng mà sanh ra, vừa sanh liền có Vua Đế Thích đỡ lấy không để chạm đất.
難陀 龍王 及婆難陀吐水而浴。
Nan đà long Vương cập bà Nan đà thổ thủy nhi dục 。
Long vương Nan-đà và Bà-nan-đà phun nước để tắm gội cho Thái tử,
摩尼跋陀大鬼神王執持寶蓋隨後侍立地神化花以承其足。
Ma ni bạt đà Đại quỷ Thần Vương chấp trì bảo cái tùy hậu thị lập địa Thần hóa hoa dĩ thừa kỳ túc 。
Đại quỷ thần vương Ma-ni-bạt-đà cầm lọng báu đứng hầu sau lưng, Địa thần biến hóa hoa sen nâng đỡ dưới chân,
四方各行滿足七步。
tứ phương các hành mãn túc thất bộ 。
Thái Tử bước đi bảy bước xung quanh bốn phương,
到於天廟令諸天像悉起承迎 阿私陀 仙抱持占相。既占相已生 大悲 苦。
đáo ư Thiên miếu lệnh chư Thiên tượng tất khởi thừa nghênh a tư đà tiên bão trì chiêm tướng 。ký chiêm tướng dĩ sanh Đại bi khổ 。
đến nơi miếu trời thì các chư thiên đều đứng dậy nghinh đón, đạo sĩ A-tư-đà đến ẳm bồng và xem tướng, xem tướng rồi thì đạo sĩ buồn bả,
自傷當終不覩佛興。
tự thương đương chung bất đổ Phật hưng 。
tự buồn bởi mình sẽ không gặp được Phật pháp.
詣師學書算計射禦圖讖伎藝。處在深宮六萬婇女娛樂受樂。
nghệ sư học thư toán kế xạ ngữ đồ sấm kỹ nghệ 。xử tại thâm cung lục vạn thải nữ ngu lạc thọ lạc 。
Thái tử lớn lên học các kinh sách, toán số, kỹ nghệ, bắn cung, ở trong thâm cung luôn có sáu vạn cung nữ hầu hạ, hưởng thọ các thứ vui sướng.
出城遊觀至 迦毘羅 園。
xuất thành du quán chí ca tì la viên 。
Ra khỏi thành rồi đi dến vườn Ca-tỳ-la,
道見老人乃至 沙門 法服 而行。還至宮中見諸婇女形體狀貌猶如枯骨。
đạo kiến lão nhân nãi chí Sa-môn Pháp phục nhi hành 。hoàn chí cung trung kiến chư thải nữ hình thể trạng mạo do như khô cốt 。
giữa đường gặp người già, người bịnh, cho đến gặp vị Sa-môn uy nghi trong pháp phục , Thái Tử trở về cung thấy hình thể các cung nữ như bộ xương khô,
所有宮殿塚墓無異。厭惡出家夜半踰城。
sở hữu cung điện trủng mộ vô dị 。yếm ố xuất gia dạ bán du thành 。
cung điện giống như nhà mồ không khác, từ đó nhàm chán nên nữa đêm vượt thành xuất gia.
至欝陀伽 阿羅邏 等大仙人所。
chí uất đà dà a la lá đẳng Đại Tiên nhân sở 。
Đến chỗ các vị Đại tiên như Uất-đà-dà, A-la-la ...
聞說識處及 非有 想非無想處。
văn thuyết thức xử cập Phi hữu tưởng Phi vô tưởng xứ 。
Nghe nói chỗ tu chứng của họ là Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi phi tưởng xứ,
既聞是已諦觀是處是非常苦不淨 無我 捨至樹下具修 苦行 滿足六年。
ký văn thị dĩ đế quán thị xử thị phi thường khổ bất tịnh vô ngã xả chí thụ hạ cụ tu khổ hành mãn túc lục niên 。
nghe rồi liền quán sát biết những chỗ này chẳng phải thường, là khổ, bất tịnh, vô ngã , Thái Tử bèn đi đến dưới gốc cây tu khổ hạnh trong sáu năm,
知是 苦行 不能得成阿耨多羅三藐三 菩提 。
tri thị khổ hành bất năng đắc thành a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề 。
rồi biết được thực hành khổ hạnh không thể thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác .
爾時復到阿利跋提河中洗浴。
nhĩ thời phục đáo a lợi Bạt đề hà trung tẩy dục 。
Lúc bấy giờ Thái Tử liền đến sông A-lợi-bạt-đề tắm gội,
受牧牛女所奉乳糜。受已轉至 菩提樹 下。
thọ mục ngưu nữ sở phụng nhũ mi 。thọ dĩ chuyển chí Bồ-đề thụ hạ 。
thọ một bát sữa do mục nữ dâng cúng, rồi đi đến ngồi dưới cây Bồ-đề ,
破 魔波旬 得成阿耨多羅三藐三 菩提 。
phá Ma ba tuần đắc thành a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề 。
phá sự mê hoặc của ma ba-tuần mà thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác .
於 波羅奈 為五 比丘 初轉 法輪 。乃至於此 拘尸那 城入 般涅槃 。
ư ba la nại vi ngũ bỉ khâu sơ chuyển Pháp luân 。nãi chí ư thử Câu-thi-na thành nhập bát Niết-Bàn 。
Đến Ba-la-nại chuyển pháp luân cho năm vị Tỳ-kheo, cho đến ở thành Câu-thi-na mà nhập Niết-bàn .
如是等見。是名 聲聞 緣覺曲見。 善男子 。
như thị đẳng kiến 。thị danh Thanh văn Duyên giác khúc kiến 。thiện nam tử 。
Các sự thấy biết như vậy gọi là sự thấy tà vạy của Thanh văn , Duyên giác. Thiện nam tử ,
菩薩 摩訶薩 聽受如是大 涅槃經 。
Bồ-tát Ma-Ha tát thính thọ như thị Đại Niết-bàn Kinh 。
Bồ-tát Ma-ha -tát nếu nghe và lãnh thọ kinh Đại Niết-bàn này,
悉得斷除如是等見。若能書寫讀誦通利為他演說思惟其義。
tất đắc đoạn trừ như thị đẳng kiến 。nhược năng thư tả độc tụng thông lợi vi tha diễn thuyết tư duy kỳ nghĩa 。
tức đoạn trừ hết các sự thấy như vậy, nếu có thể biên chép đọc tụng thông lợi, vì người khác rộng nói, suy nghĩ nghĩa
則得正直無邪曲見。 善男子 。
tắc đắc chánh trực vô tà khúc kiến 。thiện nam tử 。
thì có được sự thấy chơn chánh không cong quẹo. Thiện nam tử ,
菩薩 摩訶薩 修行如是大 涅槃經 。
Bồ-tát Ma-Ha tát tu hành như thị Đại Niết-bàn Kinh 。
Bồ-tát Ma-ha -tát tu hành kinh Đại Niết-bàn này
諦知 菩薩 無量劫 來不從 兜率 降神母胎。乃至 拘尸那 城入 般涅槃 。
đế tri Bồ-tát vô lượng kiếp lai bất tòng Đâu Suất hàng Thần mẫu thai 。nãi chí Câu-thi-na thành nhập bát Niết-Bàn 。
thì rõ biết Bồ-tát từ vô lượng kiếp đến nay không phải từ cõi trời Đâu-suất giáng thần vào thi mẹ, cho đến không phải ở thành Câu-thi-na mà nhập Niết-bàn
是名 菩薩 摩訶薩正直之見。
thị danh Bồ-tát Ma-Ha tát chánh trực chi kiến 。
đây gọi là sự thấy chơn chánh của Bồ-tát Ma-ha -tát.
能知 如來 深密義者。所謂即是 大般涅槃 一切眾生悉有佛性。
năng tri Như Lai thâm mật nghĩa giả 。sở vị tức thị Đại bát Niết-bàn nhất thiết chúng sanh tất hữu Phật tánh 。
Năm là có thể biết được nghĩa bí mật thâm sâu của Như Lai , nghĩa là trong kinh Đại Niết-bàn nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh,
懺 四重禁 除謗法心盡 五逆 罪滅 一闡提 。
sám tứ trọng cấm trừ báng Pháp tâm tận ngũ nghịch tội diệt nhất xiển đề 。
nếu sám hối khi phạm bốn tội nặng, trừ bỏ tâm phỉ báng chánh pháp , diệt năm tội nghịch, đoạn trừ nhất xiển đề
然後得成阿耨多羅三藐三 菩提 。
nhiên hậu đắc thành a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề 。
sau đó sẽ đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ,
是名甚深祕密之義。復次 善男子 。云何復名甚深之義。
thị danh thậm thâm bí mật chi nghĩa 。phục thứ thiện nam tử 。vân hà phục danh thậm thâm chi nghĩa 。
đây gọi là ý nghĩa bí mật thâm sâu. Lại nữa, thiện nam tử, thế nào gọi là ý nghĩa thâm sâu?
雖知眾生實無有我。而於未來不失業果。
tuy tri chúng sanh thật vô hữu ngã 。nhi ư vị lai bất thất nghiệp quả 。
nghĩa là tuy biết chúng sanh thật không có ngã, mà ở đời vị lai không mất nghiệp quả,
雖知五陰於此滅盡。善惡之業終不敗亡。
tuy tri ngũ uẩn ư thử diệt tận 。thiện ác chi nghiệp chung bất bại vong 。
tuy biết chết thì Năm ấm diệt hết mà nghiệp thiện ác trọn không mất,
雖有諸業不得作者。雖有至處無有去者。
tuy hữu chư nghiệp bất đắc tác giả 。tuy hữu chí xử vô hữu khứ giả 。
tuy có c ác nghiệp mà không tạo tác, tuy có chỗ đến mà không chỗ đi,
雖有繫縛無受縛者。雖有 涅槃 亦無滅者。
tuy hữu hệ phọc thị cố phược giả。Tuy hữu Niết-Bàn diệc vô diệt giả 。
dầu có hệ phọc vì vậy trói。dầu có Niết-Bàn cũng vô mất 。
tuy có trói buộc mà không thọ trói buộc, tuy có Niết-bàn mà cũng không diệt,
是名甚深祕密之義。
thị danh thậm thâm bí mật chi nghĩa 。
đó gọi là nghĩa bí mật thâm sâu.
爾時光明遍照高貴德王 菩薩 摩訶薩白佛言。 世尊 。如我解佛所說聞不聞。
nhĩ thời quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương Bồ-tát Ma-Ha tát bạch Phật ngôn 。 Thế tôn 。như ngã giải Phật sở thuyết văn bất văn 。
Lúc bấy giờ Quang Minh Biến Chiếu Cao QuÝ Đức Vương Bồ-tát Ma-ha -tát bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn ! Như con hiểu lời Phật dạy là nghe điều không được nghe,
義是義不。然何以故。法若有者便應定有。
nghĩa thị nghĩa bất 。nhiên hà dĩ cố 。Pháp nhược hữu giả tiện ứng định hữu 。
ý nghĩa đúng ý nghĩa không, nhưng tại vì sao nếu pháp đã có thì nhất định có,
法若無者便應定無。無不應生有不應滅。
Pháp nhược vô giả tiện ứng định vô 。vô bất ứng sanh hữu bất ứng diệt 。
Nếu là không thì nhất định không, đã không thì không nên sanh, đã có thì không nên diệt,
如其聞者是則為聞。若不聞者則為不聞。
như kỳ văn giả thị tắc vi văn 。nhược bất văn giả tắc vi bất văn 。
như được nghe thì nghe, nếu không được nghe thì không nghe,
云何而言聞所不聞。 世尊 。若不可聞是為不聞。
vân hà nhi ngôn văn sở bất văn 。 Thế tôn 。nhược bất khả văn thị vi bất văn 。
tại sao nói nghe điều không được nghe. Bạch Thế Tôn ! Nếu không thể nghe đó là không nghe,
若已聞者則更不聞。何以故。已得聞故。
nhược dĩ văn giả tắc canh bất văn 。hà dĩ cố 。dĩ đắc văn cố 。
nếu đã nghe thì không nghe lại. Tại vì sao, do đã được nghe vậy,
云何而言聞所不聞。譬如去者。到則不去去則不到。
vân hà nhi ngôn văn sở bất văn 。thí như khứ giả 。đáo tắc bất khứ khứ tắc bất đáo 。
tại sao mà nói nghe điều không nghe. Thí như gọi là đi, đến thì không đi, đi thì không đế n,
亦如生已不生不生不生。得已不得不得不得。
diệc như sanh dĩ bất sanh bất sanh bất sanh 。đắc dĩ bất đắc bất đắc bất đắc 。
cũng như sanh rồi thì không sanh, không sanh cái không sanh, đắc rồi thì không đắc, không đắc cái không đắc,
聞已不聞不聞不聞亦復如是。 世尊 。若不聞聞者。
văn dĩ bất văn bất văn bất văn diệc phục như thị 。 Thế tôn 。nhược bất văn văn giả 。
nghe rồi thì không nghe, không nghe cái không nghe cũng lại như vậy. Bạch Thế Tôn ! Nếu không nghe cái nghe,
一切眾生未有 菩提 即應有之。
nhất thiết chúng sanh vị hữu Bồ-đề tức ứng hữu chi 。
thì tât cả chúng sanh chưa có tâm Bồ-đề thì phải nên có,
未得 涅槃 亦應得之。未 見佛 性應見佛性。
vị đắc Niết-Bàn diệc ứng đắc chi 。vị kiến Phật tánh ứng kiến Phật tánh 。
chưa đắc Niết-bàn phải nên đắc, chưa thấy Phật tánh phải nên thấy.
云何復言 十住 菩薩 雖 見佛 性未得明了。 世尊 。若不聞聞者。
vân hà phục ngôn thập trụ Bồ-tát tuy kiến Phật tánh vị đắc minh liễu 。 Thế tôn 。nhược bất văn văn giả 。
Tại sao nói Thập Trụ Bồ-tát tuy thấy Phật tánh mà chưa được rõ ràng. Bạch Thế Tôn , nếu không nghe cái nghe,
如來往昔從誰得聞。若言得聞。
Như Lai vãng tích tòng thùy đắc văn 。nhược ngôn đắc văn 。
thì thuở xưa Như Lai được nghe từng ai, nếu nói được nghe,
何故 如來 於 阿含 中復言無師。
hà cố Như Lai ư A-hàm trung phục ngôn vô sư 。
thì tại sao trong kinh A-hàm Như Lai nói là không có bậc thầy.
若不聞不聞 如來 得成阿耨多羅三藐三 菩提 者。
nhược bất văn bất văn Như Lai đắc thành a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề giả 。
Nếu không nghe cái không nghe mà Như Lai đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác
一切眾生不聞不聞亦應得成阿耨多羅三藐三 菩提 。
nhất thiết chúng sanh bất văn bất văn diệc ứng đắc thành a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề 。
thì tất cả chúng sanh không nghe cái không nghe cũng nên đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác .
如來若當不聞如是大 涅槃經 見佛 性者。
Như Lai nhược đương bất văn như thị Đại Niết-bàn Kinh kiến Phật tánh giả 。
Nếu Như Lai đúng là không nghe kinh Đại Niêt-bàn như vậy mà thấy được Phật tánh,
一切眾生不聞是經亦應得見。 世尊 。
nhất thiết chúng sanh bất văn thị Kinh diệc ứng đắc kiến 。 Thế tôn 。
thì tất cả chúng sanh không nghe kinh này cũng nên thấy Phật tánh. Bạch Thế Tôn ,
凡是色者或有可見或不可見。聲亦如是或是可聞或不可聞。
phàm thị sắc giả hoặc hữu khả kiến hoặc bất khả kiến 。thanh diệc như thị hoặc thị khả văn hoặc bất khả văn 。
phàm là sắc hoặc có thể thấy hoặc không thể thấy, tiếng cũng như vậy, hoặc có thể nghe hoặc không thể nghe,
是 大涅槃 非色非聲。云何而言可得見聞。 世尊 。
thị Đại Niết-Bàn phi sắc phi thanh 。vân hà nhi ngôn khả đắc kiến văn 。 Thế tôn 。,
kinh Đại Niết-bàn chẳng phải sắc chẳng phải tiếng, tại sao nói có thể đắc có thể nghe. Bạch Thế Tôn ,
過去已滅則不可聞。未來未至亦不可聞。
quá khứ dĩ diệt tắc bất khả văn 。vị lai vị chí diệc bất khả văn 。
quá khứ đã diệt thì không thể nghe, vị lai chưa đến cũng không thể nghe,
現在聽時則不名聞。聞已聲滅更不可聞。
hiện tại thính thời tắc bất Danh-Văn 。văn dĩ thanh diệt canh bất khả văn 。
hiện tại nghe thì không gọi là nghe, nghe rồi thì âm thanh diệt mất lại không thể nghe.
是 大涅槃 亦非過去未來現在。
thị Đại Niết-Bàn diệc phi quá khứ vị lai hiện tại 。
Kinh Đại Niết-bàn này chẳng phải quá khứ, vị lai, hiện tại,
若非 三世 則不可說。若不可說則不可聞。 nhược phi tam thế tắc bất khả thuyết 。nhược bất khả thuyết tắc bất khả văn 。
nếu chẳng phải ba đời thì không thể thuyết, nếu không thể thuyết thì không thể nghe,
云何而言 菩薩 修是大 涅槃經 聞所不聞。
vân hà nhi ngôn Bồ-tát tu thị Đại Niết-bàn Kinh văn sở bất văn 。
tại sao nói Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn thì có thể nghe điều không nghe.
爾時 世尊 讚光明遍照高貴德王 菩薩 摩訶薩
nhĩ thời Thế tôn tán quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương Bồ-tát Ma-Ha tát
Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo với Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ-tát Ma-ha -tát rằng:
言。善哉善哉。 善男子 。汝今善知一切諸法。
ngôn 。Thiện tai Thiện tai 。thiện nam tử 。nhữ kim thiện tri nhất thiết chư Pháp 。
Lành thay lành thay, Thiện nam Tử! nay ông khéo biết tất cả các pháp
如幻如焰如 乾闥婆城 畫水之跡。
như huyễn như diệm như Càn thát bà thành họa thủy chi tích 。
là như huyễn, như ánh chớp, như thành Càn-thát-bà vẻ dấu chân trên nước,
亦如泡沫芭蕉之樹 空無 有實。非命非我無有苦樂。
diệc như phao mạt ba tiêu chi thụ không vô hữu thật 。phi mạng phi ngã vô hữu khổ lạc 。
như bọt nước, như cây chuối, là trống rỗng không có thật, chẳng phải thân mạng, chẳng phải ngã, không có khổ vui,
如 十住 菩薩 之所知見。
như thập trụ Bồ-tát chi sở tri kiến 。
sự hiểu biết ấy cũng như hàng Thập trụ Bồ-tát .
時大眾中忽然之頃有大光明。
thời Đại chúng trung hốt nhiên chi khoảnh hữu Đại quang-minh 。
Lúc bấy giờ trong đại chúng bỗng nhiên có ánh sáng lớn,
非青見青非黃見黃非赤見赤非白見白。非色見色非明見明非見而見。
phi thanh kiến thanh phi hoàng kiến hoàng phi xích kiến xích phi bạch kiến bạch 。phi sắc kiến sắc phi minh kiến minh phi kiến nhi kiến 。
chẳng phải xanh mà thấy xanh, chẳng vàng mà thấy vàng, chẳng đỏ mà thấy đỏ, chẳng phải trắng mà thấy trắng, chẳng phải sắc mà thấy sắc, chẳng phải sáng mà thấy sáng, chẳng thấy mà thấy.
爾時大眾遇斯光已身心快樂。譬如 比丘 入 師子王 定。
nhĩ thời Đại chúng ngộ tư quang dĩ thân tâm khoái lạc 。thí như bỉ khâu nhập Sư-tử Vương định 。
Bấy giờ đại chúng gặp ánh sáng này rồi thì thân tâm vui vẻ, như Tỳ-kheo nhập định Sư Tử Vương,
爾時 文殊師利 菩薩 摩訶薩白佛言。 世尊 。
nhĩ thời Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát Ma-Ha tát bạch Phật ngôn 。 Thế tôn 。
lúc bấy giờ Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát Ma-ha -tát bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn !
今此光明誰之所放。爾時 如來 默然不說。
kim thử quang-minh thùy chi sở phóng 。nhĩ thời Như Lai mặc nhiên bất thuyết 。
Ánh sáng này là do ai phóng ra? Bấy giờ đức Như Lai im lặng không đáp.
迦葉 菩薩 復問 文殊師利 。
ca diệp Bồ-tát phục vấn Văn-thù-sư-lợi 。
Bồ-tát Ca-diếp lại hỏi Văn-thù-sư-lợi rằng:
何 因緣 故有此光明照於大眾。 文殊師利 默然不答。
hà nhân duyên cố hữu thử quang-minh chiếu ư Đại chúng 。 Văn-thù-sư-lợi mặc nhiên bất đáp 。
Do nhân duyên gì mà có ánh sáng này chiếu khắp đại chúng. Văn-thù-sư-lợi lại im lặng không đáp.
爾時 無邊身 菩薩 復問 迦葉 菩薩。今此光明誰之所有。
nhĩ thời vô biên thân Bồ-tát phục vấn ca diệp Bồ-tát 。kim thử quang-minh thùy chi sở hữu 。
Lúc bấy giờ Bồ-tát Vô Biên Thân lại hỏi Bồ-tát Ca-diếp : Nay ánh sáng này là của ai?
迦葉 菩薩 默然不說。
ca diệp Bồ-tát mặc nhiên bất thuyết 。
Bồ-tát Ca-diếp im lặng không đáp.
淨住王子 菩薩 復問 無邊身 菩薩。何 因緣 故是大眾中有此光明。
tịnh trụ Vương tử Bồ-tát phục vấn vô biên thân Bồ-tát 。hà nhân duyên cố thị Đại chúng trung hữu thử quang-minh 。
Bồ-tát Tịnh Trụ Vương Tử lại hỏi Bồ-tát Vô Biên Thân: Do nhân duyê gì mà trong Đại chúng cmó ánh sáng này?
無邊身 菩薩 默然不說。如是五百菩薩皆亦如是。
vô biên thân Bồ-tát mặc nhiên bất thuyết 。như thị ngũ bách Bồ-tát giai diệc như thị 。
Bồ-tát Vô Biên Thân lặng im không đáp. Như vậy lần lượt đến năm trăm vị Bồ-tát đều như nhau,
雖相諮問然無答者。爾時 世尊 問 文殊師利 言。
tuy tướng ti vấn nhiên vô đáp giả 。nhĩ thời Thế tôn vấn Văn-thù-sư-lợi ngôn 。
tuy cùng hỏi nhưng im lặng không đáp. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn hỏi Văn-thù-sư-lợi rằng:
文殊師利。何 因緣 故。是大眾中有此光明。
Văn-thù-sư-lợi 。hà nhân duyên cố 。thị Đại chúng trung hữu thử quang-minh 。
Văn-thù-sư-lợi, do nhân duyên gì mà trong Đại chúng có ánh sáng này?
文殊師利言。 世尊 。如是光明名為智慧。
Văn-thù-sư-lợi ngôn 。 Thế tôn 。như thị quang-minh danh vi trí tuệ 。
Văn-thù-sư-lợi đáp: Bạch Thế Tôn ! Ánh sáng này gọi là trí tuệ,
智慧者即是常住。常住之法無有 因緣 。
trí tuệ giả tức thị thường trụ 。thường trụ chi Pháp vô hữu nhân duyên 。
trí tuệ tức là thường trụ, pháp thường trụ thì không có nhân duyên ,
云何佛問何 因緣 故有是光明。是光明者名 大涅槃 。
vân hà Phật vấn hà nhân duyên cố hữu thị quang-minh 。thị quang-minh giả danh Đại Niết-Bàn 。
sao Phật hỏi do nhân duyên gì mà có ánh sáng này. Ánh sáng này gọi là Đại Niết-bàn ,
大 涅槃 者則名常住。常住之法不從 因緣 。
Đại Niết-Bàn giả tắc danh thường trụ 。thường trụ chi Pháp bất tòng nhân duyên 。
Đại Niết Bàn này tức là thường trụ, pháp thường trụ thì không từ nhân duyên ,
云何佛問何 因緣 故有是光明。
vân hà Phật vấn hà nhân duyên cố hữu thị quang-minh 。
sao Phật hỏi do nhân duyên gì mà có ánh sáng này.
是光明者即是 如來 。如來者即是常住。常住之法不從 因緣 。
thị quang-minh giả tức thị Như Lai 。Như Lai giả tức thị thường trụ 。thường trụ chi Pháp bất tòng nhân duyên 。
Ánh sáng này tức là Như Lai , Như Lai tức là thường trụ, pháp thường trụ thì không từ nhân duyên ,
云何 如來 問於 因緣 。光明者名 大慈大悲 。
vân hà Như Lai vấn ư nhân duyên 。quang-minh giả danh Đại từ Đại bi 。
sao Như Lai hỏi về nhân duyên . Ánh sáng này gọi là Đại Từ Đại Bi.
大慈 大悲者 名為常住。常住之法不從 因緣 。
Đại từ Đại bi giả danh vi thường trụ 。thường trụ chi Pháp bất tòng nhân duyên 。
Đại từ đại bi tức là thường trụ, pháp thường trụ thì không từ nhân duyên ,
云何 如來 問於 因緣 。光明者即是 念佛 。
vân hà Như Lai vấn ư nhân duyên 。quang-minh giả tức thị niệm Phật 。
Sao Như Lai hỏi về nhân duyên . Ánh sáng này tức là niệm Phật ,
念佛者是名常住。常住之法不從 因緣 。
niệm Phật giả thị danh thường trụ 。thường trụ chi Pháp bất tòng nhân duyên 。
niệm Phật gọi là thường trụ, pháp thường trụ thì không từ nhân duyên ,
云何 如來 問於 因緣 。光明者即是一切 聲聞 緣覺不共之道。
vân hà Như Lai vấn ư nhân duyên 。quang-minh giả tức thị nhất thiết Thanh văn Duyên giác bất-cộng chi đạo 。
sao Như Lai hỏi về nhân duyên . Ánh sáng này tức là Đạo không cùng chung của tất cả Thanh văn , Duyên giác.
聲聞緣覺不共之道即名常住。
Thanh văn Duyên giác bất-cộng chi đạo tức danh thường trụ 。
Đạo không cùng chung của tất cả Thanh văn , Duyên giác tức là thường trụ,
常住之法不從 因緣 。云何 如來 問於因緣。 世尊 。
thường trụ chi Pháp bất tòng nhân duyên 。vân hà Như Lai vấn ư nhân duyên 。 Thế tôn 。
pháp trường trụ thì không cùng nhân duyên , sao Như Lai hỏi về nhân duyên. Bạch Thế Tôn !
亦有 因緣 因滅無明。
diệc hữu nhân duyên nhân diệt vô minh 。
Cũng có nhân duyên , nhân diệt vô minh
則得熾然阿耨多羅三藐三 菩提 燈。佛言。 文殊師利 。
tắc đắc sí nhiên a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề đăng 。Phật ngôn 。 Văn-thù-sư-lợi 。
thì ngọn đuốc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cháy rực. Phật dạy: Văn-thù-sư-lợi
汝今莫入諸法甚深第一義諦。應以世諦而解說之。 文殊師利 言。 世尊 。
nhữ kim mạc nhập chư Pháp thậm thâm đệ nhất nghĩa đế 。ứng dĩ thế đế nhi giải thuyết chi 。 Văn-thù-sư-lợi ngôn 。 Thế tôn 。
nay ông chớ bước vào các pháp đệ nhất nghĩa đế thâm sâu, nên dùng pháp thế gian mà giảng thuyết. Văn-thù-sư-lợi thưa: Bạch Thế Tôn !
於此東方過二十恒河沙等世界。
ư thử Đông phương quá nhị thập hằng hà sa đẳng thế giới 。
Về phía Đông cách đây hơn hai mươi hằng hà sa thế giới,
有 佛世界 名曰 不動 。
hữu Phật thế giới danh viết bất động 。
có một thế giới Phật tên là Bất Động.
其佛住處縱廣正等足滿一萬二千 由旬 。其地 七寶 無有土石。
kỳ Phật trụ xử túng quảng chánh đẳng túc mãn nhất vạn nhị thiên do-tuần 。kỳ địa thất bảo vô hữu độ thạch 。
Cõi Phật ấy rộng một vạn hai ngàn do tuần, đất bằng bảy báu không có đất đá,
平正柔軟無諸溝坑。其諸樹木四寶所成。
bình chánh nhu nhuyễn vô chư câu khanh 。kỳ chư thụ mộc tứ bảo sở thành 。
đất bằng thẳng mềm mại không có hầm hố,cùng các hàng cây đều làm bằng bốn thứ báu,
金銀琉璃及以頗梨。花果茂盛無時不有。
kim ngân lưu ly cập dĩ pha-lê 。hoa quả mậu thịnh vô thời bất hữu 。
là vàng, bạc, lưu ly và pha lê, hoa trái sum xuê không lúc nào là không có,
若有眾生聞其花香身心安樂。譬如 比丘 入 第三禪 。
nhược hữu chúng sanh văn kỳ hoa hương thân tâm an lạc 。thí như bỉ khâu nhập đệ tam Thiền 。
nếu có chúng sanh nào nghe được mùi hương của hoa ấy thì thân tâm an lạc, như Tỳ-kheo nhập định Tam thiền.
周匝復有三千大河。其水微妙 八味 具足。
châu tạp phục hữu tam thiên Đại hà 。kỳ thủy vi diệu bát vị cụ túc 。
Xung quanh lại có ba ngàn con sông lớn, nước ấy vi diệu đủ tám thứ công đức ,
若有眾生在中浴者。所得喜樂譬如 比丘 入 第二禪 。
nhược hữu chúng sanh tại trung dục giả 。sở đắc thiện lạc thí như bỉ khâu nhập đệ nhị Thiền 。
nếu có chúng sanh nào tắm trong sông ấy thì được vui sướng như Tỳ-kheo nhập định Tam thiền,
其河多有種種諸花。
kỳ hà đa hữu chủng chủng chư hoa 。
trên sông có rất nhiều thứ hoa,
優 鉢羅 花 波頭摩 花 拘物頭 花 分陀利 花香花大香花微妙香花常花一切眾
Ưu bát la hoa ba đầu ma hoa câu vật đầu hoa phân đà lợi hoa hương hoa Đại hương hoa vi diệu hương hoa thường hoa nhất thiết chúng
Như là hoa Ưu-bát-la, Ba-đầu-ma, Câu-vật-đầu, Phân-đà-lợi, hoa Hương, hoa Đại hương, hoa Vi diệu hương,
生無遮護花。其河兩岸亦有眾花。
sanh vô già hộ hoa。kỳ hà lượng ngạn diệc hữu chúng hoa 。
hoa Nhất thiết chúng sanh vô giá hộ. Hai bên bờ sông cũng có các thứ hoa,
所謂 阿提目多 伽花占婆花波吒羅花婆師羅花摩利迦
sở vị a đề mục đa dà hoa chiêm bà hoa ba trá la hoa bà sư la hoa ma lợi ca
đó là hoa A-đề-mục-đà-già, hoa Chiêm-bặc, hoa Ba-tra-la, hoa Bà-sư-la, hoa Ma-lợi-ca,
花大摩利迦花新摩利迦花 須摩那 迦花由
hoa Đại ma lợi ca hoa tân ma lợi ca hoa tu ma na ca hoa do
hoa Đại ma-lợi-ca, hoa Tân-ma-lợi-ca, hoa Tu-ma-na-ca,
提迦花檀[少/兔]迦利花常花一切眾生無遮護
đề ca hoa đàn [Nậu Nậu Nậu ]Ca lợi hoa thường hoa nhất thiết chúng sanh vô già hộ
hoa Du-đề-ca, hoa Đàn-ca-lợi, hoa Nhất thiết chúng sanh vô giá hộ.
花。底布金沙有四梯梐金銀琉璃雜色頗梨。
hoa 。để bố kim sa hữu tứ thê bệ kim ngân lưu ly tạp sắc pha-lê 。
Đáy sông làm bằng cát vàng, có bốn bậc thang được làm bằng vàng, bạc, lưu ly , pha lê,
多有眾鳥遊集其上。
đa hữu chúng điểu du tập kỳ thượng 。
có rất nhiều loài chim tụ tập trên ấy.
復有無量虎狼師子諸惡鳥獸。其心相視猶如赤子。
phục hữu vô lượng hổ lang Sư-tử chư ác điểu thú 。kỳ tâm tướng thị do như xích tử 。
Lại có vô lượng ác thú như hổ lang, sư tử, mà tâm chúng đối xử nhu như con đỏ.
彼世界中一切無有犯重禁者。
bỉ thế giới trung nhất thiết vô hữu phạm trọng cấm giả 。
trong thế giới ấy không có những người phạm trọng giới cấm,
誹謗 正法 及 一闡提 五逆 等罪。其土調適無有寒熱飢渴苦惱。
phỉ báng chánh Pháp cập nhất xiển đề ngũ nghịch đẳng tội 。kỳ độ điều thích vô hữu hàn nhiệt cơ khát khổ não 。
hoặc phỉ báng chánh pháp , không có hạng Nhất xiển đề hay phạm năm tội nghịch. Cõi ấy điều hòa không có nóng lạnh, đói khác hay khổ não,
無貪欲恚放逸嫉妬。無有日月晝夜時節。
vô tham dục khuể phóng dật tật đố 。vô hữu nhật nguyệt trú dạ thời tiết 。
không có tham dục, sân giận, phóng dật hay tật đố, không thời tiết ngày đêm hay mặt trời, mặt trăng,
猶如第二 忉利天 上。其土人民等有光明。
do như đệ nhị đao lợi Thiên thượng 。kỳ độ nhân dân đẳng hữu quang-minh 。
mà cuộc sống như cõi trời Đao Lợi . Nhân dân cõi ấy đều có hào quang,
各各無有憍慢之心。一切悉是 菩薩 大士。
các các vô hữu kiêu mạn chi tâm 。nhất thiết tất thị Bồ-tát Đại sĩ 。
người người đều không có tâm kiêu mạn, tất cả đều là Bồ-tát Đại Sĩ,
皆得 神通 具大 功德 。其心悉皆尊重 正法 。
giai đắc thần thông cụ Đại công đức 。kỳ tâm tất giai tôn trọng chánh pháp 。 đều đắc thần thông, có đủ công đức lớn, đều có tâm tôn trọng chánh pháp,
乘於 大乘 愛念大乘貪樂大乘護惜大乘。 大慧 成就得大 總持 。
thừa ư Đại thừa ái niệm Đại thừa tham lạc Đại thừa hộ tích Đại thừa 。Đại Huệ thành tựu đắc Đại tổng trì 。
học pháp Đại thừa , nghĩ nhớ Đại thừa, ưa thích Đại thừa ủng hộ Đại thừa, thành tựu đại tuệ , đắc đại tổng trì ,
心常憐愍一切眾生。
tâm thường liên mẫn nhất thiết chúng sanh 。
tâm thường thương mến tất cả chúng sanh.
其佛號曰滿月光明 如來 應供 正遍知 明行足 善逝 世間解 無上士 調御
kỳ Phật hiệu viết mãn nguyệt quang-minh Như Lai Ứng-Cúng Chánh-biến-Tri Minh-hạnh-Túc thiện thệ thế gian giải Vô-thượng-Sĩ điều ngự
Đức Phật cõi ấy hiệu là Mãn Nguyệt Quang Minh Như Lai , Ứng Cúng , Chánh Biến Tri , Minh Hạnh Túc , Thiện Thệ , Thế Gian Giải , Vô Thượng Sĩ , Điều Ngự,
丈夫 天人師 佛世尊 。隨所住處有所講宣。
trượng phu Thiên Nhơn Sư Phật Thế tôn 。tùy sở trụ xử hữu sở giảng tuyên 。
Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn , tùy theo chỗ Ngài trụ mà có tuyên giảng chánh pháp ,
其土眾生無不得聞為琉璃光 菩薩 摩訶薩講宣
kỳ độ chúng sanh vô bất đắc văn vi lưu ly quang Bồ-tát Ma-Ha tát giảng tuyên
chúng sanh cõi ấy không ai là không được nghe Bồ-tát Lưu Ly Quang tuyên giảng
如是大 涅槃經 。佛言。 善男子 。
như thị Đại Niết-bàn Kinh 。Phật ngôn 。thiện nam tử 。
kinh Đại Niết-bàn . Phật dạy: Thiện nam tử ,
菩薩 摩訶薩 若能修行大 涅槃經 。所不聞者皆悉得聞。
Bồ-tát Ma-Ha tát nhược năng tu hành Đại Niết-bàn Kinh 。sở bất văn giả giai tất đắc văn 。
Bồ-tát Ma-ha -tát nếu có thể tu hành kinh Đại Niết-bàn thì những điều không nghe đều được nghe hết,
彼琉璃光 菩薩 摩訶薩問滿月光明佛。
bỉ lưu ly quang Bồ-tát Ma-Ha tát vấn mãn nguyệt quang-minh Phật 。
Bồ-tát Lưu Ly Quang ấy hỏi Phật mãn Nguyệt Quang Minh,
亦如此間光明遍照高貴德王 菩薩 摩訶薩所問等無
diệc như thử gian quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương Bồ-tát Ma-Ha tát sở vấn đẳng vô
cũng như nay Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ-tát Ma-ha -tát hỏi Ta
有異。彼滿月光明佛即告琉璃光 菩薩 言。
hữu dị 。bỉ mãn nguyệt quang-minh Phật tức cáo lưu ly quang Bồ-tát ngôn 。
không khác. Phật Mãn Nguyệt Quang Minh ấy bảo với Bồ-tát Lưu Ly Quang rằng:
善男子。 西方 去此二十恒河沙 佛土 。
thiện nam tử 。 Tây phương khứ thử nhị thập hằng hà sa Phật thổ 。
Thiện nam tử, về phía Tây cách cõi này hai mươi hằng hà sa cõi Phật,
彼有世界名曰 娑婆 。
bỉ hữu thế giới danh viết Sa Bà 。
có một thế giới tên là Ta-bà ,
其土多有山陵堆阜土沙礫石荊蕀毒刺周遍充滿。常有飢渴寒熱苦惱。
kỳ độ đa hữu sơn lăng đôi phụ độ sa lịch thạch kinh 蕀độc thứ châu biến sung mãn 。thường hữu cơ khát hàn nhiệt khổ não 。
cõi ấy có nhiều núi non gò đồi đất đá ngói gạch, gai góc cùng các thứ độc hại vây quanh, thường có đói khát, nóng, lạnh, khổ não.
其土人民不能恭敬 沙門 婆羅門 父母師長。
kỳ độ nhân dân bất năng cung kính Sa-môn Bà-la-môn phụ mẫu sư trường 。
Nhân dân cõi ấy không biết cung kính Sa-môn, Bà-la-môn , cha mẹ, sư trưởng,
貪著非法欲於非法修行邪法不信 正法 壽命
tham trước phi Pháp dục ư phi Pháp tu hành tà Pháp bất tín chánh Pháp thọ mạng
tham đắm việc phi pháp, ưa thích phi pháp, tu hành tà pháp, không tin chánh pháp ,đời sống
短促。有行姦詐王者治之。
đoản xúc 。hữu hành gian trá Vương giả trì chi 。
ngắn ngũi. Có người gian trá thì Vua trị tội.
王雖有國不知滿足。於他所有生貪利心。
Vương tuy hữu quốc bất tri mãn túc 。ư tha sở hữu sanh tham lợi tâm 。
Vua tuy có đất nước mà không có biết đủ, thường sanh tâm tham đắm đối với nước khác,
興師相伐枉死者眾王者。修行如是非法。四天善神心無歡喜。
hưng sư tướng phạt uổng tử giả chúng Vương giả 。tu hành như thị phi Pháp 。tứ Thiên thiện Thần tâm vô hoan hỉ 。
rồi khởi binh đánh nhau làm chúng sanh chết oan, làm việc phi pháp như vậy khiến Tứ thiên vương, thiện thần không hoa n hỷ,
故降災旱穀米不登人民多病苦惱無量。
cố hàng tai hạn cốc mễ bất đăng nhân dân đa bệnh khổ não vô lượng 。
cho nên gieo hạn hán khiến lúa gạo không tốt, nhân dân phần nhiều bị bịnh khổ não vô lượng.
彼中有佛號 釋迦牟尼 如來 應供 正遍知 明行足
bỉ trung hữu Phật hiệu Thích-ca-mâu-ni Như Lai Ứng-Cúng Chánh-biến-Tri Minh-hạnh-Túc
Cõi ấy có đức Phật hiệu là Thích-ca-mâu-ni Như Lai , Ứng Cúng , Chánh Biến Tri , Minh Hạnh Túc ,
善逝 世間解 無上士 調御丈夫 天人師 佛世
thiện thệ thế gian giải Vô-thượng-Sĩ điều ngự trượng phu Thiên Nhơn Sư Phật thế
Thiện Thệ, Thế Gian Giải , Vô Thượng Sĩ , Điều Ngự Trượng Phu , Thiên Nhơn Sư, Phật Thế
尊。 大悲 純厚愍眾生故。
tôn 。Đại bi thuần hậu mẫn chúng sanh cố 。
Tôn. Do Phật có tâm đại bi thương xót chúng sanh,
於 拘尸那 城娑羅雙樹間。為諸大眾敷演如是大 涅槃經 。
ư Câu-thi-na thành sa-la song thụ gian 。vi chư Đại chúng phu diễn như thị Đại Niết-bàn Kinh 。
nên ở giữa hai cây Sa-la tại thành Câu-thi-na mà diễn thuyết kinh Đại Niết-bàn cho Đại chúng.
彼有 菩薩 名光明遍照高貴德王。
bỉ hữu Bồ-tát danh quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương 。
Lại có Bồ-tát tên là Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương,
已問斯事如汝無異。佛今答之汝可速往自當得聞。 世尊 。
dĩ vấn tư sự như nhữ vô dị 。Phật kim đáp chi nhữ khả tốc vãng tự đương đắc văn 。 Thế tôn 。
đã hỏi việc này cũng như Ông hỏi không khác. Nay đức Phật đang trả lời, Ông hãy mau đến đó thì sẽ được nghe.
彼琉璃光 菩薩 聞是事已。
bỉ lưu ly quang Bồ-tát văn thị sự dĩ 。
Bồ-tát Lưu ly Quang nghe việc này rồi
與八萬四千 菩薩 摩訶薩欲來至此故先現瑞。
dữ bát vạn tứ thiên Bồ-tát Ma-Ha tát dục lai chí thử cố tiên hiện thụy 。
liền cùng tám vạn bốn ngàn Bồ-tát Ma-ha -tát muốn đến cõi Ta-bà , cho nên hiện trước điều lành,
以此 因緣 有此光明。是名因緣亦非因緣。
dĩ thử nhân duyên hữu thử quang-minh 。thị danh nhân duyên diệc phi nhân duyên 。
do nhân duyên này mà có ánh sáng ấy, đây gọi là nhân duyên mà chẳng phải nhân duyên.
爾時琉璃光 菩薩 與八萬四千諸菩薩俱。
nhĩ thời lưu ly quang Bồ-tát dữ bát vạn tứ thiên chư Bồ-tát câu 。
Lúc bấy giờ Bồ-tát Lưu Ly Quang cùng với tám vạn bốn ngàn Bồ-tát
持諸幡蓋香花瓔珞種種伎樂倍勝於前。
trì chư phiên cái hương hoa anh lạc chủng chủng kĩ nhạc bội thắng ư tiền 。
cầm các lọng báu, hương hoa, anh lạc, các thứ kỹ nhạc
俱來至此 拘尸那 城娑羅雙樹間。以己所持供養之具供養於佛。
câu lai chí thử Câu-thi-na thành sa-la song thụ gian 。dĩ kỷ sở trì cung dưỡng chi cụ cung dưỡng ư Phật 。
rồi cùng đến nơi hai cây Sa-la thuộc thành Câu-thi-na, đem những thứ ấy mà cúng dường lên đức Phật,
頭面禮足合掌恭敬右繞三匝。
đầu diện lễ túc hợp chưởng cung kính hữu nhiễu tam tạp 。
đem đầu mặt lễ dưới chân Phật, chắp tay cung kính đi nhiễu bên phải ba vòng
修敬已畢却坐一面。
tu kính dĩ tất khước tọa nhất diện 。
rồi ngồi qua một bên.
爾時 世尊 問彼 菩薩 。 善男子 。
nhĩ thời Thế tôn vấn bỉ Bồ-tát 。thiện nam tử 。
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn hỏi Bồ-tát Lưu Ly Quang rằng:
汝為到來為不到來。琉璃光 菩薩 言。 世尊 。
nhữ vi đáo lai vi bất đáo lai 。 lưu ly quang Bồ-tát ngôn 。 Thế tôn 。
Ông đến đây hay là không đế n. Bồ-tát Lưu Ly Quang thưa: Bạch Thế Tôn ,
到亦 不來 不到亦不來。我觀是義都無有來。 世尊 。
đáo diệc Bất-lai bất đáo diệc Bất-lai 。ngã quán thị nghĩa đô vô hữu lai 。 Thế tôn 。
Đến cũng không đế n, không đến cũng không đến, con quán xét nghĩa này đều là không đến. Bạch Thế Tôn ,
諸行若常亦復 不來 。若是 無常 亦無有來。
chư hành nhược thường diệc phục Bất-lai 。nhược thị vô thường diệc vô hữu lai 。
Các hành nếu là thường cũng lại không đế n, nếu là vô thường cũng không có đến,
若人見有眾生性者有來 不來 。我今不見眾生定性。
nhược nhân kiến hữu chúng sanh tánh giả hữu lai Bất-lai 。ngã kim bất kiến chúng sanh định tánh 。
nếu có người thấy tánh của chúng sanh là có đến không đế n, nay con không thấy tánh nhất định của chúng sanh.
云何當言有來 不來 。有憍慢者見有去來。
vân hà đương ngôn hữu lai Bất-lai 。hữu kiêu mạn giả kiến hữu khứ lai 。
Tại sao nói có đến không đế n. Người có tâm kiêu mạn thì thấy có đến đi,
無憍慢者則無去來。有取行者見有去來。
vô kiêu mạn giả tắc vô khứ lai 。hữu thủ hành giả kiến hữu khứ lai 。
người không kiêu mạn thì không đế n đi, người chấp sự đi thì thấy có đến đi,
無取行者則無去來。若見 如來 畢竟 涅槃 則有去來。
vô thủ hành giả tắc vô khứ lai 。nhược kiến Như Lai tất cánh Niết-Bàn tắc hữu khứ lai 。
người không chấp sự đi thì không đế n đi. Nếu thấy Như Lai rốt ráo Niết-bàn thì có đến đi,
不見 如來 畢竟 涅槃 則無去來。
bất kiến Như Lai tất cánh Niết-Bàn tắc vô khứ lai 。
không thấy Như Lai rốt ráo Niết-bàn thì không đế n đi,
不聞佛性則有去來。聞佛性者則無去來。
bất văn Phật tánh tắc hữu khứ lai 。văn Phật tánh giả tắc vô khứ lai 。
không nghe Phật tánh thì có đến đi, nghe được Phật tánh thì không đế n đi,
若見 聲聞 辟支佛 人有 涅槃 者則有去來。
nhược kiến Thanh văn Bích-chi-phật nhân hữu Niết-Bàn giả tắc hữu khứ lai 。
nếu thấy Thanh văn , Bích-chi-phật có Niết-bàn thì có đến đi,
不見 聲聞 辟支佛 人有 涅槃 者則無去來。
bất kiến Thanh văn Bích-chi-phật nhân hữu Niết-Bàn giả tắc vô khứ lai 。
không thấy Thanh văn , Bích Chi , Phật Niết-bàn thì không có đến đi.
若見 聲聞 辟支佛 人常樂我淨則有去來。若不見者則無去來。
nhược kiến Thanh văn Bích-chi-phật nhân thường lạc ngã tịnh tắc hữu khứ lai 。nhược bất kiến giả tắc vô khứ lai 。
Nếu thấy Thanh văn , Bích-chi-phật thường, lạc, ngã, tịnh thì có đến đi, nếu không thấy thì không có đến đi.
若見 如來 無常 樂我淨則有去來。
nhược kiến Như Lai vô thường lạc ngã tịnh tắc hữu khứ lai 。
Nếu thấy Như Lai không có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh thì có đến đi,
若見 如來 常樂我淨則無去來。 世尊 。且置斯事欲有所問。
nhược kiến Như Lai thường lạc ngã tịnh tắc vô khứ lai 。 Thế tôn 。thả trí tư sự dục hữu sở vấn 。
nếu thấy Như Lai Thường Lạc Ngã Tịnh thì không đế n đi. Bạch Thế Tôn ,tạm gác việc này đã, nay con có điều muốn hỏi,
唯垂哀愍少見聽許。佛言。 善男子 。
duy thùy ai mẩn thiểu kiến thính hứa 。Phật ngôn 。thiện nam tử 。
xin Ngài thương xót hứa khả. Phật dạy: Thiện nam tử ,
隨意所問今正是時。我當為汝分別解說。所以者何。
tùy ý sở vấn kim chánh thị thời 。ngã đương vi nhữ phân biệt giải thuyết 。sở dĩ giả hà 。
tuỳ Ông hỏi nay chính là đúng thời. Ta sẽ vì Ông phân biệt giảng nói, tại vì sao,
諸佛難值如 優曇 花。法亦如是難可得聞。
chư Phật nan trị như ưu đàm hoa 。Pháp diệc như thị nan khả đắc văn 。
bởi chư Phật rất khó gặp như hoa Ưu Đàm nở, pháp cũng như vậy rất khó được nghe,
十二部經中方等復難。是故應當專心聽受。
thập nhị bộ Kinh trung phương đẳng phục nan 。thị cố ứng đương chuyên tâm thính thọ 。
trong mười hai bộ kinh Đại Thừa Phương Đẳng lại càng khó hơn, cho nên Ông phải chuyên tâm lắng nghe lãnh thọ.
時琉璃光 菩薩 摩訶薩。既蒙聽許兼被誡勅。即白佛言。
thời lưu ly quang Bồ-tát Ma-Ha tát 。ký mông thính hứa kiêm bị giới sắc 。tức bạch Phật ngôn 。
Lúc bấy giờ Lưu Ly Quang Bồ-tát Ma-ha -tát được Phật chấp thuận và chỉ dạy, Bồ-tát liền bạch Phật rằng:
世尊。
Thế tôn 。
Bạch Thế Tôn !
云何 菩薩 摩訶薩有能修行大 涅槃經 聞所不聞。爾時 如來 讚言。善哉善哉。 善男子 。
vân hà Bồ-tát Ma-Ha tát hữu năng tu hành Đại Niết-bàn Kinh văn sở bất văn 。nhĩ thời Như Lai tán ngôn 。Thiện tai Thiện tai 。thiện nam tử 。
Tại sao Bồ-tát Ma-ha -tát có thể tu hành kinh Đại Niết-bàn thì được nghe điều không nghe? Lúc bấy giờ Như Lai khen ngợi rằng: Lành thay lành thay, Thiện nam tử ,
汝今欲盡如是 大乘 大涅槃 海。
nhữ kim dục tận như thị Đại thừa Đại Niết-Bàn hải 。
nay Ông muốn hiểu hết kinh Đại Thừa Đại Niết-bàn này,
正復值我能善解說。汝今所有疑網毒鏃。
chánh phục trị ngã năng thiện giải thuyết 。nhữ kim sở hữu nghi võng độc thốc 。
đúng lúc gặp Ta có thể giảng thuyết, nay Ông đang có mũi tên độc là sự nghi ngờ,
我為大醫能善拔出。汝於佛性猶未明了。
ngã vi Đại y năng thiện bạt xuất 。nhữ ư Phật tánh do vị minh liễu 。
ta là bậc thầy thuốc có thể rút mũi tên độc, Ông đối với Phật tánh còn thấy mờ mịt.
我有慧炬能為照明。汝今欲度生死大河。我能為汝作 大船師 。
ngã hữu Tuệ-Cự năng vi chiếu minh 。nhữ kim dục độ sanh tử Đại hà 。ngã năng vi nhữ tác Đại thuyền sư 。
Ta có đuốc tụê có thể chiếu sáng. Nay Ông muốn vượt qua sông lớn sanh tử, Ta có thể vì Ông mà làm thuyền trưởng.
汝於我所生父母想。我亦於汝生赤子心。
nhữ ư ngã sở sanh phụ mẫu tưởng 。ngã diệc ư nhữ sanh xích tử tâm 。
Ông đối với Ta suy nghĩ như cha mẹ, Ta đối với Ông cũng sanh tâm là con đỏ,
汝心今者貪正 法寶 。值我多有能相惠施。
nhữ tâm kim giả tham chánh Pháp bảo 。trị ngã đa hữu năng tướng huệ thí 。
nay tâm Ông tham chánh pháp báu, gặp Ta có rất nhiều có thể ban cho Ông,
諦聽諦聽善思念之。吾當為汝分別宣釋。 善男子 。
đế thính đế thính thiện tư niệm chi 。ngô đương vi nhữ phân biệt tuyên thích 。thiện nam tử 。
Ông hãy lắng nghe khéo suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì Ông phân biệt tuyên thuyết. Thiện nam tử ,
欲聽法者今正是時。若聞法已當生敬信。
dục thính Pháp giả kim chánh thị thời 。nhược văn Pháp dĩ đương sanh kính tín 。
Ông muốn nghe pháp, nay chính là đúng thời, nếu nghe pháp rồi phải sanh tâm kính tín,
至心聽受恭敬尊重。於 正法 所莫求其過。
chí tâm thính thọ cung kính tôn trọng 。ư chánh Pháp sở mạc cầu kỳ quá 。
chí tâm lãnh thọ cung kính tôn trọng, đối với chánh pháp chớ tìm cầu chỗ sai,
莫念貪欲瞋恚愚癡。莫覩 法師 種姓好惡。
mạc niệm tham dục sân khuể ngu si 。mạc đổ Pháp sư chủng tính hảo ác 。
chớ khởi tham lam, sân hận, si mê, chớ nhìn pháp sư là dòng tộc tốt xấu.
既聞法已莫生憍慢。莫為恭敬名譽利養。
ký văn Pháp dĩ mạc sanh kiêu mạn 。mạc vi cung kính danh dự lợi dưỡng 。
Đã nghe pháp rồi chớ sanh tâm kiêu mạn, chớ cung kính vì danh tiếng lợi dưỡng,
當為度世 甘露法 利。亦莫生念。
đương vi độ thế cam lộ Pháp lợi 。diệc mạc sanh niệm 。
mà phải vì độ thoát thế gian, ban bố pháp cam lồ khiến có lợi ích, cũng chớ nghĩ rằng,
我聽法已先自度身然後度人。先自解身然後解人。
ngã thính Pháp dĩ tiên tự độ thân nhiên hậu độ nhân 。tiên tự giải thân nhiên hậu giải nhân 。
ta nghe pháp rồi thì trước độ thân mình sau mới độ người khác, trước tự cứu mình sau mới cứu người,
先自安身然後安人。先自 涅槃 然後令人而得涅槃。
tiên tự an thân nhiên hậu an nhân 。tiên tự Niết-Bàn nhiên hậu lệnh nhân nhi đắc Niết-Bàn 。
trước tự an thân sau mới an cho người, trước phải tự vào Niết-bàn , sau mới khiến người khác được vào Niết-bàn.
於 佛法僧 應生等想。於生死中生大苦想。
ư Phật Pháp tăng ứng sanh đẳng tưởng 。ư sanh tử trung sanh Đại khổ tưởng 。
Đối với Phật Pháp Tăng nên sanh ý tưởng bình đẳng, đối với sanh tử nên nghĩ khổ não,
於 大涅槃 應生常樂我淨之想。先為他人然後為身。
ư Đại Niết-Bàn ứng sanh thường lạc ngã tịnh chi tưởng 。tiên vi tha nhân nhiên hậu vi thân 。
đối với Đại Niết-bàn nên sanh ý tưởng Thường Lạc Ngã Tịnh, trước vì người khác sau mới vì mình,
當為 大乘 莫為 二乘 。於 一切法 當 無所住 。
đương vi Đại thừa mạc vi nhị thừa 。ư nhất thiết Pháp đương vô sở trụ 。
phải vì Đại Thừa chớ vì Nhị thừa, đối với tất cả pháp đừng có trụ tâm
亦莫專執 一切法 相。於諸法中莫生貪相。
diệc mạc chuyên chấp nhất thiết Pháp tướng 。ư chư Pháp trung mạc sanh tham tướng 。
cũng chớ chuyên chấp tất cả pháp tướng, đối với các pháp chớ sanh tướng tham,
常生知 法見 法之相。 善男子 。汝能如是至心聽法。
thường sanh tri Pháp kiến Pháp chi tướng 。thiện nam tử 。nhữ năng như thị chí tâm thính Pháp 。
mà thường sanh tướng biết pháp thấy pháp. Thiện nam tử , ông có thể chí tâm nghe pháp như vậy,
是則名為聞所不聞。 善男子 。
thị tắc danh vi văn sở bất văn 。thiện nam tử 。
đó gọi là nghe điều không nghe. Thiện nam tử ,
有不聞聞有不聞不聞有聞不聞有聞聞。 善男子 。如不生生。
hữu bất văn văn hữu bất văn bất văn hữu văn bất văn hữu văn văn 。thiện nam tử 。như bất sanh sanh 。
có lúc không nghe cái nghe, có lúc không nghe cái không nghe, có lúc nghe cái không nghe, có lúc nghe cái nghe. Thiện nam tử , cũng như không sanh cái sanh,
不生不生。生不生。生生。如不到到。
bất sanh bất sanh 。sanh bất sanh 。sanh sanh 。như bất đáo đáo 。
không sanh cái không sanh, sanh cái không sanh, sanh cái sanh. Như không đế n nơi đến,
不到不到。到不到。到到。 世尊 。云何不生生。 善男子 。
bất đáo bất đáo 。đáo bất đáo 。đáo đáo 。 Thế tôn 。vân hà bất sanh sanh 。thiện nam tử 。
không đến nơi không đến, đến nơi không đến, đến nơi đến. Bạch Thế Tôn , thế nào gọi là không sanh cái sanh? Phật dạy: Thiện nam tử ,
安住世諦初出胎時。是名不生生。
an trú thế đế sơ xuất thai thời 。thị danh bất sanh sanh 。
An trụ nơi pháp thế gian, lúc mới ra khỏi thai thì gọi là không sanh cái sanh.
云何不生不生。 善男子 。是 大涅槃 無有生相。
vân hà bất sanh bất sanh 。thiện nam tử 。thị Đại Niết-Bàn vô hữu sanh tướng 。
Thế nào gọi là không sanh cái không sanh. Phật dạy: Thiện nam tử , đó là Đại Niết-bàn không có tướng sanh,
是名不生不生。云何生不生。 善男子 。
thị danh bất sanh bất sanh 。vân hà sanh bất sanh 。thiện nam tử 。
đó gọi là không sanh cái không sanh, thế nào gọi là sanh cái không sanh? Phật dạy: Thiện nam tử ,
世諦死時是名生不生。云何生生。 善男子 。
thế đế tử thời thị danh sanh bất sanh 。vân hà sanh sanh 。thiện nam tử 。
theo pháp thế gian lúc chết thì gọi là sanh cái không sanh. Thế nào gọi là sanh cái sanh. Phật dạy: Thiện nam tử
一切凡夫是名生生。何以故。生生不斷故。 一切有 漏念念生故。
nhất thiết phàm phu thị danh sanh sanh 。hà dĩ cố 。sanh sanh bất đoạn cố 。 nhất thiết hữu lậu niệm niệm sanh cố 。
Tất cả phàm phu gọi là sanh cái sanh, Tại vì sao? Do sanh liên tục không ngừng, do tất cả hữu lậu niệm niệm sanh mãi,
是名生生。四住 菩薩 名生不生。何以故。
thị danh sanh sanh 。tứ trụ Bồ-tát danh sanh bất sanh 。hà dĩ cố 。
đó gọi là sanh cái sanh. Tứ trụ Bồ-tát gọi là sanh cái không sanh, tại vì sao,
生自在故是名生不生。 善男子 。是名內法。
sanh tự-tại cố thị danh sanh bất sanh 。thiện nam tử 。thị danh nội Pháp 。
do sanh được tự tại nên gọi là sanh không sanh. Thiện nam tử , đó gọi là pháp bên trong.
云何外法。未生生。未生未生。生未生。生生。 善男子 。
vân hà ngoại Pháp 。vị sanh sanh 。vị sanh vị sanh 。sanh vị sanh 。sanh sanh 。thiện nam tử 。
Thế nào là pháp bên ngoài, đó là chưa sanh cái sanh, chưa sanh cái chưa sanh, sanh cái chưa sanh, sanh cái sanh. Thiện nam tử ,
譬如種子未生牙時。
thí như chủng tử vị sanh nha thời 。
thí như hạt giống lúc chưa nảy mầm,
得 四大 和合人功作業然後乃生。是名未生生。云何未生未生。
đắc tứ Đại hòa hợp nhân công t ác nghiệp nhiên hậu nãi sanh 。thị danh vị sanh sanh 。vân hà vị sanh vị sanh 。
nhờ đất nước gió lữa hòa hợp, công người vun xới sau đó mới sanh ra, đó gọi là chưa sanh cái sanh. Thế nào gọi là chưa sanh cái chưa sanh.
譬如敗種及未遇緣。如是等輩名未生未生。
thí như bại chủng cập vị ngộ duyên 。như thị đẳng bối danh vị sanh vị sanh 。
Thí như hạt giống bị hư và chưa gặp duyên, những loại như vậy gọi là chưa sanh cái chưa sanh.
云何生未生。如牙生已而不增長。是名生未生。
vân hà sanh vị sanh 。như nha sanh dĩ nhi bất tăng trường 。thị danh sanh vị sanh 。
Thế nào gọi là sanh cái chưa sanh, đó là hạt giống nanỷ mầm rồi mà không tăng trưởng gọi là sanh cái chưa sanh.
云何生生。如牙增長。若生不生則無增長。
vân hà sanh sanh 。như nha tăng trường 。nhược sanh bất sanh tắc vô tăng trường 。
Thế nào gọi là sanh cái sanh, thí như hạt giống sanh rồi được tăng trưởng. Nếu sanh cái không sanh thì không tăng trưởng,
如是 一切有 漏是名外法生生。
như thị nhất thiết hữu lậu thị danh ngoại Pháp sanh sanh 。
như vậy tất cả pháp hữu lậu gọi là pháp bên ngoài sanh cái sanh.
琉璃光 菩薩 摩訶薩白佛言。 世尊 。有漏之法若有生者。
lưu ly quang Bồ-tát Ma-Ha tát bạch Phật ngôn 。 Thế tôn 。hữu lậu chi Pháp nhược hữu sanh giả 。
Lưu Ly Quang Bồ-tát Ma-ha -tát bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn , pháp hữu lậu nếu có sanh
為是常耶是 無常 乎。
vi thị thường da thị vô thường hồ 。
thì là thường hay vô thường ,
生若是常有漏之法則無有生。生若 無常 則有漏是常。 世尊 。
sanh nhược thị thường hữu lậu chi Pháp tắc vô hữu sanh 。sanh nhược vô thường tắc hữu lậu thị thường 。 Thế tôn 。
nếu sanh là thường thì pháp hữu lậu không có sanh, nếu sanh là vô thường thì hữu lậu là thường. Bạch Thế Tôn ,
若生能自生生 無自性 。若能生他以何 因緣 不生無漏。
nhược sanh năng tự sanh sanh vô tự tánh 。nhược năng sanh tha dĩ hà nhân duyên bất sanh vô lậu 。
nếu sanh có thể tự sanh, sanh không có tự tánh, nếu có thể sanh cái khác thì do nhân duyên gì không sanh vô lậu.
世尊。若未生時有生者。云何於今乃名為生。
Thế tôn 。nhược vị sanh thời hữu sanh giả 。vân hà ư kim nãi danh vi sanh 。
Bạch Thế Tôn , nếu lúc chưa sanh mà có sanh, tại sao nay mới có tên là sanh,
若未生時無生者。何故不說虛空為生。佛言。
nhược vị sanh thời vô sanh giả 。hà cố bất thuyết hư không vi sanh 。Phật ngôn 。
nếu lúc chưa sanh không có sanh, thì tại sao không nói hư không là sanh. Phật dạy:
善哉善哉。 善男子 。不生生不可說。
Thiện tai Thiện tai 。thiện nam tử 。bất sanh sanh bất khả thuyết 。
Lành thay lành thay, Thiện nam tử , không sanh cái sanh thì không thể nói,
生生亦不可說。生不生亦不可說。不生不生亦不可說。
sanh sanh diệc bất khả thuyết 。sanh bất sanh diệc bất khả thuyết 。bất sanh bất sanh diệc bất khả thuyết 。
sanh cái sanh cũng không thể nói, sanh cái không sanh cũng không thể nói, không sanh cái không sanh cũng không thể nói
生亦不可說。不生亦不可說。
sanh diệc bất khả thuyết 。bất sanh diệc bất khả thuyết 。
sanh cũng không thể nói, không sanh cũng không thể nói,
有 因緣 故亦可得說。云何不生生不可說。不生名為生。
hữu nhân duyên cố diệc khả đắc thuyết 。vân hà bất sanh sanh bất khả thuyết 。bất sanh danh vi sanh 。
có nhân duyên thì có thể nói, Tại sao nói không sanh cái không sanh thì không thể nói, bởi không sanh thì gọi là sanh.
云何可說。何以故以其生故。云何生生不可說。
vân hà khả thuyết 。hà dĩ cố dĩ kỳ sanh cố 。vân hà sanh sanh bất khả thuyết 。
Thế nào là có thể nói, tại vì sao, do có sanh vậy. Thế nào gọi là sanh cái sanh thì không thể nói.
生生故生。生生故不生亦不可說。
sanh sanh cố sanh 。sanh sanh cố bất sanh diệc bất khả thuyết 。
do sanh cái sanh nên sanh, sanh cái sanh nên không sanh cũng không thể nói.
云何生不生不可說。生即名為生。生不自生故不可說。
vân hà sanh bất sanh bất khả thuyết 。sanh tức danh vi sanh 。sanh bất tự sanh cố bất khả thuyết 。
Thế nào gọi là sanh cái không sanh thì không thể nói, bởi sanh thì gọi là sanh, cái sanh không tự sanh nên không thể nói.
云何不生不生不可說。不生者名為 涅槃 。
vân hà bất sanh bất sanh bất khả thuyết 。bất sanh giả danh vi Niết-Bàn 。
Thế nào gọi là không sanh cái không sanh thì không thể nói, bởi không sanh thì gọi là Niết-bàn ,
涅槃不生故不可說。何以故。
Niết-Bàn bất sanh cố bất khả thuyết 。hà dĩ cố 。
do Niết-bàn không sanh nên không thể nói. Tại vì sao?
以修道得故云何生亦不可說。以生無故。云何不生不可說。
dĩ tu đạo đắc cố vân hà sanh diệc bất khả thuyết 。dĩ sanh vô cố 。vân hà bất sanh bất khả thuyết 。
Do tu đạo mà đắc vậy. Thế nào gọi là sanh cũng không thể nói, bởi sanh cái không vậy. Thế nào là không sanh cũng không thể nói
以有得故。云何有 因緣 故亦可得說。
dĩ hữu đắc cố 。vân hà hữu nhân duyên cố diệc khả đắc thuyết 。
do có đắc vậy. Thế nào là có nhân duyên thì có thể nói,
十 因緣 法為生作因。以是義故亦可得說。 善男子 。
thập nhân duyên Pháp vi sanh tác nhân 。dĩ thị nghĩa cố diệc khả đắc thuyết 。thiện nam tử 。
mười pháp nhân duyên là nhân của sanh, do nghĩa này nên có thể nói. Thiện nam tử .
汝今莫入甚深 空定 。何以故大眾鈍故。 善男子 。
nhữ kim mạc nhập thậm thâm không định 。hà dĩ cố Đại chúng độn cố 。thiện nam tử 。
nay ông chớ đi vào không định thâm sâu, tại vì sao, vì Đại chúng căn tánh thấp kém. Thiện nam tử ,
有為之法生亦是常。
hữu vi chi Pháp sanh diệc thị thường 。
pháp hữu vi sanh cũng là thường,
以住 無常 生亦無常住亦是常。以生生故住亦無常異亦是常。
dĩ trụ vô thường sanh diệc vô thường trụ diệc thị thường 。dĩ sanh sanh cố trụ diệc vô thường dị diệc thị thường 。
do trụ vô thường nên sanh cũng vô thường, trụ cũng là thường, do sanh cái sanh nên trụ cũng vô thường, dị cũng thường,
以法 無常 異亦無常壞亦是常。
dĩ Pháp vô thường dị diệc vô thường hoại diệc thị thường 。
do pháp vô thường nên dị cũng vô thường, hoại cũng là thường,
以本無今有故壞亦 無常 。 善男子 。以性故生住異壞皆悉是常。
dĩ bổn vô kim hữu cố hoại diệc vô thường 。thiện nam tử 。dĩ tánh cố sanh trụ dị hoại giai tất thị thường 。
bởi xưa là không mà nay có nên hoại cũng vô thường . Thiện nam tử , do tánh nên sanh trụ dị hoại đều là thường,
念念滅故不可說常。
niệm niệm diệt cố bất khả thuyết thường 。
do niệm niệm hoại diệt nên không thể nói thường,
是 大涅槃 能斷滅故故名 無常 。 善男子 。
thị Đại Niết-Bàn năng đoạn điệt cố cố danh vô thường 。thiện nam tử 。
Kinh Đại Niết-bàn này có thể đoạn diệt nên gọi là vô thường . Thiện nam tử ,
有漏之法未生之時已有生性故生能生。無漏之法本無生性是故生不能生。
hữu lậu chi Pháp vị sanh chi thời dĩ hữu sanh tánh cố sanh năng sanh 。vô lậu chi Pháp bổn vô sanh tánh thị cố sanh bất năng sanh 。
lúc pháp hữu lậu chưa sanh đã có tánh sanh nên sanh có thể sanh, pháp vô lậu vốn không có tánh sanh nên sanh không thể sanh,
如火有本性遇緣則發。
như hỏa hữu bổn tánh ngộ duyên tắc phát 。
như lửa có bản tánh nên gặp duyên thì phát,
眼有 見性 因色因明因心故見。眾生生法亦復如是。
nhãn hữu kiến tánh nhân sắc nhân minh nhân tâm cố kiến 。chúng sanh sanh Pháp diệc phục như thị 。
mắt có tánh thấy, rồi do nơi sắc, do ánh sáng, do thức, cho nên thấy. Pháp chúng sanh cũng lại như vậy,
由本有性遇業 因緣 。父母和合則便有生。
do bổn hữu tánh ngộ nghiệp nhân duyên 。phụ mẫu hòa hợp tắc tiện hữu sanh 。
do có tánh sẵn nên gặp nghiệp duyên, cha mẹ hòa hợp thì liền có sanh.
爾時琉璃光 菩薩 摩訶薩。及八萬四千菩薩摩訶薩。
nhĩ thời lưu ly quang Bồ-tát Ma-Ha tát 。cập bát vạn tứ thiên Bồ-tát Ma-Ha tát 。
Lúc bấy giờ Lưu Ly Quang Bồ-tát Ma-ha -tát và tám vạn bốn ngàn Bồ-tát Ma-ha-tát
聞是法已踊在虛空高七 多羅樹 。
văn thị Pháp dĩ dũng tại hư không cao thất đa-la thụ 。
nghe pháp này rồi liền vọt lên hư không cách đất bảy cây Đa-la,
恭敬合掌而白佛言。 世尊 。我蒙 如來 慇懃教誨。
cung kính hợp chưởng nhi bạch Phật ngôn 。 Thế tôn 。ngã mông Như Lai ân cần giáo hối 。
cung kính chắp tay mà bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn , chúng con nhờ Như Lai ân cần dạy dỗ,
因 大涅槃 始得悟解聞所不聞。
nhân Đại Niết-Bàn thủy đắc ngộ giải văn sở bất văn 。
nhân kinh Đại Niết-bàn mới được hiểu rõ nghe điều không nghe,
亦令八萬四千 菩薩 深解諸法不生生等。 世尊 。我今已解斷諸疑網。
diệc lệnh bát vạn tứ thiên Bồ-tát thâm giải chư Pháp bất sanh sanh đẳng 。 Thế tôn 。ngã kim dĩ giải đoạn chư nghi võng 。
cũng khiến tám vạn bốn ngàn Bồ-tát hiểu rõ các pháp không sanh, sanh v.v… Bạch Thế Tôn , nay con đã hiểu và dứt hết lưới nghi
然此會中有一 菩薩 名曰無畏。
nhiên thử hội trung hữu nhất Bồ-tát danh viết vô úy 。
nhưng trong hội này có một Bồ-tát tên là Vô Úy
復欲諮稟唯垂聽許。爾時 世尊 告無畏 菩薩 。 善男子 。
phục dục ti bẩm duy thùy thính hứa 。nhĩ thời Thế tôn cáo vô úy Bồ-tát 。thiện nam tử 。
có điều muốn hỏi, xin Phật hứa khả. Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo Bồ-tát Vô Úy rằng: Thiện nam tử ,
隨意問難吾當為汝分別解脫。爾時無畏。
tùy ý vấn nan ngô đương vi nhữ phân biệt giải thoát 。nhĩ thời vô úy 。
tùy ý Ông hỏi, Ta sẽ vì Ông phân biệt giảng thuyết. Lúc bấy giờ Bồ-tát Vô Úy
菩薩與六萬(一本云與八萬)四千諸菩薩等俱從座起。
Bồ-tát dữ lục vạn (nhất bổn vân dữ bát vạn )tứ thiên chư Bồ-tát đẳng câu tòng tọa khởi 。
cùng với sáu vạn (có sách nói tám vạn) bốn ngàn Bồ-tát đều đứng dậy khỏi tòa,
更整衣服長跪合掌而白佛言。 世尊 。
canh chỉnh y phục trường quỵ hợp chưởng nhi bạch Phật ngôn 。 Thế tôn 。
sửa sang y phục, qùy gối chắp tay mà bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn ,
此土眾生當造何業而得生彼 不動 世界。
thử độ chúng sanh đương tạo hà nghiệp nhi đắc sanh bỉ bất động thế giới 。
Chúng sanh cõi này làm những nghiệp gì mà được sanh về thế giới Bất Động?
其土 菩薩 云何而得智慧成就。人中象王有 大威德 。
kỳ độ Bồ-tát vân hà nhi đắc trí tuệ thành tựu 。nhân trung Tượng Vương hữu Đại uy đức 。
Bồ-tát cõi ấy làm thế nào mà được thành tựu trí huệ, là bậc voi chúa trong loài người có oai đức lớn,
具修諸行利智捷疾聞則能解。爾時 世尊 即說偈言。
cụ tu chư hành lợi trí tiệp tật văn tắc năng giải 。nhĩ thời Thế tôn tức thuyết kệ ngôn 。
tu đủ các hạnh, trí huệ lanh lợi nghe thì có thể hiểu. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn liền nói bài kệ rằng:
不害眾生命 堅持諸禁戒
Bất hại chúng sanh mạng Kiên trì chư cấm giới
Không hại mạn chúng sanh Giữ gìn các giới cấm
受佛微妙教 則生 不動 國
Thọ Phật vi diệu giáo Tắc sanh bất động quốc
Học giáo pháp vi diệu Được sanh cõi Bất Động
不奪他人財 常施惠一切
Bất đoạt tha nhân tài Thường thí huệ nhất thiết
Không cướp tài sản người Thường bố thí tất cả
造招提僧坊 則生 不動 國
Tạo chiêu đề tăng phường Tắc sanh bất động quốc
Xây nhà cho Tăng chúng Được sanh cõi Bất Động
不犯他婦女 自妻不非時
Bất phạm tha phụ Nữ tự thê bất phi thời
Không xâm phạm vợ người Không dâm dục phi thời
施持戒臥具 則生 不動 國
Thí trì giới ngọa cụ Tắc sanh bất động quốc
Trì giới và bố thí Được sanh cõi Bất Động
不為自他故 求利及恐怖
Bất vi tự tha cố Cầu lợi cập khủng phố
Không vì mình hay người Mà cầu lợi, đe dọa
慎口 不妄語 則生 不動 國
慎khẩu bất vọng ngữ Tắc sanh bất động quốc
Giữ miệng không nói dối Được sanh cõi Bất Động
莫壞 善知識 遠離惡眷屬
Mạc hoại thiện tri thức Viễn li ác quyến chúc
Chớ hại thiện tri thức Xa lìa quyến thuộc ác
口常和合語 則生 不動 國
Khẩu thường hòa hợp ngữ TắC sanh bất động quốc
Miệng nói lời hòa nhã Được sanh cõi Bất Động
如諸 菩薩 等 常離於惡口
Như chư Bồ-tát đẳng Thường ly ư ác khẩu
Như các vị Bồ-tát Thường xa lìa nói ác
所說人樂聞 則生 不動 國
Sở thuyết nhân lạc văn Tắc sanh bất động quốc
Lời nói được người mến Được sanh cõi Bất Động
乃至於戲笑 不說非時語
Nãi chí ư hí tiếu Bất thuyết phi thời ngữ
Cho đến lúc giỡn cười Cũng không nói lời sai
謹慎常時說 則生 不動 國
Cẩn 慎thường thời thuyết Tắc sanh bất động quốc
Nói luôn giữ cẩn thận Được sanh cõi Bất Động
見他得利養 常生歡喜心
Kiến tha đắc lợi dưỡng Thường sanh hoan hỉ tâm
Thấy người khác có lợi Thường sanh tâm hoan hỷ
不起嫉妬結 則生 不動 國
Bất khởi tật đố kết Tắc sanh bất động quốc
Không khởi tâm ganh ghét Được sanh cõi Bất Động
不惱於眾生 常生於慈心
Bất não ư chúng sanh Thường sanh ư từ tâm
Không tổn hại chúng sanh Thường khởi tâm thương xót
不生方便惡 則生 不動 國
Bất sanh phương tiện ác Tắc sanh bất động quốc
Không dùng phương tiện ác Được sanh cõi Bất Động.
邪見言無施 父母及去來
Tà kiến ngôn vô thí Phụ mẫu cập khứ lai
Tà kiến không bố thí Không tin đời khứ, lai
不起如是見 則生 不動 國
Bất khởi như thị kiến Tắc sanh bất động quốc
Đừng khởi tâm như vậy Được sanh cõi Bất Động
曠路作好井 種殖果樹林
Khoáng lộ tác hảo tỉnh Chủng thực quả thụ lâm
Đào giếng nước bên đường Gieo trồng cây ăn trái
常施乞者食 則生 不動 國
Thường thí khất giả thực Tắc sanh bất động quốc
Cho cơm người ăn xin Được sanh cõi Bất Động
若於 佛法僧 供養一香燈
Nhược ư Phật Pháp tăng Cung dưỡng nhất hương đăng
Ở nơi Phật Pháp Tăng Cúng dường đèn hoặc hương
乃至獻一花 則生 不動 國
Nãi chí hiến nhất hoa Tắc sanh bất động quốc
Cho đến một bông hoa Được sanh cõi Bất Động,
若為恐怖故 利養及福德
Nhược vi khủng phố cố Lợi dưỡng cập phúc đức
Nếu vì sự sợ hãi Hay lợi dưỡng, phước đức
書是經一偈 則生 不動 國
Thư thị Kinh nhất kệ Tắc sanh bất động quốc
Biên chép lời kệ kinh Được sanh cõi Bất Động
若為悕利福 能於一日中
Nhược vi hi lợi phúc Năng ư nhất nhật trung
Nếu vì cầu ít phước có thể trong một ngày
讀誦是經典 則生 不動 國
Độc tụng thị Kinh điển Tắc sanh bất động quốc
Đọc tụng kinh điển này Được sanh cõi Bất Động
若為 無上道 一日一夜中
Nhược vi vô thượng đạo Nhất nhật nhất dạ trung
Nếu vì đạo vô thượng Trong một ngày một đêm
受持 八戒 齋 則生 不動 國
Thọ trì bát giới trai Tắc sanh bất động quốc
Thọ trì Bát quan trai Được sanh cõi Bất Động
不與犯重禁 同共一處住
Bất dữ phạm trọng cấm Đồng cộng nhất xử trụ
Có người phạm giới trọng Không cùng họ ở chung
呵謗方等者 則生 不動 國
Ha báng phương đẳng giả Tắc sanh bất động quốc
Hoặc người phỉ báng kinh Được sanh cõi Bất Động
若能施病者 乃至於一果
Nhược năng thí bệnh giả Nãi chí ư nhất quả
Bố thí cho người bịnh Cho đến một trái cây
歡喜而瞻視 則生 不動 國
Hoan hỉ nhi chiêm thị Tắc sanh bất động quốc
Hoan hỷ mà chăm sóc Được sanh cõi Bất Động
不犯僧鬘物 善守於佛物
Bất phạm tăng man vật Thiện thủ ư Phật vật
Không lấy vật của Tăng Khéo giữ vật chùa tháp
塗掃佛僧地 則生 不動 國
Đồ tảo Phật tăng địa Tắc sanh bất động quốc
Tô tượng quét đất chùa Được sanh cõi Bất Động
造像及佛塔 猶如大拇指
Tạo tượng cập Phật tháp Do như Đại mẫu chỉ
Dựng tượng xây Phật tháp Như thờ ngón tay Phật
常生歡喜心 則生 不動 國
Thường sanh hoan hỉ tâm Tắc sanh bất động quốc
Thường sanh tâm hoan hỷ Được sanh cõi Bất Động
若為是經典 自身及財寶
Nhược vi thị Kinh điển Tự thân cập tài bảo
Nếu vì kinh điển này Đem thân cùng của báu
施於說法者 則生 不動 國
Thí ư thuyết Pháp giả Tắc sanh bất động quốc
Bố thí người thuyết pháp Được sanh cõi Bất Động
若能聽書寫 受持及讀誦
Nhược năng thính thư tả Thọ trì cập độc tụng
Nếu vì kinh, biên chép Thọ trì và đọc tụng
諸佛祕密藏 則生 不動 國
Chư Phật bí mật tạng Tắc sanh bất động quốc
Tạng bí mật của Phật Được sanh cõi Bất Động.
爾時無畏 菩薩 摩訶薩白佛言。 世尊 。
nhĩ thời vô úy Bồ-tát Ma-Ha tát bạch Phật ngôn 。 Thế tôn 。
Lúc bấy giờ Vô Úy Bồ-tát Ma-ha -tát bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn ,
我今已知所造業緣得生彼國。
ngã kim dĩ tri sở tạo nghiệp duyên đắc sanh bỉ quốc 。
Nay con đã biết tạo nghiệp duyên gì để được sanh về cõi nước Bất Động
是光明遍照高貴德王 菩薩 摩訶薩。
thị quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương Bồ-tát Ma-Ha tát 。
Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương
普為憐愍一切眾生先所諮問。
phổ vi liên mẫn nhất thiết chúng sanh tiên sở ti vấn 。
đã thương xót tất cả chúng sanh nên hỏi điều này,
如來若說則能利益安樂人天阿修羅 乾闥婆 迦樓羅 緊那羅 摩睺羅伽 等。
Như Lai nhược thuyết tắc năng lợi ích an lạc nhân Thiên A-tu-La Càn thát bà ca lâu la khẩn na la Ma hầu la dà đẳng 。
nếu Như Lai tuyên thuyết thì có thể làm lợi ích an lạc cho Trời, Người, A-tu-la , Càn-thát-bà , Ca-lầu-la, Khẩn-na-la , Ma-hầu-la-già ...
爾時 世尊 即告光明遍照高貴德王 菩薩 。善哉善哉。
nhĩ thời Thế tôn tức cáo quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương Bồ-tát 。Thiện tai Thiện tai 。
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn bảo với Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Như Lai rằng: Lành thay lành thay!
善男子。汝今於此當至心聽。
thiện nam tử 。nhữ kim ư thử đương chí tâm thính 。
Thiện nam tử, nay Ông phải chí tâm lắng nghe,
吾當為汝分別解說。有 因緣 故未到不到。有因緣故不到到。
ngô đương vi nhữ phân biệt giải thuyết 。hữu nhân duyên cố vị đáo bất đáo 。hữu nhân duyên cố bất đáo đáo 。
Ta sẽ vì Ông mà phân biệt giảng nói. Do có nhân duyên nên chưa đến không đế n, có nhân duyên nên không đến và đến.
有 因緣 故到不到。有因緣故到到。
hữu nhân duyên cố đáo bất đáo 。hữu nhân duyên cố đáo đáo 。
Có nhân duyên nên đến và không đế n, có nhân duyên nên đến và đến.
何 因緣 故未到不到。 善男子 。夫不到者是 大涅槃 。
hà nhân duyên cố vị đáo bất đáo。thiện nam tử 。phu bất đáo giả thị Đại Niết-Bàn 。
Do nhân duyên gì mà chưa đến không đế n? Thiện nam tử , luận rằng chưa đến tức là Đại-niết-bàn.
凡夫未到以有貪欲瞋恚愚癡故。
phàm phu vị đáo dĩ hữu tham dục sân khuể ngu si cố 。
Phàm chưa đến do có tham dục sân hận ngu si,
身業口業不清淨故。及受一切不淨物故。
thân nghiệp khẩu nghiệp bất thanh tịnh cố 。cập thọ nhất thiết bất tịnh vật cố 。
ba nghiệp thân miệng không thanh tịnh, thọ dụng tất cả vật bất tịnh,
犯四重故謗方等故 一闡提 故 五逆 罪故。以是義故未到不到。
phạm tứ trọng cố báng phương đẳng cố nhất xiển đề cố ngũ nghịch tội cố 。dĩ thị nghĩa cố vị đáo bất đáo 。
phạm bốn tội nặng, phỉ báng kinh Đại Thừa , tạo tội Nhất-xiển-đề, làm năm tội nghịch, do vậy cho nên chưa đến không đế n.
善男子。何 因緣 故不到到。不到者名 大涅槃 。
thiện nam tử 。hà nhân duyên cố bất đáo đáo 。bất đáo giả danh Đại Niết-Bàn 。
Thiện nam tử, do nhân duyên gì mà không đế n và đến? Không đến gọi là Đại Niết-bàn ,
何義故到。永斷貪欲瞋恚愚癡身口惡故。
hà nghĩa cố đáo 。vĩnh đoạn tham dục sân khuể ngu si thân khẩu ác cố 。
do nghĩa gì mà đến, đó là đoạn diệt tham dục, sân hận, ngu si, xa lìa sự xấu các của thân miệng,
不受一切不淨物故。不犯四重故。不謗方等經故。
bất thọ nhất thiết bất tịnh vật cố 。bất phạm tứ trọng cố 。bất báng phương đẳng Kinh cố 。
không thọ dụng tất cả vật bất tịnh, không phạm bốn tội nặng, không phỉ báng kinh Đại Thừa ,
不作 一闡提 故。不作 五逆 罪故。
bất tác nhất xiển đề cố 。bất tác ngũ nghịch tội cố 。
không làm hạn Nhất-xiển-đề, không phạm năm tội nghịch,
以是義故名不到到。 須陀洹 者八萬劫到。
dĩ thị nghĩa cố danh bất đáo đáo 。 Tu-đà-hoàn giả bát vạn kiếp đáo 。
do vậy cho nên, không đế n chỗ đến. Người chứng qủa Tu-đà-hoàn thì qua tám vạn kiếp được đến.
斯陀含者六萬劫到。 阿那含 者四萬劫到。
Tư-đà-hàm giả lục vạn kiếp đáo 。 A-na-hàm giả tứ vạn kiếp đáo 。
Người chứng qủa Tu-đà-hoàn thì qua sáu vạn kiếp được đến, người chứng qủa A-na-hàm thì qua bốn vạn kiếp được đến.
阿羅漢者二萬劫到。 辟支佛 者十千劫到。以是義故名不到到。
A-la-hán giả nhị vạn kiếp đáo 。Bích-chi-phật giả thập thiên kiếp đáo 。dĩ thị nghĩa cố danh bất đáo đáo 。
Người chứng qủa A-la-hán thì qua hai vạn kiếp được đến, người chứng qủa Bích-chi-phật thì qua mười ngàn kiếp được đến, do nghĩa này nên nói không đế n và đến.
善男子。何 因緣 故名到不到。
thiện nam tử 。hà nhân duyên cố danh đáo bất đáo 。
Thiện nam tử, do nhân duyên gì mà gọi là đến và không đế n.
到者名為 二十五有 。
đáo giả danh vi nhị thập ngũ hữu 。
Đến tức gọi là hai mươi lăm cõi,
一切眾生常為無量 煩惱 諸結之所覆蔽。往來不離猶如輪轉。是名為到。
nhất thiết chúng sanh thường vi vô lượng phiền não chư kết chi sở phúc tế 。vãng lai bất ly do như luân chuyển 。thị danh vi đáo 。
tất cả chúng sanh thường bị vô lượng phiền não che lấp, qua lại hai mươi lăm cõi không ngừng như bánh xe quay, cho nên gọi là đến.
聲聞緣覺及諸 菩薩 已得永離。故名不到。
Thanh văn Duyên giác cập chư Bồ-tát dĩ đắc vĩnh ly 。cố danh bất đáo 。
Thanh văn, Duyên giác và các Bồ-tát đã xa lìa tất cả nên gọi là không đế n.
為欲化度諸眾生故示現在中。亦名為到。 善男子 。
vi dục hóa độ chư chúng sanh cố kì hiện tại trung 。diệc danh vi đáo 。thiện nam tử 。
Vì muốn hóa độ các chúng sanh nên thị hiện trong hai mươi lăm cõi, đó cũng gọi là đến. Thiện nam tử .
何 因緣 故名為到到。到者即是 二十五有 。
hà nhân duyên cố danh vi đáo đáo 。đáo giả tức thị nhị thập ngũ hữu 。
Do nhân duyên gì gọi là đến và đến. Đến tức là hai mươi lăm cõi?
一切凡夫 須陀洹 乃至 阿那含 。 煩惱 因緣 故名到到。
nhất thiết phàm phu Tu-đà-hoàn nãi chí A-na-hàm 。 phiền não nhân duyên cố danh đáo đáo 。
Tất cả phàm phu, Tu-đà-hoàn cho đến A-na-hàm , do nhân duyên phiền não nê n gọi là đến và đến.
善男子。聞所不聞亦復如是。有不聞聞。
thiện nam tử 。văn sở bất văn diệc phục như thị 。hữu bất văn văn 。
Thiện nam tử, nghe chỗ không nghe cũng lại như vậy. Có lúc không nghe và nghe. Thế nào gọi là không nghe và nghe?
有不聞不聞。有聞不聞。有聞聞。云何不聞聞。
hữu bất văn bất văn 。hữu văn bất văn 。hữu văn văn 。vân hà bất văn văn 。
có lúc không nghe không nghe, có lúc nghe không nghe và nghe, tại sao không nghe và nghe.
善男子。不聞者名 大涅槃 。何故不聞。
thiện nam tử 。bất văn giả danh Đại Niết-Bàn 。hà cố bất văn 。
Thiện nam tử, không nghe gọi là Đại Niết-bàn . Tại sao không nghe?
非有為故非音聲故不可說故。云何亦聞。得聞名故。
phi hữu vi cố phi âm thanh cố bất khả thuyết cố 。vân hà diệc văn 。đắc văn danh
cố 。
Do chẳng có tạo tác, chẳng phải âm thanh, nên không thể nói. Tại sao cũng gọi là nghe? Do được nghe danh tự,
所謂常樂我淨。以是義故名不聞聞。
sở vị thường lạc ngã tịnh 。dĩ thị nghĩa cố danh bất văn văn 。
đó là Thường Lạc Ngã Tịnh, do nghĩa này nên gọi không nghe và nghe.
爾時光明遍照高貴德王 菩薩 摩訶薩白佛言。 世尊 。
nhĩ thời quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương Bồ-tát Ma-Ha tát bạch Phật ngôn 。 Thế tôn 。
Lúc bấy giờ đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch Phật rẳng: Bạch Thế Tôn ,
如佛所說 大涅槃 者 不可得 聞。
như Phật sở thuyết Đại Niết-Bàn giả bất khả đắc văn 。
như lời Phật dạy Đại Niết-bàn là không thể nghe,
云何復言常樂我淨而可得聞。何以故 世尊 。
vân hà phục ngôn thường lạc ngã tịnh nhi khả đắc văn 。hà dĩ cố Thế tôn 。
tại sao lại nói được nghe tên Thường Lạc Ngã Tịnh. Bạch Thế Tôn , tại sao
斷 煩惱 者名得 涅槃 。若未斷者名為不得。
đoạn phiền não giả danh đắc Niết-Bàn 。nhược vị đoạn giả danh vi bất đắc 。
đoạn trừ phiền não gọi là đắc Niết-bàn , nếu chưa đoạn thì gọi là không đắc,
以是義故 涅槃 之性本無今有。若 世間法 本無今有則名 無常 。
dĩ thị nghĩa cố Niết-Bàn chi tánh bổn vô kim hữu 。nhược thế gian Pháp bổn vô kim hữu tắc danh vô thường 。
do nghĩa này nên tánh Niết-bàn là xưa không mà nay có, nếu pháp thế gian là xưa không mà nay có thì đó là vô thường .
譬如瓶等本無今有已有還無。故名 無常 。
thí như bình đẳng bổn vô kim hữu dĩ hữu hoàn vô 。cố danh vô thường 。
Thí như cái bình xưa không có nay có, có rồi trở lại về không, đó gọi là vô thường .
涅槃亦爾。云何說言常樂我淨。復次 世尊 。
Niết-Bàn diệc nhĩ 。vân hà thuyết ngôn thường lạc ngã tịnh 。phục thứ Thế tôn 。
Niết-bàn cũng như vậy, tại sao nói là Thường Lạc Ngã Tịnh. Lại nữa bạch Thế Tôn ,
凡因莊嚴而得成者。悉名 無常 。
phàm nhân trang nghiêm nhi đắc thành giả 。tất danh vô thường 。
phàm những gì do trang nghiêm mà được thành tựu thì đều gọi là vô thường .
涅槃若爾應是 無常 。
Niết-Bàn nhược nhĩ ứng thị vô thường 。
Nếu Niết-bàn là như vậy thì nên gọi là vô thường .
何等 因緣 所謂三十七品 六波羅蜜 四無量心 。觀於骨相 阿那波那 。
hà đẳng nhân duyên sở vị tam thập thất phẩm lục ba la mật tứ vô lượng tâm 。quán ư cốt tướng a na ba na 。
Do những nhân duyên gì? Đó là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, sáu pháp Ba-la-mật , Bốn tâm vô lượng, Bốn pháp niệm xứ ,
六念處破析 六大 。如是等法皆是成就 涅槃 因緣 。故名 無常 。
lục niệm xử phá tích lục Đại 。như thị đẳng Pháp giai thị thành tựu Niết-Bàn nhân duyên 。cố danh vô thường 。
sáu pháp ni ệm phân tích chia chẻ. Sáu đại là nhân duyên thành tựu Niết-bàn , cho nên gọi là vô thường .
復次 世尊 。有名 無常 。若 涅槃 是有亦應無常。
phục thứ Thế tôn 。hữu danh vô thường 。nhược Niết-Bàn thị hữu diệc ứng vô thường 。
Lại nữa bạch Thế Tôn , đã có thì gọi là vô thường , nếu Niết-bàn là có thì cũng là vô thường.
如佛昔於 阿含 中說。
như Phật tích ư A-hàm trung thuyết 。
Như trong kinh A-hàm Phật dạy:
聲聞緣覺諸 佛世尊 皆有 涅槃 。以是義故名為 無常 。復次世尊。
Thanh văn Duyên giác chư Phật Thế tôn giai hữu Niết-Bàn 。dĩ thị nghĩa cố danh vi vô thường 。phục thứ Thế tôn 。
Thanh văn, Duyên giác, chư Phật Thế Tôn đều có Niết-bàn , do vậy nên gọi là vô thường . Lại nữa bạch Thế Tôn,
可見之法名為 無常 。如佛先說。
khả kiến chi Pháp danh vi vô thường 。như Phật tiên thuyết 。
pháp mà có thể thấy thì gọi là vô thường , như trước đây Phật dạy,
見 涅槃 者則得斷除一切 煩惱 。復次 世尊 。
kiến Niết-Bàn giả tắc đắc đoạn trừ nhất thiết phiền não 。phục thứ Thế tôn 。
người thấy Niết-bàn thì được đoạn trừ tất cả phiền não . Lại nữa, bạch thế Tôn,
譬如虛空於諸眾生等無障礙。故名為常。
thí như hư không ư chư chúng sanh đẳng Vô chướng ngại 。cố danh vi thường 。
thí như hư không đối với các chúng sanh là bình đẳng không có chướng ngại, nên gọi đó là thường,
若使 涅槃 是常等者。何故眾生有得不得。
nhược sử Niết-Bàn thị thường đẳng giả 。hà cố chúng sanh hữu đắc bất đắc 。
nếu Niết-bàn là thường thì tại sao chúng sanh có người đắc có người không đắc.
涅槃若爾於諸眾生 不平等 者則不名常。 世尊 。
Niết-Bàn nhược nhĩ ư chư chúng sanh bất bình đẳng giả tắc bất danh thường。 Thế tôn 。
Nếu Niết-bàn đối với chúng sanh mà không bình đẳng thì không gọi là thường. Bạch Thế Tôn ,
譬如百人共有一怨。若害此怨則多人受樂。
thí như bách nhân cộng hữu nhất oán 。nhược hại thử oán tắc đa nhân thọ lạc 。
thí như một trăm người cùng có chung một oán hận, nếu làm hại sự oán ấy thì nhiều người được vui,
若使 涅槃 是 平等法 。一人得時應多人得。
nhược sử Niết-Bàn thị bình đẳng Pháp 。nhất nhân đắc thời ứng đa nhân đắc 。
nếu Niết-bàn là pháp bình đẳng thì khi một người đắc thì nhiều người cũng đắc,
一人斷結應多人亦斷。若不如是云何名常。
nhất nhân đoạn kết ứng đa nhân diệc đoạn 。nhược bất như thị vân hà danh thường 。
khi một người đoạn trừ kiết sử thì nhiều người cũng được đoạn trừ, nếu không như vậy thì sao gọi là thường?
譬如有人恭敬供養尊重讚歎國王王子父母師長。
thí như hữu nhân cung kính cung dưỡng tôn trọng tán thán Quốc Vương Vương tử phụ mẫu sư trường 。
Thí như có người cung kính cúng dường tôn trọng tán thán Quốc Vương, Vương Tử, cha mẹ, Sư trưởng,
則得利養是不名常。 涅槃 亦爾不名為常。何以故。
tắc đắc lợi dưỡng thị bất danh thường 。 Niết-Bàn diệc nhĩ bất danh vi thường 。hà dĩ cố 。
tức được lợi dưỡng, đó không gọi là thường. Niết-bàn cũng vậy, không gọi là thường. Tại vì sao?
如佛昔於 阿含經 中告 阿難 言。若有人能恭敬 涅槃 。
như Phật tích ư A-hàm Kinh trung cáo A-nan ngôn。nhược hữu nhân năng cung kính Niết-Bàn 。
Như trước đây trong Kinh A-hàm Phật dạy A-nan răng: Nếu có người cung kính Kinh Đại Niết-bàn ,
則得斷結受無量樂。以是義故不名為常。
tắc đắc đoạn kết thọ vô lượng lạc 。dĩ thị nghĩa cố bất danh vi thường 。
thì được đoạn trừ kiết sử, thọ vô lượng sự vui, do nghĩa này nên không gọi là thường.
世尊。若 涅槃 中有常樂我淨名者不名為常。
Thế tôn 。nhược Niết-Bàn trung hữu thường lạc ngã tịnh danh giả bất danh vi thường 。
Bạch Thế Tôn , nếu trong Niết-bàn có tên thường lạc ngã tịnh thì không gọi là thường,
如其無者云何可說。
như kỳ vô giả vân hà khả thuyết 。
nếu không có tên thì làm sao có thể tuyên thuyết.
爾時 世尊 告光明遍照高貴德王 菩薩 摩訶薩
nhĩ thời Thế tôn cáo quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương Bồ-tát Ma-Ha tát
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói với Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương rằng:
言。 涅槃 之體非本無今有。
ngôn 。 Niết-Bàn chi thể phi bổn vô kim hữu 。
Thể của Niết-bàn chẳng phải xưa không mà nay có,
若 涅槃 體本無今有者。則非無漏常住之法。
nhược Niết-Bàn thể bổn vô kim hữu giả 。tắc phi vô lậu thường trụ chi Pháp 。
nếu thể của Niết-bàn mà xưa không nay có thì chẳng phải là pháp vô lậu thường trụ,
有佛無佛性相常住。
hữu Phật vô Phật tánh tướng thường trụ 。
có Phật không Phật, tánh tướng vẫn thường trụ,
以諸眾生 煩惱 覆故不見 涅槃 便謂為無。 菩薩 摩訶薩以 戒定慧 勤修其心。
dĩ chư chúng sanh phiền não phúc cố bất kiến Niết-Bàn tiện vị vi vô 。 Bồ-tát Ma-Ha tát dĩ giới định tuệ tinh cần tu kỳ tâm 。
do các chúng sanh bị phiền não che lấp nên không thấy Niết-bàn liền cho đó là không. Bồ-tát Ma-ha -tát dùng giới định huệ siêng tu tập, tâm
斷 煩惱 已便得見之。當知 涅槃 是常住法。
đoạn phiền não dĩ tiện đắc kiến chi 。đương tri Niết-Bàn thị thường trụ Pháp 。
đoạn hết phiền não thì được thấy Niết-bàn . Phải biết Niết-bàn là pháp thường trụ,
非本無今有是故為常。 善男子 。如闇室中井種種 七寶 。
phi bổn vô kim hữu thị cố vi thường 。thiện nam tử 。như ám thất trung tỉnh chủng chủng thất bảo 。
chẳng phải xưa không mà nay có, nên đó là thường. Thiện nam tử , thí như trong nhà tối có bảy thứ báu và giếng nước
人亦知有闇故不見。
nhân diệc tri hữu ám cố bất kiến 。
mọi người đều biết có nhưng do tối nên không thấy được,
有智之人善知方便然大明燈持往照了悉得見之。
hữu trí chi nhân thiện tri phương tiện nhiên Đại minh đăng trì vãng chiếu liễu tất đắc kiến chi 。
người có trí biết dùng phương tiện thắp ngọn đèn lớn cầm đến thì được thấy rõ tất cả,
是人於此終不生念。水及 七寶 本無今有。
thị nhân ư thử chung bất sanh niệm 。thủy cập thất bảo bổn vô kim hữu 。
người này trọn không khởi ý nghĩ giếng và bảy báu xưa không có mà nay có.
涅槃亦爾本自有之非適今也。 煩惱 闇故眾生不見。
Niết-Bàn diệc nhĩ bổn tự hữu chi phi thích kim dã 。 phiền não ám cố chúng sanh bất kiến 。
Niết-bàn cũng lại như vậy, vốn là tự có chẳng phải nay mới có, do bóng tối phiền não nê n chúng sanh không thấy mà thôi,
大智 如來 以善方便燃智慧燈。
Đại trí Như Lai dĩ thiện phương tiện nhiên trí tuệ đăng 。
Bậc Như Lai đại trí khéo dùng phương tiện thắp ngọn đèn trí huệ
令諸 菩薩 得見 涅槃 常樂我淨。
lệnh chư Bồ-tát đắc kiến Niết-Bàn thường lạc ngã tịnh 。
khiến các Bồ-tát được thấy Niết-bàn Thường Lạc Ngã Tịnh,
是故智者於此 涅槃 不應說言本無今有。 善男子 。
thị cố trí giả ư thử Niết-Bàn bất ứng thuyết ngôn bổn vô kim hữu 。thiện nam tử 。
cho nên người trí đối với Niết-bàn không nên nói xưa không mà nay có. Thiện nam tử ,
汝言因莊嚴故得成 涅槃 應 無常 者。是亦不然。何以故。 善男子 。
nhữ ngôn nhân trang nghiêm cố đắc thành Niết-Bàn ứng vô thường giả 。thị diệc bất nhiên 。hà dĩ cố 。thiện nam tử 。
Ông nói do trang nghiêm mà thành tựu Niết-bàn thì phải là vô thường . Không phải như vậy, tại vì sao. Thiện nam tử ,
涅槃之體非生非出非實非虛。
Niết-Bàn chi thể phi sanh phi xuất phi thật phi hư 。
Thể của Niết-bàn chẳng phải sanh, chẳng xuất, chẳng thật, chẳng hư,
非作業生非是有漏有為之法。非聞非見非墮非死。非別異相亦非同相。
phi t ác nghiệp sanh phi thị hữu lậu hữu vi chi Pháp 。phi văn phi kiến phi đọa phi tử 。phi biệt dị tướng diệc phi đồng tướng 。
chẳng phải tạo nghiệp mà sanh, chẳng phải pháp hữu lậu hữu vi, chẳng nghe, chẳng thấy, chẳng đọa lạc, chẳng chết, chẳng có tướng riêng, cũng chẳng phải tướng chung,
非往非還非 去來今 非一非多。
phi vãng phi hoàn phi khứ lai kim phi nhất phi đa 。
chẳng đi chẳng đến, chẳng quá khứ, vị lai, hiện tại, chẳng ít chẳng nhiều,
非長非短非圓非方非尖非斜 非有 相非無相非名非
phi trường phi đoản phi viên phi phương phi tiêm phi tà phi hữu tướng phi vô tướng phi danh phi
chẳng dài, chẳng ngắn, chẳng tròn, chẳng vuông, chẳng bằng, chẳng nhọn, chẳng có tướng, chẳng vô tướng, chẳng danh, chẳng sắc,
色。非因非果非 我我所 。以是義故。
sắc 。phi nhân phi quả phi ngã ngã sở 。dĩ thị nghĩa cố 。
chẳng nhân, chẳng qủa, chẳng có ngã, chẳng có ngã sở. Do nghĩa này
涅槃是常恒不變易。是以無量 阿僧祇 劫修集善法。
Niết-Bàn thị thường hằng bất biến dịch 。thị dĩ vô lượng a tăng kì kiếp tu tập thiện Pháp 。
Niết-bàn là thường hằng không biến đổi, cho nên vô lượng A-tăng-kỳ kiếp tu tập thiện pháp,
以自莊嚴然後乃見。 善男子 。
dĩ tự trang nghiêm nhiên hậu nãi kiến 。thiện nam tử 。
để tự trang nghiêm rồi sau mới thấy. Thiện nam tử ,
譬如地下有 八味 水。一切眾生而不能得。
thí như địa hạ hữu bát vị thủy 。nhất thiết chúng sanh nhi bất năng đắc 。
thí như dưới đất có dòng nước tám vị, tất cả chúng sanh không thể có được
有智之人施功穿掘則便得之。 涅槃 亦爾。譬如盲人不見日月。
hữu trí chi nhân thí công xuyên quật tắc tiện đắc chi 。 Niết-Bàn diệc nhĩ 。thí như manh nhân bất kiến nhật nguyệt 。
người có trí bỏ công sức ra đào, liền thấy nước. Niết-bàn cũng như vậy, thí như người mù không thấy mặt trời mặt trăng,
良醫療之則便得見。而是日月非是本無今有。
lương y liệu chi tắc tiện đắc kiến 。nhi thị nhật nguyệt phi thị bổn vô kim hữu 。
nhờ thầy thuốc trị khỏi thì liền được thấy, nhưng mặt trời mặt trăng chẳng phải là xưa không nay có,
涅槃亦爾先自有之非適今也。 善男子 。
Niết-Bàn diệc nhĩ tiên tự hữu chi phi thích kim dã 。thiện nam tử 。
Niết-bàn cũng như vậy, trước đã tự có chẳng phải nay mới có. Thiện nam tử ,
如人有罪繫之囹圄久乃得出。
như nhân hữu tội hệ chi linh ngữ cửu nãi đắc xuất 。
như người có tội bị giam cầm lâu mới được thả ra,
還家得見父母兄弟妻子眷屬。 涅槃 亦爾。 善男子 。
hoàn gia đắc kiến phụ mẫu huynh đệ thê tử quyến chúc 。 Niết-Bàn diệc nhĩ 。thiện nam tử 。
khi trở về nhà được gặp cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, Niết-bàn cũng như vậy. Thiện nam tử ,
汝言 因緣 故 涅槃 之法應 無常 者。是亦不然。何以故。
nhữ ngôn nhân duyên cố Niết-Bàn chi Pháp ứng vô thường giả 。thị diệc bất nhiên 。hà dĩ cố 。
Ông nói do nhân duyên nên pháp Niết-bàn phải là vô thường , đây là không đúng, tại vì sao?
善男子。因有五種。何等為五。一者生因。
thiện nam tử 。nhân hữu ngũ chủng 。hà đẳng vi ngũ 。nhất giả sanh nhân 。
Thiện nam tử, nhân duyên có năm loại, thế nào là năm? Một là sanh nhân;
二者和合因。三者住因。四者增長因。五者遠因。
nhị giả hòa hợp nhân 。tam giả trụ nhân 。tứ giả tăng trường nhân 。ngũ giả viễn nhân 。
hai là hòa hợp nhân; ba là trụ nhân, bốn là tăng trưởng nhân, năm là viễn nhân.
云何生因。生因者即是業 煩惱 等。及外諸草木子。
vân hà sanh nhân 。sanh nhân giả tức thị nghiệp phiền não đẳng 。cập ngoại chư thảo mộc tử 。
Thế nào là sanh nhân? Sanh nhân tức là phiền não nghiệp vv… và các cây cỏ con bên ngoài,
是名生因。云何和合因。如善與善心和合。
thị danh sanh nhân 。vân hà hòa hợp nhân 。như thiện dữ thiện tâm hòa hợp 。
đó gọi là sanh nhân. Thế nào là hòa hợp nhân? Như điều thiện và tâm thiện hòa hợp,
不善與不善心和合。無記與無記心和合。
bất thiện dữ bất thiện tâm hòa hợp 。vô kí dữ vô kí tâm hòa hợp 。
điều bất thiện hòa hợp với tâm bất thiện, việc vô ký hòa hợp với tâm vô ký,
是名和合因。云何住因。如下有柱屋則不墮。
thị danh hòa hợp nhân 。vân hà trụ nhân 。như hạ hữu trụ ốc tắc bất đọa 。
đó gọi là hòa hợp nhân. Thế nào là trụ nhân? Như bên dưới có cột chống đỡ thì nhà không sập,
山河樹木因大地故而得住立。
sơn hà thụ mộc nhân Đại địa cố nhi đắc trụ lập 。
núi sông cây cỏ nhờ đại địa mà đứng vững,
內有 四大 無量 煩惱 眾生得住。是名住因。云何增長因。
nội hữu tứ Đại vô lượng phiền não chúng sanh đắc trụ 。thị danh trụ nhân 。vân hà tăng trường nhân 。
chúng sanh nhờ bốn đại, vô lượng phiền não mà được trụ, đó gọi là trụ nhân. Thế nào là tăng trưởng nhân?
因緣衣服飲食等故令眾生增長。
nhân duyên y phục ẩm thực đẳng cố lệnh chúng sanh tăng trường 。
dựa vào nhân duyên y phục, thức ăn mà chúng sanh được tăng trưởng,
如外種子火所不燒鳥所不食則得增長。如諸 沙門 婆羅門 等。
như ngoại chủng tử hỏa sở bất thiêu điểu sở bất thực tắc đắc tăng trường 。như chư Sa-môn Bà-la-môn đẳng 。
như hạt giống gieo xuống không bị lửa đốt hay chim ăn thì được tăng trưởng, như các Sa-môn,
依因和上 善知識 等而得增長。
y nhân hòa thượng thiện tri thức đẳng nhi đắc tăng trường 。
nương vào Hoà Thượng, Thiện tri thức mà được tăng trưởng,
如因父母子得增長。是名增長因。云何遠因。
như nhân phụ mẫu tử đắc tăng trường 。thị danh tăng trường nhân 。vân hà viễn nhân 。
như con nương vào cha mẹ mà được lớn khôn, đó gọi là tăng trưởng nhân. Thế nào là viễn nhân,
譬如因呪鬼不能害毒不能中。依憑國王無有 盜賊 。
thí như nhân chú quỷ bất năng hại độc bất năng trung 。y bằng Quốc Vương vô hữu đạo tặc 。
thí như nương vào Thần Chú thì qủy không thể làm hại, dựa vào quốc vương thì không bị giặc cướp,
如芽依因地水火風等。如水攢及人為蘇遠因。
như nha y nhân địa thủy hỏa phong đẳng 。như thủy toàn cập nhân vi tô viễn nhân 。
như mầm non nương vào đất nước gió lửa, như nước tưới và người là viễn nhân của cây cỏ,
如明色等為識遠因。父母精血為眾生遠因。
như minh sắc đẳng vi thức viễn nhân 。phụ mẫu tinh huyết vi chúng sanh viễn nhân 。
như sắc sánh là viễn nhân của sự thấy, như tinh huyết cha mẹ là viễn nhân của chúng sanh,
如時節等悉名遠因。 善男子 。
như thời tiết đẳng tất danh viễn nhân 。thiện nam tử 。
như thời tiết vv… đều gọi là viễn nhân. Thiện nam tử ,
涅槃之體非是如是 五因 所成。云何當言是 無常 因。
Niết-Bàn chi thể phi thị như thị ngũ nhân sở thành 。vân hà đương ngôn thị vô thường nhân 。
Thể của Niết-bàn chẳng do năm thứ nhân như vậy mà thành tựu,tại sao lại nói nhân vô thường .
復次 善男子 。復有 二因 。一者作因。二者了因。
phục thứ thiện nam tử 。phục hữu nhị nhân 。nhất giả tác nhân 。nhị giả liễu nhân 。
Lại nữa Thiện nam tử , lại có hai thứ nhân, một là tác nhân hai là liễu nhân.
如陶師輪繩。是名作因。如燈燭等照闇中物。
như đào sư luân thằng 。thị danh tác nhân 。như đăng chúc đẳng chiếu ám trung vật 。
Như đồ gốm, bánh xe, dây cột, đều phải làm mới có, đó gọi là tác nhân, như đèn đuốc soi rõ mọi vật trong bóng tối,
是名了因。 善男子 。 大涅槃 者。
thị danh liễu nhân 。thiện nam tử 。Đại Niết-Bàn giả 。
đó gọi là liễu nhân. Thiện nam tử , Đại Niết-bàn
不從作因而有唯有了因。了因者。所謂三十七助 道法 六波羅蜜 。
bất tòng tác nhân nhi hữu duy hữu liễu nhân 。liễu nhân giả 。sở vị tam thập thất trợ đạo Pháp lục ba la mật 。
không phải tác nhân mà chỉ có liễu nhân, liễu nhân tức là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, sáu pháp Ba la mật,
是名了因。 善男子 。布施者是 涅槃 因。
thị danh liễu nhân 。thiện nam tử 。bố thí giả thị Niết-Bàn nhân 。
đó là liễu nhân. Thiện nam tử , người bố thí là nhân Niết-bàn ,
非 大涅槃 因。 檀波羅蜜 乃得名為大涅槃因。
phi Đại Niết-Bàn nhân 。đàn ba la mật nãi đắc danh vi Đại Niết-Bàn nhân 。
chẳng phải nhân Đại Niết-bàn , bố thí Ba-la-mật mới được gọi là nhân Đại Niết-bàn.
三十七品是 涅槃 因。非 大涅槃 因。
tam thập thất phẩm thị Niết-Bàn nhân 。phi Đại Niết-Bàn nhân 。
Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là nhân Niết-bàn , chẳng phải nhân Đại Niết-bàn,
無量 阿僧祇 助 菩提 法。乃得名為 大涅槃 因。
vô lượng a tăng kì trợ Bồ-đề Pháp 。nãi đắc danh vi Đại Niết-Bàn nhân 。
vô lượng A-tăng-kỳ pháp trợ đạo mới được gọi là nhân Đại Niết-bàn .
爾時光明遍照高貴德王 菩薩 摩訶薩白佛
nhĩ thời quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương Bồ-tát Ma-Ha tát bạch Phật
Lúc bấy giờ Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch Phật rằng:
言。 世尊 。云何布施不得名為 檀波羅蜜 。
ngôn 。 Thế tôn 。vân hà bố thí bất đắc danh vi đàn ba la mật 。
Bạch đức Thế Tôn , tại sao bố thí không được gọi là bố thí Ba-la-mật ,
云何布施而得名之 檀波羅蜜 。
vân hà bố thí nhi đắc danh chi đàn ba la mật 。
bố thí như thế nào mới được gọi là bố thí Ba-la-mật
乃至般若云何不得名為 般若波羅蜜 。
nãi chí Bát-nhã vân hà bất đắc danh vi Bát-nhã ba la mật 。
cho đến Bát-nhã , tại sao không được gọi là Bát-nhã Ba-la-mật ,
云何得名為 般若波羅蜜 。云何名 涅槃 。
vân hà đắc danh vi Bát-nhã ba la mật 。vân hà danh Niết-Bàn 。
làm thế nào mới được gọi là Bát-nhã Ba-la-mật . Thế nào gọi là Niết-bàn ,
云何名大 涅槃佛 言。 善男子 。
vân hà danh Đại Niết-Bàn Phật ngôn 。thiện nam tử 。
thế nào gọi là Đại Niết-bàn ? Phật dạy: Thiện nam tử ,
菩薩 摩訶薩 修行方等 大般涅槃 。不聞布施不見布施。
Bồ-tát Ma-Ha tát tu hành phương đẳng Đại bát Niết-bàn 。bất văn bố thí bất kiến bố thí 。
Bồ-tát Ma-ha -tát tu hành Phương đẳng Đại Niết-bàn không nghe bố thí không thấy bố thí,
不聞 檀波羅蜜 不見檀波羅蜜。乃至不聞般若不見般若。
bất văn đàn ba la mật bất kiến đàn ba la mật 。nãi chí bất văn Bát-nhã bất kiến Bát-nhã 。
không nghe bố thí Ba-la-mật , không thấy bố thí Ba-la-mật, cho đến không nghe Bát-nhã không thấy Bát-nhã,
不聞 般若波羅蜜 不見般若波羅蜜。
bất văn Bát-nhã ba la mật bất kiến Bát-nhã ba la mật 。
không nghe Bát-nhã Ba-la-mật không thấy Bát-nhã Ba-la-mật.
不聞 涅槃 不見涅槃。不聞 大涅槃 不見大涅槃。
bất văn Niết-Bàn bất kiến Niết-Bàn 。bất văn Đại Niết-Bàn bất kiến Đại Niết-Bàn 。
không nghe Niết-bàn không thấy Niết-bàn, không nghe Đại Niết-bàn, không thấy Đại Niết-bàn.
菩薩 摩訶薩 修 大涅槃 。知見 法界 解了實相空 無所有 。
Bồ-tát Ma-Ha tát tu Đại Niết-Bàn 。tri kiến Pháp giới giải liễu thật tướng không vô sở hữu 。
Bồ-tát Ma-ha -tát tu hành Đại Niết-bàn , biết pháp giới, hiễu rõ thật tướng không có sở hữu,
無有和合覺知之相。
vô hữu hòa hợp giác tri chi tướng 。
không có tướng hòa hợp giác tri,
得無漏相無所作相如幻化相。 熱時炎 相 乾闥婆城 虛空之相。
đắc vô lậu tướng vô sở tác tướng như huyễn hóa tướng 。 nhiệt thời viêm tướng Càn thát bà thành hư không chi tướng 。
đắc tướng vô lậu, tướng vô sở tác, tướng như huyễn hóa, tướng khi nóng thì cháy, tướng hư không của thành Càn-thát-bà .
菩薩爾時得如是相。無貪恚癡不聞不見。
Bồ-tát nhĩ thời đắc như thị tướng 。vô tham khuể si bất văn bất kiến 。
Lúc bấy giờ Bồ-tát đắc tướng như vậy, không có tham sân si, không nghe không thấy,
是名 菩薩 摩訶薩真實之相安住實相。
thị danh Bồ-tát Ma-Ha tát chân thật chi tướng an trú thật tướng 。
đó gọi là Bồ-tát Ma-ha -tát có tướng chân thật, an trụ thật tướng,
菩薩 摩訶薩 自知此是檀此是 檀波羅蜜 。
Bồ-tát Ma-Ha tát tự tri thử thị đàn thử thị đàn ba la mật 。
Bồ-tát Ma-ha -tát tự biết đây là bố thí, đây là bố thí Ba-la-mật ,
乃至此是般若此是 般若波羅蜜 。
nãi chí thử thị Bát-nhã thử thị Bát-nhã ba la mật 。
cho đến đây là Bát-nhã , đây là Bát-nhã Ba-la-mật ,
此是 涅槃 此是 大涅槃 善男子 。云何是施非 波羅蜜 。
thử thị Niết-Bàn thử thị Đại Niết-Bàn thiện nam tử 。vân hà thị thí phi ba la mật 。
đây là Niết-bàn , đây là Đại Niết-bàn. Thiện nam tử , thế nào là bố thí Ba-la-mật ,
見有乞者然後乃與。是名為施非 波羅蜜 。
kiến hữu khất giả nhiên hậu nãi dữ 。thị danh vi thí phi ba la mật 。
đó là thấy có người xin sau đó mới cho, đây gọi là bố thí phi Ba-la-mật .
若無乞者開心自施是則名為 檀波羅蜜 。
nhược vô khất giả khai tâm tự thí thị tắc danh vi đàn ba la mật 。
Nếu không có người xin mà phát tâm tự bố thí thì gọi là bố thí phi Ba-la-mật .
若時時施是名為施非 波羅蜜 。若修常施是則名為 檀波羅蜜 。
nhược thời thời thí thị danh vi thí phi ba la mật 。nhược tu thường thí thị tắc danh vi đàn ba la mật 。
Nếu có lúc mới bố thí gọi là bố thí phi Ba-la-mật , nếu thường bố thí thì gọi là bố thí Ba-la-mật,
若施他已還生悔心是名為施非 波羅蜜 。
nhược thí tha dĩ hoàn sanh hối tâm thị danh vi thí phi ba la mật 。
nếu bố thí cho người rồi lại sanh tâm hối hận thì gọi là bố thí phi Ba-la-mật ,
施已不悔是則名為 檀波羅蜜 。
thí dĩ bất hối thị tắc danh vi đàn ba la mật 。
cho rồi không sanh tâm hối hận thì gọi là bố thí Ba-la-mật .
菩薩 摩訶薩 於財物中生四怖心。王賊水火。
Bồ-tát Ma-Ha tát ư tài vật trung sanh tứ phố tâm 。Vương tặc thủy hỏa 。
Bồ-tát Ma-ha -tát đối với tài vật sanh bốn tâm sợ hãi,đoa là vua, giặc cướp, lửa, nước
歡喜施與是則名為 檀波羅蜜 。若望報施是名為施非波羅蜜。 hoan hỉ thí dữ thị tắc danh vi đàn ba la mật 。nhược vọng báo thí thị danh vi thí phi ba la mật 。
hoan hỷ bố thí thì goi là bó thí Ba-la-mật , nếu bố thí mà mong cầu qủa báo thì gọi là bố thí phi Ba-la-mật
施不望報是則名為 檀波羅蜜 。
thí bất vọng báo thị tắc danh vi đàn ba la mật 。
bố thí không mong cầu qủa báo thì gọi là bố thí Ba-la-mật .
若為恐怖名聞利養家 法相 續 天上 五欲 。
nhược vi khủng phố Danh-Văn lợi dưỡng gia Pháp tướng tục Thiên thượng ngũ dục 。
Nếu vì sợ hãi, danh tiếng, lợi dưỡng, gia pháp, hoặc nối tiếp ngũ dục ở cõi trời,
為憍慢故為勝他故為知識故為來報故。如市易法。
vi kiêu mạn cố vi thắng tha cố vi tri thức cố vi lai báo cố 。như thị dịch Pháp 。
hoặc vì kiêu mạn, vì muốn hơn người khác, vì thiện tri thức , hay vì qủa báo đời sau, đo là như pháp trao đổi.
善男子。如人種樹。
thiện nam tử 。như nhân chủng thụ 。
Thiện nam tử, như người trồng cây
為得蔭涼為得花果及以材木。
vi đắc ấm lương vi đắc hoa quả cập dĩ tài mộc 。
vì được bóng mát, vì được hoa trái và cây gỗ
若人修行如是等施是名為施非 波羅蜜 菩薩 摩訶薩修行如是 大涅槃 者。
nhược nhân tu hành như thị đẳng thí thị danh vi thí phi ba la mật Bồ-tát Ma-Ha tát tu hành như thị Đại Niết-Bàn giả 。
nếu người tu hành như vậy mà bố thí thì gọi là bố thí phi Ba-la-mật . Bồ-tát Ma-ha -tát tu hành kinh Đại Niết-bàn ,
不見施者受者財物。不見時節不見福田及非福田。
bất kiến thí giả thọ giả tài vật 。bất kiến thời tiết bất kiến phúc điền cập phi phúc điền 。
không thấy người bố thí, người nhận hay tài vật, lúc không thấy thì không thấy phước điền và phi phước điền
不見因不見緣不見 果報 。不見作者不見受者。
bất kiến nhân bất kiến duyên bất kiến quả báo 。bất kiến tác giả bất kiến thọ giả 。
không thấy nhân, không thấy duyên, không thấy qủa báo, không thấy người tạo tác, không thấy người lãnh thọ
不見多不見少。不見淨不見不淨。不輕受者。
bất kiến đa bất kiến thiểu 。bất kiến tịnh bất kiến bất tịnh 。bất khinh thọ giả 。
không thấy nhiều không thấy ít , không thấy thanh tịnh, không thấy bất tịnh, không khinh người thọ,
己身財物。不見見者不見不見者不計己他。
kỷ thân tài vật 。bất kiến kiến giả bất kiến bất kiến giả bất kế kỷ tha 。
thân mình, tài vật, không thấy thấy, không thấy không thấy, không suy nghĩ mình và người,
唯為方等 大般涅槃 常住法故修行布施。
duy vi phương đẳng Đại bát Niết-bàn thường trụ Pháp cố tu hành bố thí 。
chỉ vì phương đẳng Đại Niết-bàn , vì pháp thường trụ cho nên tu hành bố thí
為利一切諸眾生故而行布施。
vi lợi nhất thiết chư chúng sanh cố nhi hành bố thí 。
vì lợi ích tất cả chúng sanh cho nên thực hành bố thí,
為斷一切眾生 煩惱 故行於施。
vi đoạn nhất thiết chúng sanh phiền não cố hành ư thí 。
vì đoạn tất cả não cho chúng sanh nên thực hành bố thí,
為諸眾生不見受者施者財物故行於施。 善男子 。
vi chư chúng sanh bất kiến thọ giả thí giả tài vật cố hành ư thí 。thiện nam tử 。
vì các chúng sanh không thấy người thọ nhận, người bố thí, vật thí, nên thực hành bố thí. Thiện nam tử ,
譬如有人墮大海水抱持死屍則得度脫。
thí như hữu nhân đọa Đại hải thủy bão trì tử thi tắc đắc độ thoát 。
thí như có người rơi vào biển lớn, ôm lấy thây chết tức được độ thoát.
菩薩 摩訶薩 修 大涅槃 行布施時。亦復如是如彼死屍。 善男子 。
Bồ-tát Ma-Ha tát tu Đại Niết-Bàn hành bố thí thời 。diệc phục như thị như bỉ tử thi 。thiện nam tử 。
Bồ-tát Ma-ha -tát tu Đại Niết-bàn lúc thực hành bố thí cũng lại như vậy, như thây chết kia. Thiện nam tử ,
譬如有人閉在深獄門戶 堅牢 。
thí như hữu nhân bế tại thâm ngục môn hộ kiên lao 。
thí như có người bị nhốt trong lao ngục kiên cố
唯有廁孔便從中出到無礙處。
duy hữu xí khổng tiện tòng trung xuất đáo vô ngại xử 。
chỉ có một lỗ nơi nhà xí có thể ra đến chỗ an toàn,
菩薩 摩訶薩 修 大涅槃 行布施時亦復如是。 善男子 。
Bồ-tát Ma-Ha tát tu Đại Niết-Bàn hành bố thí thời diệc phục như thị 。thiện nam tử 。
Bồ-tát Ma-ha -tát tu Đại Niết-bàn khi thực hành bố thí cũng lại như vậy. Thiện nam tử ,
譬如貴人恐怖急厄更無恃怙依旃陀羅。
thí như quý nhân khủng phố cấp ách canh vô thị hỗ y chiên đà la 。
thí như người cao sang lúc sợ hãi vì nguy cấp không nơi nương dựa bèn nương vào hạng Chiên-đà-la ,
菩薩 摩訶薩 修 大涅槃 行於布施亦復如是。 善男子 。
Bồ-tát Ma-Ha tát tu Đại Niết-Bàn hành ư bố thí diệc phục như thị 。thiện nam tử 。
Bồ-tát Ma-ha -tát tu Đại Niết-bàn khi thực hành bố thí cũng lại như vậy. Thiện nam tử ,
譬如病人為除病苦得安樂故服食不淨。
thí như bệnh nhân vi trừ bệnh khổ đắc an lạc cố phục thực bất tịnh 。
thí như người bịnh vì muốn hết bịnh khổ được an lạc nên ăn thứ bất tịnh,
菩薩 摩訶薩 修 大涅槃 行於布施亦復如是。 善男子 。
Bồ-tát Ma-Ha tát tu Đại Niết-Bàn hành ư bố thí diệc phục như thị 。thiện nam tử 。
Bồ-tát Ma-ha -tát tu Đại Niết-bàn khi thực hành bố thí cũng lại như vậy. Thiện nam tử ,
如 婆羅門 值榖勇貴為壽命故食噉狗肉。
như Bà-la-môn trị cốc dũng quý vi thọ mạng cố thực đạm cẩu nhục 。
như Bà-la-môn gặp lúc lúa gạo hiếm, vì thọ mạng nên ăn thịt chó,
菩薩 摩訶薩 修 大涅槃 行於布施亦復如是。 善男子 。
Bồ-tát Ma-Ha tát tu Đại Niết-Bàn hành ư bố thí diệc phục như thị 。thiện nam tử 。
Bồ-tát Ma-ha -tát tu Đại Niết-bàn khi thực hành bố thí cũng lại như vậy. Thiện nam tử ,
大 涅槃 中如是之事。從 無量劫 來不聞而聞。
Đại Niết-Bàn trung như thị chi sự 。tòng vô lượng kiếp lai bất văn nhi văn 。
Các việc như vậy trong Đại Niết-bàn từ vô lượng kiếp đến nay không nghe mà được nghe,
尸羅 尸羅波羅蜜 。乃至般若 般若波羅蜜 。
Thi-La Thi-La ba la mật 。nãi chí Bát-nhã Bát-nhã ba la mật 。
Trì giới, trì giới Ba-la-mật , cho đến trí tuệ, trí tuệ Ba-la-mật,
如佛雜花經中廣說。
như Phật tạp hoa Kinh trung quảng thuyết 。
như trong kinh Tạp Hoa Phật đã nói rõ hơn.
大般 涅槃經 卷第二十一
Đại bát Niết-bàn Kinh quyển đệ nhị thập nhất
Kinh Đại Niết-bàn
Quyển Thứ Hai Mươi Mốt.
============================================================
TUỆ QUANG 慧光 FOUNDATION http://www.daitangvietnam.com
Nguyên Tánh Trần Tiễn Khanh & Nguyên Hiển Trần Tiễn Huyến Phiên Âm và Lược Dịch Sun Apr 30 22:10:16 2006
============================================================s
TUỆ QUANG 慧光 FOUNDATION http://www.daitangvietnam.com
Nguyên Tánh Trần Tiễn Khanh & Nguyên Hiển Trần Tiễn Huyến Phiên Âm và Lược Dịch Sun Apr 30 22:10:16 2006
============================================================
【經文資訊】大正新脩 大藏經 第十二冊 No. 374《 大般涅槃 經》CBETA 電子佛典 V1.29 普及版
【Kinh văn tư tấn 】Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh đệ thập nhị sách No. 374《Đại bát Niết-bàn Kinh 》CBETA điện tử Phật Điển V1.29 phổ cập bản
【Kinh văn tư tấn 】Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh thứ mười hai sách No. 374《Đại bát Niết-bàn Kinh 》CBETA điện tử Phật Điển V1.29 khắp cùng bản
# Taisho Tripitaka Vol. 12, No. 374 大般涅槃 經, CBETA Chinese Electronic Tripitaka V1.29, Normalized Version
# Taisho Tripitaka Vol. 12, No. 374 Đại bát Niết-bàn Kinh , CBETA Chinese Electronic Tripitaka V1.29, Normalized Version
# Taisho Tripitaka Vol. 12, No. 374 Đại bát Niết-bàn Kinh , CBETA Chinese Electronic Tripitaka V1.29, Normalized Version
=========================================================================
=========================================================================
=========================================================================
Thích Nữ Chơn Tịnh hiệu đính
Vol. 12, No. 374
大般 涅槃經 卷第二十二
Đại bát Niết-bàn Kinh quyển đệ nhị thập nhị
Đại Niết-bàn Kinh
Quyển Thứ Hai Mươi Hai.
北涼 天竺 三藏 曇無讖譯
Bắc Lương Thiên trúc Tam Tạng Đàm Vô Sấm dịch
Tam tạng Đàm-vô-sấm người Thiên Trúc dịch vào đời Bắc Lương.
光明遍照高貴德王 菩薩 品第十之二
quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương Bồ-tát phẩm đệ thập chi nhị
Phẩm thứ mười, phần thứ hai: Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ-tát .
善男子。
Thiện nam tử 。
Thiện nam tử,
云何 菩薩 摩訶薩修 大涅槃 不聞而聞。 十二部經 其義深邃昔來不聞。
vân hà Bồ-tát Ma-Ha tát tu Đại bất văn nhi văn 。 thập nhị bộ Kinh kỳ nghĩa thâm thúy tích lai bất văn 。
thế nào là Bồ-tát Ma-ha -tát tu hành thì không nghe mà nghe? Đó là ý nghĩa sâu xa của mười hai bộ kinh xưa chưa từng nghe,
今因是經得具足聞。先雖得聞唯聞名字。
kim nhân thị Kinh đắc cụ túc văn 。tiên tuy đắc văn duy văn danh tự 。
nay nhờ kinh này mà được nghe đầy đủ, trước đây tuy được nghe mà chỉ nghe danh tự,
而今於此大 涅槃經 乃得聞義。
nhi kim ư thử Đại Niết-bàn Kinh nãi đắc văn nghĩa 。
mà nay ở nơi kinh Đại Niết-bàn này được nghe ý nghĩa.
聲聞緣覺唯聞 十二部經 名字不聞其義。今於此經具足得聞。
Thanh văn, Duyên giác duy văn thập nhị bộ Kinh danh tự bất văn kỳ nghĩa 。kim ư thử Kinh cụ túc đắc văn 。
Hàng Thanh văn , Duyên giác chỉ nghe tên của mười hai bộ kinh mà không được nghe ý nghĩa, nay ở nơi kinh này thì được nghe đầy đủ
是名不聞而聞。 善男子 。一切 聲聞 緣覺經中。
thị danh bất văn nhi văn 。 Thiện nam tử 。nhất thiết Thanh văn , Duyên giác Kinh trung 。
đó gọi là không nghe mà nghe. Thiện nam tử , trong tất cả kinh Thanh văn , Duyên giác
不曾聞佛有常樂我淨不畢竟滅。
bất tằng văn Phật hữu thường lạc ngã tịnh bất tất cánh diệt 。
chưa từng nghe rằng Phật có thường lạc ngã tịnh, không rốt ráo diệt,
三寶佛性無差別相。
Tam Bảo Phật tánh vô sai biệt tướng 。
Phật tánh Tam bảo không có tướng sai khác,
犯 四重罪 謗方等經作 五逆 罪及 一闡提 悉有佛性。今於此經而得聞之。
phạm tứ trọng tội báng phương đẳng Kinh tác ngũ nghịch tội cập nhất-xiển-đề tất hữu Phật tánh 。kim ư thử Kinh nhi đắc văn chi 。
người phạm bốn tội nặng, phỉ báng kinh Phương Đẳng, làm năm tội nghịch và hạng Nhất-xiển-đề đều có Phật tánh. Nay ở nơi kinh này mà được nghe hết,
是名不聞而聞。
thị danh bất văn nhi văn 。
đó gọi là không nghe mà nghe.
光明遍照高貴德王 菩薩 摩訶薩白佛言。 世尊 。
quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương Bồ-tát Ma-Ha tát bạch Phật ngôn 。 Thế tôn 。
Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ-tát Ma-ha -tát bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn ,
若犯重禁謗方等經作 五逆 罪 一闡提 等有佛性者。是等云何復墮 地獄 。 世尊 。
nhược phạm trọng cấm báng phương đẳng Kinh tác ngũ nghịch tội nhất-xiển-đề đẳng hữu Phật tánh giả 。thị đẳng vân hà phục đọa Địa-ngục 。 Thế tôn 。
nếu người phạm bốn tội nặng, phỉ báng kinh Phương Đẳng tạo năm tội nghịch, hạng Nhất-xiển-đề đều có Phật tánh, những người ấy tại sao lại đọa địa ngục . Bạch Thế Tôn ,
若使是等有佛性者。云何復言 無常 樂我淨。
nhược sử thị đẳng hữu Phật tánh giả 。vân hà phục ngôn vô thường lạc ngã tịnh 。
những hạng người này nếu có Phật tánh, tại sao lại nói không Thường Lạc Ngã Tịnh!
世尊。若 斷善根 名 一闡提 者。
Thế tôn 。nhược đoạn thiện căn danh nhất-xiển-đề giả 。
Bạch Thế Tôn , nếu đoạn thiện căn thì gọi là Nhất-xiển-đề,
斷善根時所有佛性云何不斷。
đoạn thiện căn thời sở hữu Phật tánh vân hà bất đoạn 。
lúc đoạn dứt thiện căn thì Phật tánh đang có tại sao không đoạn!
佛性若斷云何復言常樂我淨。如其不斷何故名為 一闡提 耶。 世尊 。
Phật tánh nhược đoạn vân hà phục ngôn thường lạc ngã tịnh 。như kỳ bất đoạn hà cố danh vi nhất-xiển-đề da 。 Thế tôn 。
Nếu đoạn Phật tánh thì sao lại nói thường lạc ngã tịnh, nếu không đoạn thì sao không gọi là Nhất-xiển-đề. Bạch Thế Tôn ,
犯 四重禁 名為不定。
phạm tứ trọng cấm danh vi bất định 。
người phạm bốn tội nặng gọi là bất định,
謗方等經作 五逆 罪及 一闡提 悉名不定。如是等輩若決定者。
báng phương đẳng Kinh tác ngũ nghịch tội cập nhất-xiển-đề tất danh bất định 。như thị đẳng bối nhược quyết định giả 。
người hủy báng kinh Phương Đẳng, tạo năm tội nghịch và Nhất-xiển-đề thì gọi là bất định, những hạng người như vậy nếu nhất định
云何得成阿耨多羅三藐三 菩提 。
vân hà đắc thành a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề 。
thì làm sao đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ?
得 須陀洹 乃至 辟支佛 亦名不定。若須陀洹至辟支佛是決定者。
đắc Tu-đà-hoàn nãi chí Bích-chi-phật diệc danh bất định 。nhược Tu-đà-hoàn chí Bích-chi-phật thị quyết định giả 。
Người đắc qủa Tu-đà-hoàn cho đến qủa Bích-chi-phật cũng gọi là bất định, nếu qủa Tu-đà-hoàn cho đến Bích-chi-phật là nhất định,
亦不應成阿耨多羅三藐三 菩提 。 世尊 。
diệc bất ứng thành a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề 。 Thế tôn 。
thì cũng không thể đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác . Bạch Thế Tôn ,
若犯四重不決定者。
nhược phạm tứ trọng bất quyết định giả 。
nếu người phạm bốn tội nặng mà không nhất định,
須陀洹乃至 辟支佛 亦不決定。如是不定諸佛 如來 亦復不定。若佛不定。
Tu-đà-hoàn nãi chí Bích-chi-phật diệc bất quyết định 。như thị bất định chư Phật như lai diệc phục bất định 。nhược Phật bất định 。
Thì qủa Tu-đà-hoàn cho đến quả Bích-chi-phật cũng không bất định, như vậy chư Phật Như Lai cũng bất định. Nếu Phật là bất định
涅槃體性亦復不定。至 一切法 亦復不定。
thể tánh diệc phục bất định 。chí nhất thiết Pháp diệc phục bất định 。
thì thể tánh cũng bất định, cho đến tất cả pháp cũng là bất định.
云何不定。若 一闡提 除一闡提則成 佛道 。
vân hà bất định 。nhược nhất-xiển-đề trừ nhất-xiển-đề tắc thành Phật đạo 。
Thế nào là bất định? Như hạng nhất-xiển-đề trừ được xiển đề thì thành Phật đạo ,
諸佛 如來 亦應如是。 入涅槃 已。
chư Phật như lai diệc ứng như thị 。nhập dĩ 。
chư Phật Như Lai cũng nên như vậy, nhập rồi
亦應還出不 入涅槃 。若如是者涅槃之性則為不定。
diệc ứng hoàn xuất bất nhập 。nhược như thị giả chi tánh tắc vi ất định 。
cũng nên trở ra không nhập, nếu như vậy thì tánh Niết-bàn là bất định,
不決定故當知無有常樂我淨。
bất quyết định cố đương tri vô hữu thường lạc ngã tịnh 。
do bất định nên biết không có thường lạc ngã tịnh,
云何說言 一闡提 等當得 涅槃 。
vân hà thuyết ngôn nhất-xiển-đề đẳng đương đắc 。
tại sao nói hạng Nhất-xiển-đề sẽ được Niết-bàn ?
爾時 世尊 告光明遍照高貴德王 菩薩 摩訶薩言。善哉善哉。 善男子 。
nhĩ thời Thế tôn cáo quang-minh biến chiếu cao quý đức Vương Bồ-tát Ma-Ha tát ngôn 。Thiện tai Thiện tai 。 Thiện nam tử 。
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn bảo với ngài Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ-tát Ma-ha -tát rằng: Lành thay, lành thay Thiện nam tử ,
為欲利益無量眾生令得安樂。憐愍慈念諸世間故。
vi dục lợi ích vô lượng chúng sanh lệnh đắc an lạc 。liên mẫn từ niệm chư thế gian cố 。
vì muốn lợi ích cho vô lượng chúng sanh khiến được an lạc, vì thương xót nhớ nghĩ các thế gian,
為欲增長 發菩提心 諸 菩薩 故。作如是問。 善男子 。
vi dục tăng trường phát Bồ-đề tâm chư Bồ-tát cố 。tác như thị vấn 。 Thiện nam tử 。
vì muốn tăng trưởng tâm Bồ-đề cho các Bồ-tát nên mới hỏi như vậy. Thiện nam tử ,
汝已親近過去無量諸 佛世尊 。
nhữ dĩ thân cận quá khứ vô lượng chư Phật Thế tôn 。
Ông đã gần gũi vô lượng chư Phật Thế Tôn trong đời quá khứ,
於諸佛所種諸善根。久已成就 菩提 功德 。
ư chư Phật sở chủng chư thiện căn 。cữu dĩ thành tựu Bồ-đề công đức 。
ở nơi chỗ chư Phật mà gieo trồng các căn lành, từ lâu đã thành tựu công đức Bồ-đề ,
降伏眾魔令其退散。已教無量無邊眾生。
hàng phục chúng ma lệnh kỳ thối tán 。dĩ giáo vô lượng vô biên chúng sanh 。
hàng phục các ma khiến phải thối lui, đã giáo hóa vô lượng vô biên chúng sanh,
悉令得至阿耨多羅三藐三 菩提 。
tất lệnh đắc chí a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề 。
đều khiến đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ,
久已通達諸佛 如來 所有甚深祕密之藏。
cữu dĩ thông đạt chư Phật như lai sở hữu thậm thâm bí mật chi tạng 。
từ lâu đã thông đạt tạng bí mật thâm sâu của chư Phật Như Lai ,
已問過去無量無邊恒河沙等諸 佛世尊 如是甚深微密之義。
dĩ vấn quá khứ vô lượng vô biên hằng hà sa đẳng chư Phật Thế tôn như thị thậm thâm vi mật chi nghĩa 。
đã hỏi ý nghĩa thâm sâu vi diệu như vậy nơi vô lượng vô biên hằng hà sa chư Phật Thế Tôn trong đời quá khứ,
我都不見一切世間。若人若天 沙門 婆羅門 若魔若梵。
ngã đô bất kiến nhất thiết thế gian 。nhược nhân nhược Thiên Sa-môn Bà-la-môn nhược ma nhược phạm 。
Ta không thấy tất cả người nơi thế gian hoặc người, hoặc trời, hoặc Sa-môn, Bà-la-môn , hoặc ma, hoặc Phạm thiên ,
有能諮問 如來 是義。今當誠心諦聽諦聽。
hữu năng ti vấn Như Lai thị nghĩa 。kim đương thành tâm đế thính đế thính 。
mà có thể hỏi Như Lai về ý nghĩa như vậy. Nay Ông phải thành tâm lắng nghe kỹ,
吾當為汝分別演說。 善男子 。 一闡提 者亦不決定。
ngô đương vi nhữ phân biệt diễn thuyết 。 Thiện nam tử 。nhất-xiển-đề giả diệc bất quyết định 。
Ta sẽ vì ông mà phân biệt diễn thuyết. Thiện nam tử , hạng Nhất-xiển-đề cũng là không nhất định,
若決定者是 一闡提 終不能得阿耨多羅三藐
nhược quyết định giả thị nhất-xiển-đề chung bất năng đắc a nậu đa-la tam miểu
nếu nhất định thì hạng Nhất-xiển-đề trọn không thể đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ,
三 菩提 。以不決定是故能得。
tam Bồ-đề 。dĩ bất quyết định thị cố năng đắc 。
do không nhất định cho nên có thể đắc.
如汝所言佛性不斷。云何 一闡提 斷善根 者。 善男子 。
như nhữ sở ngôn Phật tánh bất đoạn 。vân hà nhất-xiển-đề đoạn thiện căn giả 。 Thiện nam tử 。
Như lời ông nói Phật tánh không đoạn dứt. Thế nào là hạng Nhất-xiển-đề đoạn mất thiện căn. Thiện nam tử ,
善根有 二種 。一者內。二者外。佛性非內非外。
thiện căn hữu nhị chủng 。nhất giả nội 。nhị giả ngoại 。Phật tánh phi nội phi ngoại 。
Thiện căn có hai thứ, một là bên trong, hai là bên ngoài, Phật tánh thì chẳng phải bên trong chẳng phải bên ngoài,
以是義故佛性不斷。復有 二種 。一者有漏。二者無漏。
dĩ thị nghĩa cố Phật tánh bất đoạn 。phục hữu nhị chủng 。nhất giả hữu lậu 。nhị giả vô lậu 。
do nghĩa này nên Phật tánh không thể đoạn mất. Lại có hai thứ, một là hữu lậu, hai là vô lậu,
佛性 非有 漏非無漏。是故不斷。復有 二種 。
Phật tánh phi hữu lậu phi vô lậu 。thị cố bất đoạn 。phục hữu nhị chủng 。
Phật tánh chẳng phải hữu lậu, chẳng phải vô lậu, cho nên không đoạn dứt. Lại có hai thứ,
一者常。二者 無常 。佛性非常非無常。是故不斷。
nhất giả thường 。nhị giả vô thường 。Phật tánh phi thường phi vô thường 。thị cố bất đoạn 。
một là thường, hai là vô thường , Phật tánh chẳng phải thường chẳng phải vô thường cho nên không đoạn diệt.
若是斷者則應還得。若 不還 得則名不斷。
nhược thị đoạn giả tắc ứng hoàn đắc 。nhược Bất hoàn đắc tắc danh bất đoạn 。
Nếu là đoạn thì nên trở lại đắc, nếu không trở lại thì gọi là không đoạn,
若斷已得名 一闡提 。犯四重者亦是不定。
nhược đoạn dĩ đắc danh nhất-xiển-đề 。phạm tứ trọng giả diệc thị bất định 。
nếu đoạn rồi thì gọi là Nhất-xiển-đề. Người phạm bốn trọng tội cũng là bất định.
若決定者。
nhược quyết định giả 。
Nếu nhất định,
犯 四重禁 終不能得阿耨多羅三藐三 菩提 。謗方等經亦復不定。若決定者。
phạm tứ trọng cấm chung bất năng đắc a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề 。báng phương đẳng Kinh diệc phục bất định 。nhược quyết định giả 。
thì người phạm bốn tội nặng trọn không thể đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác , người hủy báng kinh Phương đẳng cũng lại như vậy. Nếu quyết định,
謗 正法 人終不能得阿耨多羅三藐三 菩提 。
báng chánh Pháp nhân chung bất năng đắc a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề 。
thì người hủy báng chánh pháp trọn không thể đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ,
作 五逆 罪亦復不定。若決定者。
tác ngũ nghịch tội diệc phục bất định 。nhược quyết định giả 。
Người tạo năm tội nghịch cũng là bất định, nếu quyết định,
五逆之人終不能得阿耨多羅三藐三 菩提 。色與色相二俱不定。
ngũ nghịch chi nhân chung bất năng đắc a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề 。sắc dữ sắc tướng nhị câu bất định 。
thì người tạo năm tội nghịch trọn không thể đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác . Sắc và sắc tướng cũng là bất định,
香味觸相生相。
hương vị xúc tướng sanh tướng 。
tướng hương, vị, xúc, tướng sanh,
至無明相陰入界相 二十五有 相 四生 乃至一切諸法。皆亦不定。 善男子 。
chí vô minh tướng uẩn nhập giới tướng nhị thập ngũ hữu tướng Tứ sanh nãi chí nhất thiết chư Pháp 。giai diệc bất định 。 Thiện nam tử 。
cho đến tướng vô minh, tướng ấm, giới, nhập, tướng hai mươi lăm cõi, tướng tứ sanh, cho đến tất cả các pháp cũng đều bất định. Thiện nam tử ,
譬如幻師在大眾中化作四兵車步象馬。
thí như huyễn sư tại Đại chúng trung hóa tác tứ binh xa bộ tượng mã 。
thí như nhà ảo thuật ở giữa mọi người hóa làm binh lính, xe cộ, voi ngựa,
作諸瓔珞嚴身之具。
tác chư anh lạc nghiêm thân chi cụ 。
hoặc hóa các thứ anh lạc trang nghiêm đầy đủ nơi thân,
城邑聚落山林樹木泉池河井。而彼眾中有諸小兒無有智慧。
thành ấp tụ lạc sơn lâm thụ mộc tuyền trì hà tỉnh 。nhi bỉ chúng trung hữu chư tiểu nhi vô hữu trí tuệ 。
hoặc hóa thành ấp, thôn xóm, núi rừng, sông hồ, ao giếng, trong chúng ấy có các trẻ nhỏ không hiểu biết,
覩見之時悉以為實。
đổ kiến chi thời tất dĩ vi thật 。
thấy các vật ấy bèn cho là thật.
其中智人知其虛誑以幻力故惑人眼目。 善男子 。
kỳ trung trí nhân tri kỳ hư cuống dĩ huyễn lực cố hoặc nhân nhãn mục 。 Thiện nam tử 。
nhưng người trí thì biết đó là hư vọng, do lực biến hóa làm che mắt người mà thôi. Thiện nam tử ,
一切凡夫乃至 聲聞 辟支佛 等。於 一切法 見有定相亦復如是。
nhất thiết phàm phu nãi chí Thanh văn Bích-chi-phật đẳng 。ư nhất thiết Pháp kiến hữu định tướng diệc phục như thị 。
tất cả phàm phu cho đến Thanh văn , Bích-chi-phật, đối với tất cả pháp thấy có tướng nhất định cũng lại như vậy,
諸佛 菩薩 於 一切法 不見定相。 善男子 。
chư Phật Bồ-tát ư nhất thiết Pháp bất kiến định tướng 。 Thiện nam tử 。
mà chư Phật Bồ-tát đối với tất cả không thấy tướng nhất định. Thiện nam tử ,
譬如小兒於盛夏月見熱時焰謂之為水。
thí như tiểu nhi ư thịnh hạ nguyệt kiến nhiệt thời diệm vị chi vi thủy 。
thí như trẻ con vào tháng bốn lúc nóng bức thấy hơi nóng của lửa bèn cho đó là nước,
有智之人於此熱焰終不生於實水之想。
hữu trí chi nhân ư thử nhiệt diệm chung bất sanh ư thật thủy chi tưởng 。
người có trí đối với hơi lửa nóng không sanh ý tưởng là nước,
但是虛焰誑人眼目非實是水。一切凡夫 聲聞 緣覺見 一切法 。
đãn thị hư diệm cuống nhân nhãn mục phi thật thị thủy 。nhất thiết phàm phu Thanh văn , Duyên giác kiến nhất thiết Pháp 。
đó chỉ là hư vọng, chẳng phải là nước thật. Tất cả phàm phu Thanh văn , Duyên giác thấy tất cả pháp
亦復如是悉謂是實。
diệc phục như thị tất vị thị thật 。
cũng lại như vây, đều cho là thật có,
諸佛 菩薩 於 一切法 不見定相。 善男子 。譬如山澗因聲有響。
chư Phật Bồ-tát ư nhất thiết Pháp bất kiến định tướng 。 Thiện nam tử 。thí như sơn giản nhân thanh hữu hưởng 。
chư Phật Bồ-tát đối với tất cả pháp không thấy tướng nhất định. Thiện nam tử , thí như khe núi do âm thanh mà có tướng vọng,
小兒聞之謂是實聲。有智之人解無定實。
tiểu nhi văn chi vị thị thật thanh 。hữu trí chi nhân giải vô định thật 。
trẻ con nghe bèn cho đó là âm thanh thật. Người trí hiểu rõ đó chẳng phải là thật,
但有聲相誑於 耳識 。 善男子 。
đãn hữu thanh tướng cuống ư nhĩ thức 。 Thiện nam tử 。
chỉ có tướng âm thanh làm mê hoặc ở ở tai mà thôi. Thiện nam tử ,
一切凡夫 聲聞 緣覺於 一切法 。亦復如是見有定相。 nhất thiết phàm phu Thanh văn , Duyên giác ư nhất thiết Pháp 。diệc phục như thị kiến hữu định tướng 。
tất cả phàm phu, Thanh văn , Duyên giác đối với tất cả pháp cũng lại như vậy, thấy có tướng nhất định,
諸 菩薩 等解了諸法悉無定相。見 無常 相 空寂 等相無生滅相。
chư Bồ-tát đẳng giải liễu chư Pháp tất vô định tướng 。kiến vô thường tướng không tịch đẳng tướng vô sanh diệt tướng 。
các Bồ-tát thì hiểu rõ các pháp đều có tướng nhất định, thấy tướng vô thường , tướng vắng lặng, tướng không sanh diệt.
以是義故。 菩薩 摩訶薩見 一切法 是 無常 相。
dĩ thị nghĩa cố 。 Bồ-tát Ma-Ha tát kiến nhất thiết Pháp thị vô thường tướng 。
Do nghĩa này nên Bồ-tát Ma-ha -tát thấy tất cả pháp là tướng vô thường .
善男子。亦有定相。云何為定。常樂我淨。
Thiện nam tử 。diệc hữu định tướng 。vân hà vi định 。thường lạc ngã tịnh 。
Thiện nam tử, cũng có tướng nhất định. Thế nào là nhất định, đó là thường lạc ngã tịnh,
在何處耶。所謂 涅槃 。 善男子 。 須陀洹 果亦復不定。
tại hà xử da 。sở vị 。 Thiện nam tử 。 Tu-đà-hoàn quả diệc phục bất định 。
ở tại nơi nào? Đó là. Thiện nam tử , người đắc qủa Tu-đà-hoàn cũng là bất định,
不決定故經八萬劫得阿耨多羅三藐三 菩提
bất quyết định cố Kinh bát vạn kiếp đắc a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề
do bất định nên trải qua tám vạn kiếp mới đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác .
心。 斯陀含果 亦復不定。
tâm 。 Tư đà hàm quả diệc phục bất định 。
Người đắc qủa Tư-đà-hàm cũng là bất định
不決定故經六萬劫得阿耨多羅三藐三 菩提心 。
bất quyết định cố Kinh lục vạn kiếp đắc a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề tâm 。
do bất định nên trải qua sáu vạn kiếp mới đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác .
阿那含果亦復不定。
A na hàm quả diệc phục bất định 。
Người đắc qủa A-na-hàm cũng là bất định,
不決定故經四萬劫得阿耨多羅三藐三 菩提心 。 阿羅漢果 亦復不定。
bất quyết định cố Kinh tứ vạn kiếp đắc a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề tâm 。A la hán quả diệc phục bất định。
do bất định nên trải qua bốn vạn kiếp mới đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác . Người đắc qủa A-la-hán cũng là bất định,
不決定故經二萬劫得阿耨多羅三藐三 菩提心 。
bất quyết định cố Kinh nhị vạn kiếp đắc a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề tâm 。
do bất định nên trải qua hai vạn kiếp mới đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác .
辟支 佛道 亦復不定。
Bích-chi-phật đạo diệc phục bất định 。
Người đắc qủa Bích-chi-phật cũng là bất định,
不決定故經十千劫得阿耨多羅三藐三 菩提心 。 善男子 。
bất quyết định cố Kinh thập thiên kiếp đắc a nậu đa la tam miểu tam Bồ-đề tâm 。 Thiện nam tử 。
do bất định nên trải qua mười ngàn kiếp mới đắc đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác . Thiện nam tử ,
如來今於 拘尸那 城娑羅雙樹間。
Như Lai kim ư Câu-thi-na thành sa-la song thụ gian。
Nay Như Lai ở giữa hai cây Sa-la tại thành Câu-thi-na
示現倚臥師子之床欲 入涅槃 。
thị hiện ỷ ngọa Sư-tử chi sàng dục nhập 。
mà thị hiện nằm giường Sư Tử muốn vào Niết-bàn
令諸未得 阿羅漢果 眾弟子等及諸力士生大憂苦。
lệnh chư vị đắc A la hán quả chúng đệ-tử đẳng cập chư lực sĩ sanh Đại ưu khổ。
khiến các chúng đệ tử chưa đắc qủa A-la-hán và các lực sĩ sanh ưu khổ
亦令天人阿修羅 乾闥婆 迦樓羅 緊那羅 摩睺羅伽 等大設供養。
diệc lệnh Thiên Nhơn A-tu-La Càn thát bà ca lâu la khẩn na la Ma hầu la dà đẳng Đại thiết cung dưỡng。
cũng khiến trời, người, a-tu-la, càn-thát-bà, ca-lâu-la, khẩn-na-la , ma-hầu-la-già dâng sự cúng dường lớn,
欲使諸人以千端疊纏裹其身。 七寶 為棺盛滿香油。
dục sử chư nhân dĩ thiên đoan điệp triền khoả kỳ thân。 thất bảo vi quan thịnh mãn hương du。
muốn khiến mọi người dùng ngàn lớp vải bọc thân, dùng bảy báu làm quan, đựng đầy dầu thơm
積諸香木以火焚之。唯除二端 不可得 燒。
tích chư hương mộc dĩ hỏa phần chi。duy trừ nhị đoan bất khả đắc thiêu 。
chất các thứ gỗ thơm rồi châm lửa đốt, chỉ trừ hai thứ không thể đốt
一者儭身。二最在外。
nhất giả sấn thân 。nhị tối tại ngoại 。
một là cái quan tài, hai nhưng thứ ngoài quan tài
為諸眾生分散 舍利 以為八分。一切所有 聲聞 弟子。
vi chư chúng sanh phân tán Xá-lợi dĩ vi bát phân。nhất thiết sở hữu Thanh văn đệ-tử。
vì các chúng sanh mà phân chia xá-lợi làm tám phần. Tất cả đệ tử Thanh văn hiện tại
咸言 如來 入於 涅槃 。當知如來亦不畢定入於涅槃。何以故。
hàm ngôn Như Lai nhập ư 。đương tri Như Lai diệc bất tất định nhập ư 。hà dĩ cố。
đều nói Như Lai nhập Niết-bàn . Phải biết Như Lai không rốt ráo nhập Niết-bàn, tại vì sao!
如來常住不變易故。以是義故。
Như Lai thường trụ bất biến dịch cố 。dĩ thị nghĩa cố 。
Do Như Lai là thường trụ bất biến, do nghĩa này
如來 涅槃 亦復不定。 善男子 。當知如來亦復不定。如來非天。
Như Lai diệc phục bất định 。 Thiện nam tử 。đương tri Như Lai diệc phục bất định 。Như Lai phi Thiên 。
nên Như Lai cũng là bất định. Thiện nam tử , phải biết Như Lai cũng là bất định, Như Lai chẳng phải là Thiên, (trời)
何以故。有 四種天 。一者 世間天 二者生天。
hà dĩ cố 。hữu tứ chủng Thiên 。nhất giả thế gian Thiên nhị giả sanh Thiên 。
Tại vì sao? Có bốn loại Thiên: một là Thế gian thiên, hai là Sanh thiên,
三者 淨天 。四者義天。 世間天 者如諸國王。
tam giả tịnh Thiên 。tứ giả nghĩa Thiên 。thế gian Thiên giả như chư Quốc Vương 。
ba là Tịnh Thiên, bốn là Nghĩa Thiên. Thế gian thiên tức là các quốc vương,
生天者從 四天王 乃至 非有 想非 無想天 。
sanh Thiên giả tòng tứ Thiên Vương nãi chí Phi hữu tưởng phi vô tưởng Thiên 。
Sanh thiên tức là từ cõi Tứ Thiên Vương cho đến cõi Phi Hữu Tưởng, Phi Vô Tưởng Thiên.
淨天者從 須陀洹 至 辟支佛 。
tịnh Thiên giả tòng Tu-đà-hoàn chí Bích-chi-phật 。
Tịnh Thiên là từ qủa vị Tu-đà-hoàn cho đến Bích-chi-phật.
義天者 十住 菩薩 摩訶薩等。以何義故十住菩薩名為義天。
nghĩa Thiên giả thập trụ Bồ-tát Ma-Ha tát đẳng 。dĩ hà nghĩa cố thập trụ Bồ-tát danh vi nghĩa Thiên 。
Nghĩa thiên tức là hàng Thập Trụ Bồ-tát Ma-ha -tát.v.v. Do nghĩa này nên Thập trụ Bồ-tát được gọi là Nghĩa thiên,
以能善解諸法義故。云何為義。見 一切法 是空義故。
dĩ năng thiện giải chư Pháp nghĩa cố 。vân hà vi nghĩa 。kiến nhất thiết Pháp thị không nghĩa cố 。
bởi có thể hiểu rỏ nghĩa của các pháp. Thế nào gọi là nghĩa, tức thấy tất cả pháp là không nghĩa vậy.
善男子。
Thiện nam tử 。
Thiện nam tử,
如來非王亦非四天乃至 非有 想非 無想天 。從 須陀洹 至 辟支佛 十住 菩薩 。
Như Lai phi Vương diệc phi tứ Thiên nãi chí Phi hữu tưởng phi vô tưởng Thiên 。tòng Tu-đà-hoàn chí Bích-chi-phật thập trụ Bồ-tát 。
Như Lai cũng chẳng phải là Quốc vương, cũng chẳng phải Tứ Thiên Vương , cho đến phi hữu tưởng, phi vô tưởng thiên, Tu-đà-hoàn , cho đến Bích-chi-phật, Thập Trụ Bồ-tát .
以是義故。 如來 非天。
dĩ thị nghĩa cố 。 Như Lai phi Thiên 。
Do nghĩa này nên biết Như Lai chẳng phải là Thiên,
然諸眾生亦復稱佛為 天中天 。是故 如來 非天非非天。非人非非人。
nhiên chư chúng sanh diệc phục xưng Phật vi Thiên trung Thiên 。thị cố Như Lai phi Thiên phi phi Thiên 。phi nhân phi phi nhân 。
nhưng các chúng sanh lại xưng Phật là Đấng Thiên Trung Thiên , mà Như Lai chẳng phải trời, chẳng phải không phải trời, chẳng phải người, chẳng phải không phải người,
非鬼非非鬼。非 地獄 畜生 餓鬼 。
phi quỷ phi phi quỷ 。phi Địa-ngục súc sanh ngạ quỷ 。
chẳng phải quỷ, chẳng phải không phải quỷ, chẳng phải địa ngục , ngạ quỷ , súc sanh,
非非 地獄 畜生 餓鬼 。非眾生非非眾生。非法非非法。
phi phi Địa-ngục súc sanh ngạ quỷ 。phi chúng sanh phi phi chúng sanh 。phi Pháp phi phi Pháp 。
chẳng phải không phải địa ngục , ngạ quỷ , súc sanh, chẳng phải chúng sanh, chẳng phải không phải chúng sanh, chẳng phải pháp, chẳng phải không phải pháp
非色非非色。非長非非長。非短非非短。非相非非相。
phi sắc phi phi sắc 。phi trường phi phi trường 。phi đoản phi phi đoản 。phi tướng phi phi tướng 。
chẳng phải sắc, chẳng phải không phải sắc, chẳng dài chẳng phải không dài, chẳng ngắn chẳng phải không ngắn, chẳng có tướng, chẳng phải không có tướng,
非心非非心。 非有 漏非無漏。非有為非無為。
phi tâm phi phi tâm 。 phi hữu lậu phi vô lậu 。phi hữu vi phi vô vi 。
chẳng phải tâm, chẳng phải không tâm , chẳng hữu lậu, chẳng phải vô lậu, chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi
非常非 無常 。非幻非非幻。非名非非名。
phi thường phi vô thường 。phi huyễn phi phi huyễn 。phi danh phi phi danh 。
chẳng thường chẳng vô thường , chẳng phải huyễn chẳng phải không huyễn, chẳng phải danh chẳng phải không danh,
非定非非定。 非有 非無。非說非非說。
phi định phi phi định 。 phi hữu phi vô 。phi thuyết phi phi thuyết 。
chẳng định chẳng phải không định , chẳng có chẳng không, chẳng thuyết chẳng không thuyết,
非 如來 非不如來。以是義故。如來不定。 善男子 。
phi Như Lai phi bất Như Lai 。dĩ thị nghĩa cố 。Như Lai bất định 。 Thiện nam tử 。
chẳng phải Như Lai chẳng phải không phải Như Lai. Do nghĩa này nên Như Lai là bất định. Thiện nam tử ,
何故 如來 不名世天。世天者即是諸王。
hà cố Như Lai bất danh thế Thiên 。thế Thiên giả tức thị chư Vương 。
Tại sao không gọi Như Lai là thế gian thiên , thế gian thiên tức là các vị Vua,
如來久於 無量劫 中已捨王位。是故非王。非非王者。
Như Lai cửu ư vô lượng kiếp trung dĩ xả Vương vị 。thị cố phi Vương 。phi phi Vương giả 。
Từ vô lượng kiếp lâu xa Như Lai đã xả bỏ ngôi Vua, cho nên chẳng phải Vua, chẳng phải không phải Vua,
如來生於 迦毘羅 城 淨飯王 家。是故非非王。
Như Lai sanh ư ca tì la thành Tịnh Phạn Vương gia 。thị cố phi phi Vương 。
Bởi Như Lai sanh vào cung Vua Tịnh Phạn ở thành Ca-tỳ-la, cho nên nói chẳng phải không phải Vua.
非生天者。 如來 久已離諸有故。是故非生天。
phi sanh Thiên giả 。 Như Lai cữu dĩ ly chư hữu cố 。thị cố phi sanh Thiên 。
Nói chẳng gọi là sanh thiên, do Như Lai từ lâu đã xa rời các hữu, cho nên chẳng phải sanh Thiên.
非非生天。何以故。昇 兜率天 下 閻浮提 故。
phi phi sanh Thiên 。hà dĩ cố 。thăng Đâu-suất Thiên hạ Diêm-phù-đề cố 。
Chẳng phải không phải là sanh Thiên, tại vì sao, bởi Như Lai lên cõi trời Đâu-suất rồi hạ sanh xuống cõi Diêm-phù-đề ,
是故 如來 非非生天。亦非 淨天 。何以故。
thị cố Như Lai phi phi sanh Thiên 。diệc phi tịnh Thiên 。hà dĩ cố 。
cho nên Như Lai chẳng phải không sanh Thiên. Cũng chẳng phải là Tịnh Thiên, tại vì sao,
如來非是 須陀洹 乃至非 辟支佛 。是故如來非是 淨天 。
Như Lai phi thị Tu-đà-hoàn nãi chí phi Bích-chi-phật 。thị cố Như Lai phi thị tịnh Thiên 。
Như Lai chẳng phải là Tu-đà-hoàn cho đến chẳng phải là Bích-chi-phật, cho nên Như Lai chẳng phải là Tịnh thiên.
非非 淨天 。何以故。世間 八法 所不能染。
phi phi tịnh Thiên 。hà dĩ cố 。thế gian bát Pháp sở bất năng nhiễm 。
Chẳng phải không phải Tịnh thiên, tại vì sao, do tám pháp thế gian không thể làm nhiễm ô
猶如 蓮花 不受塵水。是故 如來 非非 淨天 。亦非義天。
do như liên hoa bất thọ trần thủy 。thị cố Như Lai phi phi tịnh Thiên 。diệc phi nghĩa Thiên 。
giống như hoa sen không nhiễm bùn, cho nên Như Lai chẳng phải không phải là Tịnh thiên. Cũng chẳng phải là Nghĩa thiên,
何以故。 如來 非是 十住 菩薩 故。
hà dĩ cố 。 Như Lai phi thị thập trụ Bồ-tát cố 。
tại sao vậy, bởi Như Lai chẳng phải là Thập Trụ Bồ-tát ,
是故 如來 非義天也。非非義天。何以故。
thị cố Như Lai phi nghĩa Thiên dã 。phi phi nghĩa Thiên 。hà dĩ cố 。
cho nên Như Lai chẳng phải là Nghĩa thiên. Cũng chẳng phải không phải Nghĩa thiên, tại vì sao?
如來常修十八空義故。是故如來非非義天。如來非人。何以故。
Như Lai thường tu thập bát không nghĩa cố 。thị cố Như Lai phi phi nghĩa Thiên 。Như Lai phi nhân 。hà dĩ cố 。
Như Lai thường tu mười tám không nghĩa, cho nên Như Lai chẳng phải không phải Nghĩa thiên.
如來久於 無量劫 中離人有故是。故非人。
Như Lai cửu ư vô lượng kiếp trung ly nhân hữu cố thị 。cố phi nhân 。
Từ vô lượng kiếp lâu xa Như Lai đã xa lìa cõi người, cho nên chẳng phải là người.
亦非非人。何以故。生於 迦毘羅 城故是故非非人。
diệc phi phi nhân 。hà dĩ cố 。sanh ư ca tì la thành cố thị cố phi phi nhân 。
cũng chẳng phải không phải người, tại vì sao, bởi Như Lai sống ở thành Ca-tỳ-la nên chẳng phải không phải người.
如來非鬼。何以故。 不害 一切諸眾生故。
Như Lai phi quỷ 。hà dĩ cố 。 bất hại nhất thiết chư chúng sanh cố 。
Như Lai chẳng phải là quỷ, tại vì sao, vì không làm hại tất cả chúng sanh,
是故非鬼。亦非非鬼。何以故。亦以鬼像化眾生故。
thị cố phi quỷ 。diệc phi phi quỷ 。hà dĩ cố 。diệc dĩ quỷ tượng hóa chúng sanh cố 。
cho nên chẳng phải quỷ, cũng chẳng phải không phải quỷ, tại vì sao, bởi Như Lai cũng dùng hình tướng của quỷ để giáo hóa chúng sanh,
是故非非鬼。 如來 亦非 地獄 畜生 餓鬼 。
thị cố phi phi quỷ 。 Như Lai diệc phi Địa-ngục súc sanh ngạ quỷ 。
cho nên chẳng phải không phải quỷ. Như Lai cũng chẳng phải địa ngục ngạ quỷ sanh,
何以故。 如來 久離諸 惡業 故。
hà dĩ cố 。 Như Lai cửu ly chư ác nghiệp cố 。
tại vì sao, Như Lai từ lâu đã xa lìa các nghệp ác,
是故非 地獄 畜生 餓鬼 。亦非非地獄畜生餓鬼。何以故。
thị cố phi Địa-ngục súc sanh ngạ quỷ 。diệc phi phi Địa-ngục súc sanh ngạ quỷ 。hà dĩ cố 。
cho nên chẳng phải địa ngục ngạ quỷ súc sanh. Cũng chẳng phải không phải địa ngục ngạ quỷ súc sanh, tại vì sao?
如來亦復現受三惡諸趣之身化眾生故。
Như Lai diệc phục hiện thọ tam ác chư thú chi thân hóa chúng sanh cố 。
Bởi Như Lai cũng hiện thân lãnh thọ quả nơi ba đường ác để giáo hóa chúng sanh,
是故非非 地獄 畜生 餓鬼 。亦非眾生。何以故。
thị cố phi phi Địa-ngục súc sanh ngạ quỷ 。diệc phi chúng sanh 。hà dĩ cố 。
cho nên chẳng phải không phải địa ngục ngạ quỷ súc sanh. Cũng chẳng phải chúng sanh, tại vì sao?
久已遠離眾生性故。是故 如來 非眾生。亦非非眾生。
cữu dĩ viễn li chúng sanh tánh cố 。thị cố Như Lai phi chúng sanh 。diệc phi phi chúng sanh 。
vì từ lâu đã xa lìa tánh của chúng sanh, nên Như Lai chẳng phải chúng sanh, cũng chẳng phải không chúng sanh,
何以故。或時演說眾生相故。是故 如來 非非眾生。
hà dĩ cố 。hoặc thời diễn thuyết chúng sanh tướng cố 。thị cố Như Lai phi phi chúng sanh 。
tại vì sao, do có lúc diễn thuyết tướng chúng sanh, cho nên Như Lai chẳng phải không chúng sanh.
如來非法。何以故。諸法各各有別異相。
Như Lai phi Pháp 。hà dĩ cố 。chư Pháp các các hữu biệt dị tướng 。
Như Lai chẳng phải là pháp, tại vì sao, vì các pháp đều có tướng riêng biệt,
如來不爾唯有 一相 。是故非法。亦非非法。何以故。
Như Lai bất nhĩ duy hữu nhất tướng 。thị cố phi Pháp 。diệc phi phi Pháp 。hà dĩ cố 。
mà Như Lai không phải vậy, chỉ có một tướng, cho nên Như Lai chẳng phải là
Pháp. Cũng chẳng phải không pháp , tại vì sao,
如來。 法界 故。是故非非法。如來非色何以故。 Như Lai 。 Pháp giới cố 。thị cố phi phi Pháp 。Như Lai phi sắc hà dĩ cố 。
Như Lai là pháp giới, cho nên chẳng phải không pháp . Như Lai chẳng phải là sắc, tại vì sao,
十色入所不攝故。是故非色。亦非非色。
thập sắc nhập sở bất nhiếp cố 。thị cố phi sắc 。diệc phi phi sắc 。
do không phải là mười thứ sắc, cho nên chẳng phải sắc. Cũng chẳng phải không sắc ,
何以故。身有三十二相八十種好故。
hà dĩ cố 。thân hữu tam thập nhị tướng bát thập chủng hảo cố 。
tại vì sao, do thân Như Lai có ba mươi hai tướng tốt và có tám mươi vẽ đẹp,
是故非非色。 如來 非長。何以故。斷諸色故。是故非長。
thị cố phi phi sắc 。 Như Lai phi trường 。hà dĩ cố 。đoạn chư sắc cố 。thị cố phi trường 。
cho nên chẳng phải không sắc . Như Lai chẳng phải dài, tại vì sao, vì đã đoạn các sắc, cho nên chẳng phải dài.
亦非非長。何以故。
diệc phi phi trường 。hà dĩ cố 。
cũng chẳng phải không dài, tại vì sao,
一切世間無有能見頂髻相故。是故非非長。 如來 非短。何以故。
nhất thiết thế gian vô hữu năng kiến đính kế tướng cố 。thị cố phi phi trường 。 Như Lai phi đoản 。hà dĩ cố 。
tất cả thế gian không ai thấy tướng nhục kế, cho nên chẳng phải không dài. Như Lai chẳng phải ngắn, tại vì sao,
久已遠離憍慢結故。是故非短。亦非非短。何以故。
cữu dĩ viễn li kiêu mạn kết cố 。thị cố phi đoản 。diệc phi phi đoản 。hà dĩ cố 。
từ lâu đã xa lìa sự kiêu mạn, cho nên chẳng phải ngắn. Cũng chẳng phải không ngắn, tại vì sao,
為瞿師羅長者示三尺身故。是故非非短。
vi Cồ sư la Trưởng-Giả kì tam xích thân cố 。thị cố phi phi đoản 。
Như Lai vì trưởng giả Cù Sư La mà thị hiện thân ba thước, cho nên chẳng phải không ngắn.
如來非相。何以故。久已遠離諸相相故。是故非相。
Như Lai phi tướng 。hà dĩ cố 。cữu dĩ viễn li chư tướng tướng cố 。thị cố phi tướng 。
Như Lai là phi tướng, tại vì sao, từ lâu đã xa lìa các tướng, cho nên là phi tướng.
亦非非相。何以故。善知諸相故。是故非非相。
diệc phi phi tướng 。hà dĩ cố 。thiện tri chư tướng cố 。thị cố phi phi tướng 。
cũng chẳng phải phi tướng, tại vì sao, vì khéo biết các tướng, cho nên chẳng phải phi tướng,
如來非心。何以故。虛空相故。是故非心。
Như Lai phi tâm 。hà dĩ cố 。hư không tướng cố 。thị cố phi tâm 。
Như Lai là phi tâm, tại vì sao, vì tướng như hư không, cho nên là phi tâm.
亦非非心。何以故。有十力心法故。
diệc phi phi tâm 。hà dĩ cố 。hữu thập lực tâm Pháp cố 。
Cũng chẳng phải là phi tâm, tại vì sao, do có mười lực tâm pháp,
亦能知他眾生心故。是故非非心。 如來 非有 為。何以故。
diệc năng tri tha chúng sanh tâm cố。thị cố phi phi tâm。 Như Lai phi hữu vi。hà dĩ cố。
cũng có thể biết tâm của các chúng sanh, cho nên chẳng phải phi tâm. Như Lai chẳng phải là hữu vi, tại vì sao,
常樂我淨故。是故 非有 為。亦非無為。何以故。
thường lạc ngã tịnh cố 。thị cố phi hữu vi 。diệc phi vô vi 。hà dĩ cố 。
bởi là thường lạc ngã tịnh, cho nên chẳng phải hữu vi. Cũng chẳng phải vô vi , tại vì sao,
有來去坐臥示現 涅槃 故。是故非無為。
hữu lai khứ tọa ngọa thị hiện cố 。thị cố phi vô vi 。
vì có đi đến nằm ngồi thị hiện Niết-bàn , cho nên chẳng phải vô vi .
如來非常。何以故。身有分故是故非常。云何非常。
Như Lai phi thường 。hà dĩ cố 。thân hữu phần cố thị cố phi thường 。vân hà phi thường 。
Như Lai chẳng phải là thường, tại vì sao, do thân có phân chia nên chẳng phải là thường. Thế nào chẳng phải là thường,
以有知故。常法無知猶如虛空。
dĩ hữu tri cố 。thường Pháp vô tri do như hư không 。
do có hiểu biết, pháp thường là không biết giống như hư không
如來有知是故非常。云何非常。有言說故。
Như Lai hữu tri thị cố phi thường 。vân hà phi thường 。hữu ngôn thuyết cố 。
Như Lai có hiểu biết cho nên chẳng phải thường. Thế nào là chẳng phải thường, do có nói năng,
常法無言亦如虛空。 如來 有言是故 無常 。有姓氏故名曰無常。
thường Pháp vô ngôn diệc như hư không 。 Như Lai hữu ngôn thị cố vô thường 。hữu tính thị cố danh viết vô thường 。
pháp thường là không nói cũng như hư không, Như Lai có nói cho nên chẳng phải thường. Có họ tên nên gọi là vô thường ,
無姓之法乃名為常。虛空常故無有姓氏。
vô tính chi Pháp nãi danh vi thường 。hư không thường cố vô hữu tính thị 。
pháp không họ tên mới gọi là thường, hư không là thường nên không có họ tên.
如來有姓姓 瞿曇 氏是故 無常 。
Như Lai hữu tính tính Cồ Đàm thị thị cố vô thường 。
Như Lai có họ là Cu-đàm cho nên là vô thường .
有父母故名曰 無常 。無父母者乃名曰常。
hữu phụ mẫu cố danh viết vô thường 。vô phụ mẫu giả nãi danh viết thường 。
Có cha mẹ nên gọi là vô thường , không có cha mẹ mới gọi là thường,
虛空常故無有父母。佛有父母是故 無常 。有 四威儀 名曰無常。
hư không thường cố vô hữu phụ mẫu 。Phật hữu phụ mẫu thị cố vô thường 。hữu tứ uy nghi danh viết vô thường 。
hư không là thường nên không có cha mẹ, Như Lai có cha mẹ cho nên là vô thường . Có bốn oai nghi thì gọi là vô thường,
無 四威儀 乃名曰常。虛空常故無四威儀。
vô tứ uy nghi nãi danh viết thường 。hư không thường cố vô tứ uy nghi 。
không có bốn oai nghi mới gọi là thường, hư không là thường nên không có bốn oai nghi,
佛有 四威儀 是故 無常 。常住之法無有方所。
Phật hữu tứ uy nghi thị cố vô thường 。thường trụ chi Pháp vô hữu phương sở 。
Phật có bốn oai nghi cho nên vô thường . Pháp thường trụ không có phương hướng,
虛空常故無有方所。 如來 出在 中天 竺地。
hư không thường cố vô hữu phương sở 。 Như Lai xuất tại trung Thiên trúc địa 。
hư không là thường nên không có phương hướng, Như Lai đản sanh tại nước Thiên Trúc ,
住舍婆提或 王舍 城。是故 無常 。
trụ xá Bà đề hoặc Vương xá thành 。thị cố vô thường 。
ở thành Vương Xá hoặc Xá-bà-đề, cho nên là vô thường .
以是義故 如來 非常亦非非常。何以故。生永斷故。
dĩ thị nghĩa cố Như Lai phi thường diệc phi phi thường 。hà dĩ cố 。sanh vĩnh đoạn cố 。
Do nghĩa này nên Như Lai chẳng phải thường, cũng chẳng phải không thường, tại vì sao, vì sanh đã đoạn diệt.
有生之法名曰 無常 。無生之法乃名為常。
hữu sanh chi Pháp danh viết vô thường 。vô sanh chi Pháp nãi danh vi thường 。
Pháp có sanh thì gọi là vô thường , pháp không sanh mới gọi là thường,
如來無生是故為常。常法無性。有性之法名曰 無常 。
Như Lai vô sanh thị cố vi thường 。thường Pháp Vô tánh 。hữu tánh chi Pháp danh viết vô thường 。
Như Lai là không sanh cho nên là thường. Pháp thường là vô tánh, pháp có tánh thì gọi là vô thường ,
如來無生無性無生無性故常。
Như Lai vô sanh Vô tánh vô sanh Vô tánh cố thường。
Như Lai là vô sanh tánh, do vô sanh vô tánh nên gọi là thường.
有常之法遍 一切處 。猶如虛 空無 處不有。
hữu thường chi Pháp biến nhất thiết xử 。do như hư không vô xử bất hữu 。
Pháp hữu thường thì biến khắp mọi nơi giống như hư không, không nơi nào không có,
如來亦爾遍 一切處 。是故為常。 無常 之法或言此有或言彼無。
Như Lai diệc nhĩ biến nhất thiết xử 。thị cố vi thường 。 vô thường chi Pháp hoặc ngôn thử hữu hoặc ngôn bỉ vô 。
Như Lai cũng như vậy biến khắp mọi nơi cho nên gọi là thường. Pháp vô thường thì hoặc nói đây có hoặc nói kia không,
如來不爾不可說言是處有彼處無。
Như Lai bất nhĩ bất khả thuyết ngôn thị xử hữu bỉ xử vô 。
Như Lai không như vậy, không thể nói chỗ này có chỗ kia không,
是故為常。 無常 之 法有 時是有有時是無。
thị cố vi thường 。 vô thường chi Pháp hữu thời thị hữu hữu thời thị vô 。
cho nên gọi là thường. Pháp vô thường thì lúc có là có lúc có là không,
如來不爾有時是有有時是無。是故為常。
Như Lai bất nhĩ hữu thời thị hữu hữu thời thị vô 。thị cố vi thường 。
Như Lai không như vậy, lúc có là có lúc không là không, cho nên là thường.
常住之法無名無色。虛空常故無名無色。
thường trụ chi Pháp vô danh vô sắc 。hư không thường cố vô danh vô sắc 。
Pháp thường trụ không gọi là vô sắc, hư không là thường nên gọi là vô sắc,
如來亦爾無名無色是故為常。常住之法無因無果。
Như Lai diệc nhĩ vô danh vô sắc thị cố vi thường 。thường trụ chi Pháp vô nhân vô quả 。
Như Lai cũng như vậy, không gọi là vô sắc cho nên là thường. Pháp thường trụ là không nhân không quả,
虛空常故無因無果。 如來 亦爾無因無果。是故為常。
hư không thường cố vô nhân vô quả 。 Như Lai diệc nhĩ vô nhân vô quả 。thị cố vi thường 。
hư không là thường nên không có nhân quả, Như Lai cũng như vậy, không nhân không qủa cho nên là thường.
常住之法 三世 不攝。
thường trụ chi Pháp tam thế bất nhiếp 。
Pháp thường trụ không thuộc ba đời,
如來亦爾 三世 不攝是故為常。如來非幻。何以故。
Như Lai diệc nhĩ tam thế bất nhiếp thị cố vi thường 。Như Lai phi huyễn 。hà dĩ cố 。
Như Lai cũng vậy, không thuộc ba đời cho nên là thường. Như Lai chẳng phải là huyễn, vì sao thế?
永斷一切虛誑心故。是故非幻。亦非非幻。何以故。
vĩnh đoạn nhất thiết hư cuống tâm cố 。thị cố phi huyễn 。diệc phi phi huyễn 。hà dĩ cố 。
vì đã đoạn sạch tâm hư vọng, cho nên chẳng phải là huyễn. Cũng chẳng phải không huyễn, tại vì sao?
如來或時分此一身為無量身。無量之身復為一身。
Như Lai hoặc thời phân thử nhất thân vi vô lượng thân 。vô lượng chi thân phục vi nhất thân 。
Như Lai có lúc phân thân này làm vô lượng thân, vô lượng thân lại làm một thân,
山壁直過無有障礙。
sơn bích trực quá vô hữu chướng ngại 。
vượt qua núi, vách tường mà không trở ngại,
履水如地入地如水行空如地。身出煙焰如大火聚。雲雷震動其聲可畏。
lý thủy như địa nhập địa như thủy hành không như địa 。thân xuất yên diệm như Đại hỏa tụ 。vân lôi chấn động kỳ thanh khả úy 。
đi trên nước như đi trên đất, vào lòng đất như xuống nước, đi giữa hư không như trên đất, thân phát ra khói lửa như đống lửa lớn, phát ra sấm động âm thanh đáng sợ
或為城邑聚落舍宅山川樹木。
hoặc vi thành ấp tụ lạc xá trạch sơn xuyên thụ mộc 。
hoặc làm thành ấp tụ lạc nhà cửa núi sông rừng cây,
或作大身或作小身。男身女身童男童女身。
hoặc tác Đại thân hoặc tác tiểu thân 。nam thân nữ thân đồng nam đồng nữ thân 。
hoặc làm thân lớn hoặc làm thân nhỏ, hoặc làm thân nam, hoặc làm thân nữ, thân đồng nam, thân đồng nữ,
是故 如來 亦非非幻。如來非定。何以故。
thị cố Như Lai diệc phi phi huyễn 。Như Lai phi định 。hà dĩ cố 。
vì thế Như Lai cũng là huyễn. Như Lai cũng chẳng nhất định, tại vì sao?
如來於此 拘尸那 城娑羅雙樹間。示現入於 般涅槃 故。
Như Lai ư thử Câu-thi-na thành sa-la song thụ gian 。thị hiện nhập ư bát cố 。
Như Lai ở giữa hai cây Sa-la tại thành Câu-thi-na và thị hiện nhập Niết-Bàn
是故非定。亦非非定。何以故。常樂我淨故。
thị cố phi định 。diệc phi phi định 。hà dĩ cố 。thường lạc ngã tịnh cố 。
cho nên chẳng nhất định. Cũng chẳng phải không nhất định, tại vì sao, có thường lạc ngã tịnh vậy,
是故 如來 亦非非定。如來 非有 漏。何以故。斷 三漏 故。
thị cố Như Lai diệc phi phi định 。Như Lai phi hữu lậu 。hà dĩ cố 。đoạn tam lậu cố 。
cho nên Như Lai cũng chẳng phải không nhất định. Như Lai chẳng phải hữu lậu, tại vì sao, vì đã đoạn sạch ba lậu,
故 非有 漏。 三漏 者。
cố phi hữu lậu 。 tam lậu giả 。
cho nên chẳng phải hữu lậu. Ba lậu gồm có:
欲界一切 煩惱 除無明是名欲漏。色 無色界 一切煩惱除無明是名有漏。
dục giới nhất thiết phiền não trừ vô minh thị danh dục lậu 。sắc vô sắc giới nhất thiết phiền não trừ vô minh thị danh hữu lậu 。
Tất cả phiền não trong cõi dục trừ vô minh, thì gọi là dục lậu. Tất cả phiền não ở cõi sắc và vô sắc trừ vô minh, thì gọi là hữu lậu.
三界無明名 無明漏 。 如來 永斷是故非漏。
tam giới vô minh danh vô minh lậu 。 Như Lai vĩnh đoạn thị cố phi lậu 。
Vô minh trong ba cõi thì gọi là vô minh lậu , Như Lai đã đoạn hết cho nên chẳng phải lậu.
復次一切凡夫不見有漏。云何凡夫不見有漏。
phục thứ nhất thiết phàm phu bất kiến hữu lậu 。vân hà phàm phu bất kiến hữu lậu 。
Lại nữa tất cả phàm phu thì không thấy hữu lậu, tại sao phàm phu không thấy hữu lậu?
一切凡夫於 未來世 悉有疑心。
nhất thiết phàm phu ư vị lai thế tất hữu nghi tâm 。
vì tất cả phàm phu đều có tâm nghi đối với đời vị lai,
未來世中當得身耶不得身耶。
vị lai thế trung đương đắc thân da bất đắc thân da 。
nghi rằng trong đời vị lai sẽ được thân hay không được thân,
過去世中身本有耶為本無耶。 現在世 中是身有耶是身無耶。
quá khứ thế trung thân bổn hữu da vi bổn vô da 。 hiện tại thế trung thị thân hữu da thị thân vô da 。
trong đời quá khứ vốn có thân hay không có thân, trong đời hiện tại thân này có hay là không có.
若有我者。是色耶非色耶。色非色耶非色非非色耶。
nhược hữu ngã giả 。thị sắc da phi sắc da 。sắc phi sắc da phi sắc phi phi sắc da 。
Nếu có ngã thì đó là sắc hay phi sắc, sắc phi sắc hay là phi sắc phi phi sắc.
想耶非想耶。 想非想 耶非想非非想耶。
tưởng da phi tưởng da 。 tưởng phi tưởng da phi tưởng phi phi tưởng da 。
là tưởng hay phi tưởng, tưởng phi tưởng hay là phi tưởng phi phi tưởng?
是身屬他耶不屬他耶。屬不屬耶非屬非不屬耶。
thị thân chúc tha da bất chúc tha da 。chúc bất chúc da phi chúc phi bất chúc da 。
Thân này thuộc người khác hay không thuộc, là thuộc phi thuộc hay phi thuộc phi phi thuộc?
有命無身耶有身無命耶。
hữu mạng vô thân da hữu thân vô mạng da 。
Là có mạng thân không hay có thân mạng không?
有身有命耶無身無命耶。身之與命有常耶 無常 耶。
hữu thân hữu mạng da vô thân vô mạng da。thân chi dữ mạng hữu thường da vô thường da。
có thân có mạng hay không thân không mạng, thân và mạng là thường hay vô thường ,
常 無常 耶非常非無常耶。
thường vô thường da phi thường phi vô thường da 。
thường vô thường hay phi thường phi vô thường
身之與命自在作耶時節作耶。無因作耶世性作耶。
thân chi dữ mạng tự-tại tác da thời tiết tác da 。vô nhân tác da thế tánh tác da 。
thân và mạng là tự tại tạo tác hay đúng thời tiết mới tạo tác, là không có nhân mà tạo tác hay tánh thế gian tạo tác?
微塵作耶 法非法 作耶。士夫作耶 煩惱 作耶父母作耶。我住心耶。
vi trần tác da Pháp phi Pháp tác da 。sĩ phu tác da phiền não tác da phụ mẫu tác da 。ngã trụ tâm da 。
là vi trần tạo tác hay pháp phi pháp tạo tác. Là sĩ phu tạo tác, phiền não tạo tác hay Cha Mẹ tạo tác. Tâm trụ nơi ngã,
住眼中耶遍滿身中耶。從何來耶去何至耶。
trụ nhãn trung da biến mãn thân trung da 。tòng hà lai da khứ hà chí da 。
trụ nơi mắt hay biến khắp trong thân, từ đâu đến và đi về đâu,
誰生耶誰死耶。我於過去是 婆羅門 姓耶。
thùy sanh da thùy tử da 。ngã ư quá khứ thị Bà-la-môn tính da 。
ai sanh ai chết, đời quá khứ ta thuộc dòng Bà-la-môn chăng;
是剎利姓耶。是毘舍姓耶。是 首陀羅 姓耶。
thị sát lợi tính da 。thị Tì-xá tính da 。thị thủ Đà-la tính da 。
hay là dòng Sát-đế-lợi, Tỳ-xá, Thủ-đà-la?
當於未來得何姓耶。我此身者。
đương ư vị lai đắc hà tính da 。ngã thử thân giả 。
đến đời vị lai thì ở dòng nào. Thân ta nay
過去之時是男身耶是女身耶畜生身耶。
quá khứ chi thời thị nam thân da thị nữ thân da súc sanh thân da 。
vào thời quá khứ là nam hay nữ, hay là thân súc sanh?
若我殺生當有罪耶當無罪耶。乃至飲酒當有罪耶當無罪耶。
nhược ngã sát sanh đương hữu tội da đương vô tội da 。nãi chí ẩm tửu đương hữu tội da đương vô tội da 。
nếu ta sát sanh sẽ có tội hay không có tội, cho đến uống rượu sẽ có tội hay không có tội?
我自作耶為他作耶。我受報耶身受報耶。
ngã tự tác da vi tha tác da 。ngã thọ báo da thân thọ báo da 。
ta tự tạo tác hay vì người khác mà tạo tác, ta lãnh thọ báo hay thân lãnh thọ báo?
如是疑見無量 煩惱 覆眾生心。
như thị nghi kiến vô lượng phiền não phúc chúng sanh tâm 。
Như vậy sự nghi ngờ khiến vô lượng phiền não che lấp tâm chúng sanh,
因是疑見生六種心。決定有我。決定 無我 。我見我。
nhân thị nghi kiến sanh lục chủng tâm 。quyết định hữu ngã 。quyết định vô ngã 。ngã kiến ngã 。
do sự nghi này mà sanh ra sáu thứ tâm là: Quyết định có ngã, quyết định vô ngã , ngã thấy ngã,
我見 無我 。無我見我。我作我受我知。是名邪見。
ngã kiến vô ngã 。vô ngã kiến ngã 。ngã tác ngã thọ ngã tri 。thị danh tà kiến 。
ngã thấy vô ngã , vô ngã thấy ngã, ngã tạo tác ngã lãnh thọ ngã hiểu biết, đó gọi là tà kiến.
如來永拔如是無量 見漏 根本。是故非漏。 善男子 。
Như Lai vĩnh bạt như thị vô lượng kiến lậu căn bản 。thị cố phi lậu 。 Thiện nam tử 。
Như lai đã diệt sạch nguồn gốc vô lượng kiến lậu như vậy, cho nên chẳng phải lậu. Thiện nam tử ,
菩薩 摩訶薩 於 大涅槃 修聖行者。
Bồ-tát Ma-Ha tát ư Đại tu Thánh hành giả 。
Bồ-tát Ma-ha -tát tu chánh hạnh Đại Niết-bàn
亦得永斷如是諸漏。諸佛 如來 常修聖行。
diệc đắc vĩnh đoạn như thị chư lậu 。chư Phật như lai thường tu Thánh hành 。
cũng đoạn sạch các lậu như vậy, chư Phật Như Lai thường tu Thánh hạnh,
是故無漏 善男子 。凡夫不能善攝 五根 。
thị cố vô lậu Thiện nam tử 。phàm phu bất năng thiện nhiếp ngũ căn 。
cho nên là vô lậu. Thiện nam tử , phàm phu không khéo thu nhiếp năm căn,
則有 三漏 為惡所牽至不善處。 善男子 。
tắc hữu tam lậu vi ác sở khiên chí bất thiện xử 。 Thiện nam tử 。
thì có ba lậu, điều bị ác dắt dẫn đến chỗ bất thiện. Thiện nam tử ,
譬如惡馬其性佷悷能令乘者至嶮惡處。不能善攝此 五根 者。
thí như ác mã kỳ tánh 佷悷năng lệnh thừa giả chí hiểm ác xử 。bất năng thiện nhiếp thử ngũ căn giả 。
thí như ngựa có tánh hung dữ có thể khiến người cưỡi ngựa đến chỗ hiểm ác. Người không khéo thu nhiếp năm căn, 亦復如是。令人遠離 涅槃 善道至諸惡處。
diệc phục như thị 。lệnh nhân viễn li thiện đạo chí chư ác xử 。
cũng lại như vậy, khiến người xa lìa Niết-bàn đi đến chỗ ác.
譬如惡象心未調順有人乘之不隨意去遠離城邑
thí như ác tượng tâm vị điều thuận hữu nhân thừa chi bất tùy ý khứ viễn li thành ấp
thí như voi dữ chưa điều phục, người cưỡi voi không theo ý bèn đi xa thành ấp
至空曠處。不能善攝此 五根 者。亦復如是。
chí không khoáng xử 。bất năng thiện nhiếp thử ngũ căn giả 。diệc phục như thị 。
đến chỗ vắng vẽ, người không khéo thu nhiếp năm căn, cũng lại như vậy,
將人遠離 涅槃城 邑至於生死曠野之處。
tướng nhân viễn li Niết-bàn thành ấp chí ư sanh tử khoáng dã chi xử 。
dẫn người đi xa thành ấp Niết-bàn đến chỗ sanh tử vắng vẻ
善男子。譬如佞臣教王作惡。 五根 佞臣。亦復如是。
Thiện nam tử 。thí như nịnh Thần giáo Vương tác ác 。 ngũ căn nịnh Thần 。diệc phục như thị 。
Thiện nam tử, thí như bề tôi xu nịnh bày vua làm ác, nịnh thần năm căn cũng lại như vậy,
常教眾生造無量惡。 善男子 。
thường giáo chúng sanh tạo vô lượng ác 。 Thiện nam tử 。
thường dạy chúng sanh tạo vô lượng điều ác. Thiện nam tử ,
譬如惡子不受師長父母教勅則無惡不造。不調 五根 。
thí như ác tử bất thọ sư trường phụ mẫu giáo sắc tắc vô ác bất tạo 。bất điều ngũ căn 。
thí như đứa trẻ xấu không nghe lời dạy của cha mẹ sư trưởng thì không điều ác nào không làm. Người không điều phục năm căn
亦復如是。不受師長善言教勅無惡不造。 善男子 。
diệc phục như thị 。bất thọ sư trường thiện ngôn giáo sắc vô ác bất tạo 。 Thiện nam tử 。
cũng lại như vậy, không nghe lời thiện của Sư trưởng giáo huấn nên không có điều ác nào không làm. Thiện nam tử ,
凡夫之人不攝 五根 。
phàm phu chi nhân bất nhiếp ngũ căn 。
kẻ phàm phu không thu nhiếp năm căn
常為 地獄 畜生 餓鬼 之所賊害。亦如怨盜害及善人。 善男子 。
thường vi Địa-ngục súc sanh ngạ quỷ chi sở tặc hại 。diệc như oán đạo hại cập thiện nhân 。 Thiện nam tử 。
thường bị giặc địa ngục ngạ súc sanh làm hại, cũng như oán tặc làm hại người thiện. Thiện nam tử ,
凡夫之人不攝 五根 馳騁 五塵 。
phàm phu chi nhân bất nhiếp ngũ căn trì sính ngũ trần 。
kẻ phàm phu không thu nhiếp năm căn nên chạy theo năm trần,
譬如牧牛不善守護犯人苗稼。
thí như mục ngưu bất thiện thủ hộ phạm nhân 苗giá 。
thí như người chăn trâu không khéo giữ gìn để nó xâm phạm lúa mạ của người
凡夫之人不攝 五根 常在諸有多受苦惱。 善男子 。
phàm phu chi nhân bất nhiếp ngũ căn thường tại chư hữu đa thọ khổ não 。 Thiện nam tử 。
kẻ phàm phu không thu nhiếp năm căn thì thường ở nơi các cõi chịu nhiều khổ não. Thiện nam tử ,
菩薩