佛說觀彌勒 菩薩 上生 兜率天 經 (Taisho No. 452)
Phật thuyết Quan Di Lặc Bồ- tát thượng sinh Đâu- Suất Thiên Kinh
Phật thuyết Kinh Quan sát Di Lặc Bồ- tát sinh lên cung Trời Đâu- Suất.
宋居士沮渠京聲譯
Tống Cư Sĩ Tự Cừ Kinh Thanh dịch
Tống Cư Sĩ Tự Cừ Kinh Thanh dịch
如是我聞。一時佛在 舍衛國 祇樹 給孤獨 園。
Như thị Ngã văn .Nhất thời Phật tại XáVệ quốc Kỳ Thụ Cấp Cô Độc viên 。
Tôi nghe như thế. Thời đó Phật tại nước Xá Vệ trong vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc .
爾時 世尊 於初夜分舉身放光。其光金色。
Nhĩ thời Thế Tôn ư sơ dạ phần cử thân phóng Quang . Kỳ Quang kim sắc ,
Khi ấy vào lúc mới tối, Thế Tôn chuyển thân phóng quang. Quang đó màu vàng
遶 祇陀 園周遍七匝。照須達舍亦作金色。
nhiễu Kỳ Đà viên chu biến thất tạp . Chiếu Tu Đạt xá diệc tác kim sắc .
bao quanh 7 vòng tràn đầy vườn Kỳ Đà , chiếu tới nơi ở của Tu Đạt cũng thành màu vàng.
有金色光猶如段雲。
hữu kim sắc quang do như đoạn vân 。
Quang màu vàng đó giống như từng đám mây,
遍 舍衛國 處處皆雨金色 蓮花 。其光明中, 有無量百千諸 大化 佛。
biến Xá Vệ quốc xứ xứ giai vú kim sắc Liên hoa . Kỳ Quang minh trung, hữu vô lượng bách thiên chư Đại hóa Phật .
bao phủ toàn bộ nước Xá Vệ , đều rơi xuống hoa sen màu vàng. Trong ánh Quang minh đó có vô lượng trăm nghìn các Phật thân lớn được biến hoá ra.
皆唱是言: 今於此中有千 菩薩 。
Giai xướng thị ngôn : Kim ư thử trung hữu thiên Bồ Tát 。
Đều nói rằng: Hiện tại ở trong số Phật ở đây có 1.000 Bồ Tát .
最初成佛名拘留孫。最後成佛名曰樓至。
Tối sơ thành Phật danh Câu Lưu Tôn . Tối hậu thành Phật danh viết Lâu Chí .
Người đầu tiên thành Phật tên hiệu Câu Lưu Tôn . Người cuối cùng thành Phật tên hiệu Lầu Chí .
說是語已。 尊者 阿若憍陳如 即從禪起, 與其眷屬二百五十人俱。
Thuyết thị ngữ dĩ . Tôn Giả A Nhược Kiều Trần Như tức tòng Thiền khởi, dữ kỳ quyến thuộc nhị bách ngũ thập nhân câu .
Lời nói vừa dứt. Tôn Giả A Nhược Kiều Trần Như , liền rời khỏi Thiền, và cùng thân thuộc 250 người tham dự.
尊者 摩訶迦葉 , 與其眷屬二百五十人俱。
Tôn Giả Ma Ha Ca Diệp, dữ kỳ quyến thuộc nhị bách ngũ thập nhân câu .
Tôn Giả Ma Ha Ca Diệp, và cùng thân thuộc 250 người tham dự.
尊者 大目犍連 , 與其眷屬二百五十人俱。
Tôn Giả Đại Mục Kiền Liên , dữ kỳ quyến thuộc nhị bách ngũ thập nhân câu .
Tôn Giả Đại Mục Kiền Liên , và cùng thân thuộc 250 người tham dự.
尊者 舍利弗 。與其眷屬二百五十人俱。
Tôn Giả Xá Lợi Phất , dữ kỳ quyến thuộc nhị bách ngũ thập nhân câu.
Tôn Giả Xá Lợi Phất , và cùng thân thuộc 250 người tham dự.
摩訶波闍波提 比丘尼 , 與其眷屬千比丘尼俱。
Ma Ha Ba Xà Ba Đề Tì Kheo Ni , dữ kỳ quyến thuộc thiên Tì Kheo Ni câu .
Ma Ha Ba Xà Ba Đề nữ Tì Kheo, cùng với thân thuộc 1.000 nữ Tì Kheo.
須達長者與三千 優婆塞 俱。
Tu Đạt Trưởng giả dữ tam thiên Ưu Bà Tắc câu 。
Tu Đạt Trưởng giả cùng với 3.000 nam Phật Tử tham dự.
毘舍佉母與二千 優婆夷 俱。
Tì Xá Khư mẫu dữ nhị thiên Ưu Bà Di câu 。
Mẹ của Tì Xá Khư cùng với 2.000 nữ Phật Tử tham dự.
復有 菩薩 摩訶薩。名 跋陀婆 羅。與其眷屬十六菩薩俱。
Phục hữu Bồ Tát Ma HaTát , danh Bạt Đà Bà La , dữ kỳ quyến thuộc thập lục Bồ Tát câu .
Lại cũng có Đại Bồ Tát , tên hiệu Bạt Đà Bà La cùng với quyến thuộc 60 Bồ Tát tham dự.
文殊師利 法王子 , 與其眷屬五百 菩薩 俱。
Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử , dữ kỳ quyến thuộc ngũ bách Bồ Tát câu 。
Thầy Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương cùng với quyến thuộc 500 Bồ Tát tham dự.
天龍 夜叉 乾闥婆 等一切大眾, 覩 佛光 明皆悉雲集。
Thiên Long Dạ Xoa Kiền Thát Bà đẳng nhất thiết Đại Chúng , đổ Phật Quang minh giai tất vân tập 。
Trời, Rồng, Dạ xoa, Kiền Thát Bà và tất cả Đại Chúng nhìn thấy Quang minh của Phật tất cả đều tụ lại từng đoàn.
爾時 世尊 出廣長舌相放千光明。
Nhĩ thời Thế Tôn xuất quảng trường Thiệt tướng phóng thiên Quang minh.
Khi đó Thế Tôn hiện ra hình Lưỡi to dài, phóng ra nghìn ánh Quang minh.
一一光明各有千色。一一色中有無量化佛。
Nhất nhất Quang minh các hữu thiên sắc。 nhất nhất sắc trung hữu vô lượng Hóa Phật .
Từng ánh Quang minh có nghìn ánh sắc. Trong từng ánh sắc có vô lượng Hoá Phật.
是諸化佛 異口同音 。
Thị chư Hóa Phật dị khẩu đồng âm 。
Các hoá Phật đó khác người đồng âm,
皆說清淨諸大 菩薩 甚深 不可思議 諸 陀羅尼 法。
Giai thuyết thanh tịnh chư Đại Bồ Tát thậm thâm bất khả tư nghị chư Đà La Ni Pháp .
Đều thuyết Thanh tịnh bất khả tư nghị thâm sâu các Đà La Ni của các Đại Bồ Tát .
所謂 阿難陀 目佉 陀羅尼 , 空慧 陀羅尼, 無礙性陀羅尼, 大解脫無相陀羅尼。
Sở vị A Nan Đà Mục Khư Đà La Ni , Không Tuệ Đà La Ni, Vô Ngại Tính Đà La Ni , Đại Giải Thoát Vô Tướng Đà La Ni.
Gọi là: A Nan Đà Mục Khư Đà La Ni , Không Tuệ Đà La Ni, Vô Ngại Tính Đà La Ni , Đại Giải Thoát Vô Tướng Đà La Ni.
爾時 世尊 以一音聲。說百億 陀羅尼 門。說此陀羅尼已。
Nhĩ thời Thế Tôn dĩ nhất âm thanh, thuyết bách ức Đà La Ni môn , thuyết thử Đà La Ni dĩ .
Khi đó Thế Tôn dùng một loại âm thanh thuyết trăm triệu môn Đà La Ni . Thuyết Đà La Ni này xong.
爾時會中有一 菩薩 名曰 彌勒 。聞佛所說。
Nhĩ thời hội trung hữu nhất Bồ Tát danh viết Di Lặc , văn Phật sở thuyết .
Khi đó trong hội có một Bồ Tát tên hiệu Di Lặc nghe Pháp được Phật thuyết,
應時即得百萬億 陀羅尼 門。即從座起整衣服。
Ứng thời tức đắc bách vạn ức Đà La Ni môn 。Tức tòng tòa khởi chỉnh y phục .
Tức thời liền được trăm vạn triệu môn Đà La Ni , liền rời khỏi chỗ ngồi chỉnh trang y phục,
叉手合掌住立佛前。
xoa thủ hợp chưởng trụ lập Phật tiền 。
xoa chắp tay đứng ở trước Phật.
爾時優波離亦從座起, 頭面作禮 而白佛言:
Nhĩ thời Ưu Ba Ly diệc tòng tòa khởi, đầu diện tác lễ nhi bạch Phật ngôn :
Khi đó Ưu Ba Ly cũng rời chỗ ngồi phục đất hành lễ mà bạch Phật rằng:
世尊! 世尊往昔於毘尼中及諸經藏說 阿逸多 次當作佛。
Thế Tôn ! Thế Tôn vãng tích ư Tì Ni trung cập chư Kinh Tạng thuyết A Dật Đa thứ đương tác Phật 。
Thế Tôn! Thế Tôn từ trước tới nay ở trong Tăng Chúng cùng với các Kinh Tạng có nói: A Dật Đa kế tiếp đang làm Phật.
此 阿逸多 具凡夫身未斷諸漏。此人命終當生何處。
Thử A Dật Đa cụ phàm phu thân vị đoạn chư Lậu . Thử nhân mệnh chung đương sinh hà xứ ?
A Dật Đa đó hoàn toàn là thân người phàm, chưa đoạn hết Phiền não. Người đó sau khi chết, được sinh nơi nào?
其人今者雖復出家, 不修 禪定 不斷 煩惱 。
Kỳ nhân kim giả tuy phục xuất gia, bất tu Thiền Định bất đoạn Phiền não 。
Người đó hiện nay tuy đã xuất gia, không tu Thiền Định, chưa đoạn Phiền não.
佛記 此人成佛無疑。此人命終生何 國土 。
Phật ký thử nhân thành Phật vô nghi. Thử nhân mệnh chung sinh hà quốc thổ ?
Thế Tôn Chuyển Bậc người đó thành Phật, không có hoài nghi. Người đó sau khi chết, sinh ở đất nước nào?
佛告優波離: 諦聽諦聽善思念之。 如來 應 正遍知 。
Phật cáo Ưu Ba Ly: Đế thính, đế thính , thiện tư niệm chi 。 Như Lai Ứng Chính Biến Tri 。
Phật bảo Ưu Ba Ly : Nghe Tuệ, tư duy Tuệ, tu Tuệ. Như Lai hiểu biết tất cả,
今於此眾說彌勒 菩薩 摩訶薩阿耨多羅三藐三 菩提 記。
Kim ư thử chúng thuyết Di Lặc BồTát Ma Ha Tát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề ký .
Nay ở trong Chúng đây, nói Chuyển bậc Đại Di Lặc Bồ Tát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề .
此人從今十二年後命終, 必得 往生 兜率 陀 天上 。
Thử nhân tòng kim thập nhị niên hậu mệnh chung , tất đắc vãng sinh Đâu Suất Đà Thiên thượng .
Người đó từ nay về sau 12 năm nữa, sau khi chết, tất được vãng sinh lên cung Trời Đâu Suất .
爾時 兜率 陀 天上 , 有五百萬億 天子 。
Nhĩ thời Đâu Suất Đà Thiên thượng , hữu ngũ bách vạn ức Thiên Tử .
Khi đó trên cung Trời Đâu Suất có 500 triệu Thiên Tử .
一一 天子 皆修甚深 檀波羅蜜 。為供養 一生補處 菩薩 故。
Nhất nhất Thiên Tử giai tu thậm thâm Đàn Ba La Mật , vị cúng dưỡng Nhất Sinh Bổ Xứ Bồ Tát cố.
Các Thiên Tử đều tu thâm sâu hành Bố Thí, vì do đã cúng dưỡng Bồ Tát được Chuyển bậc sau Một Lần Sinh Thành Phật.
以天福力造作宮殿。各各脫身栴檀 摩尼 寶冠。
Dĩ Thiên Phúc Lực tạo tác Cung điện. Các các thoát thân Chiên Đàn Ma Ni Bảo Quan .
Dùng Phúc Lực cõi Trời tạo thành Cung điện. Mọi người đều tháo bỏ Mũ báu bằng Chiên Đàn Ma Ni Châu trên người,
長跪合掌發是願言: 我今持此無價寶珠及以天冠。
Trường qụy hợp chưởng phát thị nguyện ngôn: Ngã kim trì thử vô giá Bảo châu cập dĩ Thiên Quan .
Chắp tay quỳ thời gian dài phát thệ nguyện rằng: Con nay cầm châu Như ý đỏ vô giá và mũ Trời,
為供養大心眾生故。
Vị cúng dưỡng Đại Tâm chúng sinh cố,
Cố vì cúng dưỡng Tâm Bồ Đề của chúng sinh.
此人來世不久當成阿耨多羅三藐三 菩提 。
Thử nhân Lai Thế bất cửu đương thành A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề .
Người đó không lâu ở đời Tương lai đang thành Phật.
我於彼佛莊嚴國界得受記者, 令我寶冠化成供具。
Ngã ư bỉ Phật trang nghiêm quốc giới đắc thụ ký giả, linh Ngã Bảo Quan hóa thành cúng cụ.
Con được Chuyển bậc trong đất nước trang nghiêm của Phật đó, giúp mũ báu của Con hoá thành đồ cúng dưỡng.
如是諸 天子 等各各長跪, 發弘誓願亦復如是。
Như thị chư Thiên Tử đẳng các các trường qụy, phát hoằng thệ nguyện diệc phục như thị .
Như thế các Thiên Tử , từng người quỳ thời gian dài phát thệ nguyện lớn cũng lại như thế.
時諸 天子 作是願已。
Thời chư Thiên Tử tác thị nguyện dĩ.
Khi các Thiên Tử phát thệ nguyện xong.
是諸寶冠化作五百萬億寶宮。一一寶宮有七重垣。
Thị chư Bảo Quan hóa tác ngũ bách vạn ức bảo Cung . Nhất nhất bảo Cung hữu thất trùng viên .
Các Mũ Báu đó hoá thành 500 vạn triệu Cung điện báu. Mỗi một Cung điện báu có 7 lần tường thành,
一一垣 七寶 所成。一一寶出五百億光明。
Nhất nhất viên Thất bảo sở thành. Nhất nhất Bảo xuất ngũ bách ức Quang minh 。
Mỗi một lần tường thành do Bảy Báu tạo thành. Mỗi một Tường báu phát ra 500 triệu Quang minh.
一一光明中有五百億 蓮華 。一一蓮華化作五百億 七寶 行樹。
Nhất nhất Quang minh trung hữu ngũ bách ức Liên hoa . Nhất nhất Liên hoa hóa tác ngũ bách ức Thất bảo hàng Thụ.
Trong mỗi một Quang minh có 500 triệu Hoa sen. Mỗi một Hoa sen hoá thành 500 triệu hàng Cây bằng Bảy báu.
一一樹葉有五百億寶色。
Nhất nhất Thụ diệp hữu ngũ bách ức bảo sắc 。
Mỗi một Lá cây có 500 triệu sắc báu.
一一寶色有五百億 閻浮檀金 光。一一閻浮檀金光中。
Nhất nhất bảo sắc hữu ngũ bách ức Diêm Phù Đàn kim quang . Nhất nhất Diêm Phù Đàn kim quang trung ,
Mỗi một sắc báu có 500 triệu ánh vàng Diêm Phù Đàn. Trong mỗi một ánh vàng Diêm Phù Đàn,
出五百億諸天寶女。一一寶女住立樹下,
xuất ngũ bách ức chư Thiên Bảo nữ . Nhất nhất Bảo nữ trụ lập thụ hạ,
hiện ra 500 triệu các Thiên nữ bằng vật báu. Mỗi một Thiên nữ bằng vật báu đứng ở dưới cây,
執百億寶, 無數瓔珞, 出妙音樂。
chấp bách ức bảo vô số anh lạc , xuất diệu âm nhạc .
cầm giữ 500 triệu vật báu, vô số chuỗi ngọc, phát ra âm nhạc vi diệu.
時樂音中演說 不退轉 地 法輪 之行。其樹生果如玻 璃色。
Thời nhạc âm trung diễn thuyết Bất Thoái Chuyển địa Pháp luân chi hành. Kỳ thụ sinh quả như pha lê sắc 。
Khi đó trong âm nhạc có diễn thuyết Pháp hành Bồ Tát Bất Thoái. Cây đó sinh quả sắc mầu như pha lê.
一切眾色入頗梨色中。
Nhất thiết chúng sắc nhập pha-lê sắc trung .
Tất cả các sắc màu nhập vào trong sắc pha lê.
是諸光明右旋婉轉流出眾音。眾音演說 大慈大悲 法。
Thị chư Quang minh hữu toàn uyển chuyển lưu xuất chúng âm. Chúng âm diễn thuyết Đại Từ Đại Bi Pháp.
Các Quang minh đó uyển chuyển xoay tròn sang phải phát ra các loại âm. Các loại âm diễn thuyết Pháp Đại Từ Đại Bi.
一一垣牆高六十二 由旬 厚十四由旬。
Nhất nhất viên tường cao lục thập nhị Do tuần hậu thập tứ Do tuần.
Mỗi một tường thành cao khoảng 1.240 km, bề rộng khoảng 280 km.
五百億 龍王 圍繞此垣。一一龍王雨五百億 七寶 行樹。
Ngũ bách ức Long vương vi nhiễu thử viên. Nhất nhất Long vương vú ngũ bách ức Thất bảo hàng Thụ 。
500 triệu Long vương vây quanh tường thành đó. Mỗi một Long vương phun mưa cho 500 triệu hàng Cây Bảy báu.
莊嚴垣上, 自然有風吹動此樹。樹相振觸,
Trang nghiêm viên thượng , tự nhiên hữu phong xuy động thử thụ. Thụ tương chấn xúc 。
Trên tường thành trang nghiêm tự nhiên có gió thổi lay động cây đó. Cây rung động va chạm vào nhau,
演說苦空 無常 無我 諸 波羅蜜 。
diễn thuyết Khổ không Vô thường Vô ngã chư Ba La Mật
diễn thuyết Khổ không, Vô thường, Vô Ngã, các hành Bồ Tát .
爾時此宮有一大神。名牢度跋提。即從座起遍禮 十方 佛, 發弘誓願。
Nhĩ thời thử cung hữu nhất Đại Thần danh Lao Độ Bạt Đề . Tức tòng tòa khởi biến lễ Thập phương Phật , phát hoằng thệ nguyện:
Khi đó cung điện có một đại thần tên là Lao Độ Bạt Đề, liền rời khỏi chỗ ngồi lễ khắp Mười phương Phật, phát thệ nguyện lớn:
若我福德應為彌勒 菩薩 造善 法堂 , 令我額上自然出珠。
Nhược Ngã phức đức ứng vi Di Lặc Bồ Tát tạo thiện Pháp đường, linh Ngã ngạch thượng tự nhiên xuất châu .
Nếu phúc đức của con đúng là được Di Lặc Bồ Tát , tạo dựng thiện Pháp đường, giúp cho trên trán con tự nhiên xuất hiện châu quý.
既發願已額上自然出五百億寶珠, 瑠璃 玻 璃。
ký phát nguyện dĩ, ngạch thượng tự nhiên xuất ngũ bách ức bảo châu.
Phát nguyện vừa xong, trên trán tự nhiên xuất hiện trăm triệu châu quý, lưu ly pha lê,
一切眾色無不具足。如紫紺 摩尼 表裏暎徹。
Nhất thiết chúng sắc vô bất cụ túc , như tử cám Ma Ni biểu lý ánh triệt.
Tất cả các sắc màu đầy đủ như viên châu đỏ tía soi tỏ.
此 摩尼 光迴旋空中。化為四十九重微妙寶宮。
Thử Ma Ni quang hồi toàn không trung , hóa vi tứ thập cửu trùng vi diệu bảo Cung ,
Quang của viên châu Như ý hồi chuyển trong không trung, hoá thành Cung điện báu vi diệu 49 tầng.
一一欄楯萬億 梵摩尼 寶所共合成。
Nhất nhất lan thuẫn vạn ức Phạm Ma Ni bảo sở cộng hợp thành.
Mỗi hàng lan can được vạn triệu viên châu Như ý cõi Trời Phạm Thiên hợp thành.
諸欄楯間自然化生九億 天子 五百億天女。
Chư lan thuẫn gian tự nhiên hóa sinh cửu ức Thiên Tử ngũ bách ức Thiên nữ.
Giữa các hàng lan can tự nhiên hoá sinh 9 triệu Thiên Tử , 500 triệu Thiên Nữ.
一一 天子 手中化生無量億萬 七寶 蓮華 。
Nhất nhất Thiên Tử thủ trung hóa sinh vô lượng ức vạn Thất bảo Liên hoa.
Mỗi một Thiên tử trong tay hoá sinh vô lượng triệu vạn Hoa sen bảy báu.
一一 蓮華 上有無量億光。其光明中具諸樂器。
Nhất nhất Liên hoa thượng hữu vô lượng ức Quang, kỳ Quang minh trung cụ chư nhạc khí .
Trên mỗi một Hoa sen có vô lượng triệu Quang, trong Quang minh đó đủ các nhạc cụ.
如是 天樂 不鼓自鳴。此聲出時。諸女自然執眾樂器。競起歌舞。
Như thị Thiên nhạc bất cổ tự minh. Thử thanh xuất thời , chư nữ tự nhiên chấp chúng nhạc khí , cạnh khởi ca vũ.
Nhạc Trời như thế không đánh tự kêu. Khi âm thanh đó phát ra, các Thiên Nữ tự nhiên cầm các nhạc cụ, đua nhau ca múa.
所詠歌音演說 十善 四弘誓願 。諸天聞者皆發 無上道 心。
Sở vịnh Ca âm diễn thuyết Thập thiện Tứ hoằng thệ nguyện. Chư Thiên văn giả giai phát Vô Thượng Đạo tâm .
Âm được phát ra ca tụng diễn thuyết 10 Nghiệp thiện, Bốn Thệ nguyện lớn. Các Thiên thần nghe đều phát tâm Đạo Bình Đẳng.
時諸垣中有八色 瑠璃 渠。
Thời chư viên trung hữu bát sắc lưu ly cừ.
Khi đó trong các tường thành có 8 con mương sắc màu lưu ly .
一一渠有五百億寶珠而用合成。一一渠中有 八味 水, 八色具足。
Nhất nhất cừ hữu ngũ bách ức bảo châu nhi dụng hợp thành. Nhất nhất cừ trung hữu bát vị thủy, bát sắc cụ túc .
Mỗi một con mương được 500 triệu châu quý hợp thành. Nước trong mỗi con mương có đủ 8 vị, 8 màu sắc.
其水上湧游梁棟間。於四門外化生四花水出華中如寶花流。
Kỳ thủy thượng dũng du lương đống gian, ư tứ môn ngoại hóa sinh tứ hoa. thủy xuất hoa trung như Bảo hoa lưu.
Trên mặt nước xuất hiện cầu vòm, bên ngoài 4 cửa giữa các mố cầu hoá sinh 4 bông hoa, nước phun ra từ trong hoa giống như dòng hoa báu.
一一華上有二十四天女。身色微妙如諸 菩薩 莊嚴身相。
Nhất nhất hoa thượng hữu nhị thập tứ Thiên Nữ. Thân sắc vi diệu như chư Bồ Tát trang nghiêm thân tướng .
Trên mỗi một bông hoa có 24 Thiên Nữ, thân sắc vi diệu giống như thân tướng trang nghiêm của các Bồ Tát .
手中自然化五百億寶器。一一器 中天 諸甘露自然盈滿。
Thủ trung tự nhiên hóa ngũ bách ức bảo khí. Nhất nhất khí trung Thiên chư Cam lộ tự nhiên doanh mãn.
Trong tay tự nhiên hoá ra 500 triệu khí cụ quý. Giữa mỗi khí cụ tự nhiên đầy ắp nước Cam lộ Trời.
左肩荷佩無量瓔珞, 右肩復負無量樂器。
Tả kiên hà bội vô lượng Anh lạc, hữu kiên phục phụ vô lượng nhạc khí.
Vai trái đeo vô lượng chuỗi ngọc, vai phải cũng đeo vô số nhạc cụ.
如雲住空從水而出。讚歎 菩薩 六波羅蜜 。
Như vân trụ không tòng thủy nhi xuất, tán thán Bồ Tát Lục Ba La Mật 。
Theo nước bay ra tụ lại thành đoàn ở trong không trung, ca ngợi 6 hành của Bồ Tát .
若有 往生 兜率天 上。自然得此天女侍御。亦有 七寶 大師 子座。高四 由旬 。
Nhược hữu vãng sanh Đâu Suất Thiên thượng , tự nhiên đắc thử Thiên Nữ thị ngự, diệc hữu Thất bảo Đại Sư Tử tòa, cao tứ Do tuần.
Nếu được vãng sinh lên cung Trời Đâu suất, tự nhiên được các Thiên Nữ đó đón rước, cũng được toà Sư Tử lớn bằng bảy báu cao 80 km.
閻浮檀金無量眾寶以為莊嚴。
Diêm Phù Đàn kim vô lượng chúng bảo dĩ vi trang nghiêm.
Diêm Phù Đàn bằng vàng vô lượng vật báu dùng để trang nghiêm.
座四角頭生四 蓮華 。一一蓮華百寶所成。一一寶出百億光明。
Tòa tứ giác đầu sinh tứ Liên hoa. Nhất nhất Liên hoa bách bảo sở thành. Nhất nhất bảo xuất bách ức Quang minh.
Đỉnh đầu toà Sư Tử hình tứ giác sinh 4 Hoa sen. Mỗi một Hoa sen do trăm vật báu tạo thành. Mỗi một vật báu phát ra trăm triệu Quang minh.
其光微妙化為五百億眾寶雜花莊嚴寶帳。
Kỳ Quang vi diệu hóa vi ngũ bách ức chúng bảo tạp hoa trang nghiêm bảo trướng.
Vi diệu Quang đó hoá ra 500 triệu các loại hoa quý, trướng báu trang nghiêm.
時 十方 面百千 梵王 。各各持一 梵天 妙寶。
Thời thập phương diện bách thiên Phạm Vương . Các các trì nhất Phạm Thiên diệu bảo.
Đồng thời trăm nghìn Phạm Vương ở 10 phương. Mỗi người cầm một vật báu kỳ diệu của cõi Phạm Thiên .
以為寶鈴懸寶帳上。時小 梵王 持 天眾 寶, 以為羅網彌覆帳上。
Dĩ vi bảo linh huyền bảo trướng thượng. Thời Tiểu Phạm Vương trì Thiên chúng bảo, dĩ vi la võng di phúc trướng thượng.
Dùng làm linh quý treo lên trướng báu. Đồng thời Tiểu Phạm Vương cầm các loại vật báu cõi Trời, dùng làm lưới che phủ lên trướng báu.
爾時百千無數 天子 天女眷屬。各持寶華以布座上。
Nhĩ thời bách thiên vô số Thiên Tử - Thiên Nữ quyến thuộc. Các trì bảo hoa dĩ bố tòa thượng.
Khi đó trăm nghìn vô số Thiên Tử - Thiên Nữ quyến thuộc. Từng người cầm hoa quý dùng để tung lên toà báu.
是諸 蓮花 自然皆出五百億寶女。手執白拂侍立
Thị chư Liên hoa tự nhiên giai xuất ngũ bách ức bảo nữ, thủ chấp bạch phất thị lập.
Các Hoa sen đó tự nhiên đều hiện ra 500 triệu Thiên nữ bằng vật báu, tay cầm phất trắng đứng hộ vệ ở trong trướng.
帳內持宮四角有四寶柱一一寶柱有百千樓閣。
Trướng nội trì cung tứ giác hữu tứ bảo trụ. Nhất nhất bảo trụ hữu bách Thiên lâu các.
Bên trong trướng có 4 cột báu nâng giữ 4 góc Cung điện. Mỗi một trụ báu có trăm nghìn lầu các.
梵 摩尼 珠以為絞絡。
Phạm Ma Ni châu dĩ vi giảo lạc.
Châu Như ý cõi Phạm Thiên dùng kết thành chuỗi lưới.
時諸閣間有百千天女。色妙無比手執樂器。
Thời chư các gian hữu bách thiên Thiên Nữ . Sắc diệu vô tỉ thủ chấp nhạc khí.
Đồng thời trong các phòng có 5.000 Thiên Nữ vô cùng xinh đẹp tay cầm nhạc cụ.
其樂音中演說苦空 無常 無我 諸 波羅蜜 。
Kỳ nhạc âm trung diễn thuyết Khổ không , Vô thường , Vô ngã chư Ba La Mật .
Trong tiếng nhạc diễn thuyết Khổ không, Vô thường, Vô ngã, Pháp hành Đạo Bồ Tát .
如是天宮有百億萬無量寶色。一一諸女亦同寶色。
Như thị Thiên cung hữu bách ức vạn vô lượng bảo sắc. Nhất nhất chư Nữ diệc đồng bảo sắc .
Như thế Thiên cung có vô lượng trăm vạn triệu sắc báu. Mỗi một Thiên Nữ cũng đồng nhất với sắc báu.
爾時 十方 無量諸天命終, 皆願 往生 兜率天 宮。
Nhĩ thời Thập phương vô lượng chư Thiên mệnh chung , giai nguyện vãng sinh Đâu Suất Thiên cung.
Khi đó vô lượng Thần Tiên mười phương khi chết đều nguyện sinh về cung Trời Đâu Suất .
時 兜率天 宮有 五大 神。
Thời Đâu Suất Thiên cung hữu ngũ Đại Thần.
Thời cung Trời Đâu Suất có 5 Đại thần.
第一大神名曰寶幢。身雨 七寶 散宮牆內。
Đệ nhất Đại Thần danh viết Bảo Tràng. Thân vú Thất bảo tán Cung tường nội .
Đại Thần thứ nhất tên là Bảo Tràng, thân xuất ra bảy vật báu bắn vào tường thành Cung điện.
一一寶珠化成無量樂器, 懸處空中不鼓自鳴, 有無量音適眾生意。
Nhất nhất bảo châu hóa thành vô lượng nhạc khí , huyền xử không trung bất cổ tự minh, hữu vô lượng âm thích chúng sinh ý 。
Mỗi một châu quý hoá thành vô lượng nhạc cụ, treo trên không trung, không đánh tự kêu, có vô lượng âm thanh, phù hợp với ý của chúng sinh.
第二大神名曰花德。身雨眾花彌覆宮牆化成花蓋。
Đệ nhị Đại Thần danh viết Hoa Đức , thân vú chúng hoa di phúc cung tường hóa thành hoa cái .
Đại Thần thứ hai tên là Hoa Đức, thân xuất ra các loại hoa, bao phủ tường thành, hoá thành vòng hoa.
一一花蓋百千幢幡以為導引。
Nhất nhất hoa cái bách thiên tràng phan dĩ vi đạo dẫn 。
Mỗi một vòng hoa trăm nghìn tràng phan dùng làm đường dẫn.
第 三大 神名曰香音, 身毛孔中雨出微妙海此岸旃檀香。
Đệ tam Đại Thần danh viết Hương Âm , thân mao khổng trung vú xuất vi diệu Hải Thử Ngạn Chiên Đàn hương .
Đại Thần thứ ba tên là Hương Âm, lỗ chân lông trên thân, xuất ra vi diệu hương Hải Thử Ngạn Chiên đàn.
其香如雲作百寶色遶宮七匝。
Kỳ hương như vân tác bách bảo sắc nhiễu cung thất táp.
Hương đó như mây, tạo thành trăm sắc báu, bao quanh cung điện bảy vòng.
第 四大 神名曰喜樂, 雨 如意珠 。
Đệ tứ Đại Thần danh viết Hỉ Lạc , vú Như ý châu .
Đại Thần thứ tư tên là Hỉ lạc, xuất ra châu Như ý.
一一寶珠自然住在幢幡之上。顯說無量歸佛歸法歸 比丘 僧。
Nhất nhất bảo châu tự nhiên trụ tại tràng phan chi thượng , hiển thuyết vô lượng quy Phật- quy Pháp - quy Tì Kheo Tăng .
Mỗi một châu quý, tự nhiên ở trên tràng phan, nói ra vô lượng Quy y Phật- Quy y Pháp- Quy y Tì Kheo Tăng,
及說 五戒 , 無量善法諸 波羅蜜 , 饒益勸助 菩提 意者。
cập thuyết Ngũ Giới , vô lượng thiện Pháp chư Ba La Mật , nhiêu ích khuyến trợ Bồ Đề ý giả 。
cũng nói Ngũ Giới, vô lượng Pháp thiện, Pháp hành Đạo Bồ Tát , lợi ích khuyến trợ người phát ý Bồ Đề.
第 五大 神名曰正音聲, 身諸毛孔流出眾水。
Đệ ngũ Đại Thần danh viết Chính Âm Thanh , thân chư mao khổng lưu xuất chúng thủy .
Đại Thần thứ năm tên là Chính Âm Thanh, lỗ chân lông trên thân chảy ra các loại nước.
一一水上有五百億花。一一華上有二十五玉女。
Nhất nhất thủy thượng hữu ngũ bách ức hoa , nhất nhất hoa thượng hữu nhị thập ngũ ngọc nữ .
Trên từng loại nước có 500 triệu bông hoa, trên mỗi một bông hoa có 25 thiếu nữ bằng ngọc .
一一玉女身諸毛孔 , 出一切音聲勝天魔后所有音樂。
Nhất nhất ngọc nữ thân chư mao khổng , xuất nhất thiết âm thanh thắng Thiên Ma Hậu sở hữu âm nhạc .
Lỗ chân lông trên thân của mỗi một thiếu nữ bằng ngọc, phát ra các loại âm thanh, át được âm nhạc do Thiên Ma Hậu phát ra.
佛告優波離。 此名 兜率 陀天 十善 報應勝妙福處。
Phật cáo Ưu Ba Ly: Thử danh Đâu Suất Đà Thiên Thập Thiện Báo Ứng Thắng Diệu Phúc Xứ .
Phật bảo Ưu Ba Ly: Nơi đó tên là Cung Trời Đâu Suất được vi diệu Phúc của mười Nghiệp thiện báo ứng.
若我住世 一小劫 中廣說 一生補處 菩薩 報應及 十善 果者不能窮盡。
Nhược Ngã trụ thế nhất Tiểu Kiếp trung quảng thuyết Nhất Sinh Bổ Xứ Bồ Tát báo ứng cập Thập thiện quả giả bất năng cùng tận .
Nếu Ta ở đời trong một Tiểu Kiếp (16,798 triệu năm), nói tất cả báo ứng của Bồ Tát Một lần sinh thành Phật và Mười Thiện quả, cũng không thể nói hết được.
今為汝等畧而解說佛告優波離。若有 比丘 及一切大眾。
Kim vị Nhữ đẳng lược nhi giải thuyết . Phật cáo Ưu Ba Ly : Nhược hữu Tì Kheo cập nhất thiết Đại Chúng.
Nay vì các Ngài sơ lược thuyết giải. Phật bảo Ưu Ba Ly: Nếu có Tì Kheo và tất cả Đại Chúng.
不厭生死樂生天者。愛敬 無上菩提 心者。
Bất yếm sinh tử nhạo sinh Thiên giả , ái kính Vô Thượng Bồ Đề tâm giả ,
Không chán gét sinh tử, người muốn sinh lên Trời, người yêu kính tâm Bình Đẳng Bồ Đề,
欲為 彌勒 作弟子者, 當作是觀 , 作是觀者
Dục vi Di Lặc tác đệ tử giả , đương tác thị quan, tác thị quan giả
Người muốn được làm đệ tử của Di Lặc . Cần nên quan sát, thực hành việc đã nhìn thấy.
應持 五戒 八齋 具足戒 身心精進不求斷結 , 修 十善 法
Ứng trì Ngũ Giới Bát Trai Cụ túc Giới thân tâm Tinh Tiến bất cầu đoạn kết , tu Thập thiện Pháp
Cần giữ Năm Giới, từng tháng Trai Giới 8 ngày, giữ Giới Tì Kheo Tăng, thân tâm Tinh Tiến, không cầu dừng nghỉ, tu Pháp Mười Nghiệp thiện.
一一思惟 兜率 陀 天上 上妙快樂。
Nhất nhất tư duy Đâu Suất Đà Thiên thượng thượng diệu khoái lạc 。
Mỗi một tư duy về cung Trời Đâu Suất , lại tăng thêm vui vẻ kỳ thú.
作是觀者名為正觀。若他觀者名為邪觀。
Tác thị quan giả danh vi Chính quan . Nhược tha quan giả danh vi Tà quan .
Người thực hiện quan sát như thế, coi là quan sát đúng. Nếu người thực hiện quan sát khác đi, gọi là quan sát sai lệch.
爾時優波離即從座起 , 整衣服 頭面作禮 , 白佛言:
Nhĩ thời Ưu Ba Ly tức tòng tòa khởi , chỉnh y phục đầu diện tác lễ , bạch Phật ngôn :
Lúc đó Ưu Ba Ly, liền rời chỗ ngồi sửa sang y phục, phục lễ bạch Phật rằng:
世尊! 兜率 陀 天上 乃有如是極妙樂事。
Thế Tôn! Đâu Suất Đà Thiên thượng nãi hữu như thị cực diệu lạc sự .
Thế Tôn! Trên cung Trời Đâu Suất , lại có nhiều sự vui thích tuyệt diệu như thế.
今此 大士 何時於 閻浮提 沒生於彼天。
Kim thử Đại Sĩ hà thời ư Diêm Phù Đề một sinh ư bỉ Thiên.
Ngày nay Đại Sĩ đó, khi nào tạ thế ở cõi Sa Bà , sinh lên cung Trời đó.
佛告優波離 : 彌勒 先於波羅捺國 劫波 利村 波婆利 大婆羅門 家生。
Phật cáo Ưu Ba Ly : Di Lặc tiên ư Ba La Nại quốc Kiếp Ba Lợi thôn Ba Bà Lợi Đại Bà La Môn gia sinh.
Phật bảo Ưu Ba Ly: Di Lặc trước sinh trong gia đình Ba Bà Lợi Đại Bà La Môn , thôn Kiếp Ba Lợi, nước Ba La Nại.
却後十二年二月十五日, 還本生處 結加趺坐 如入滅定。
Khước hậu thập nhị niên nhị nguyệt thập ngũ nhật, hoàn bản sinh xứ kiết già phu tọa như nhập Diệt định .
Lùi về sau ngày 15 tháng 2 của 12 năm nữa, Di Lặc quay trở lại quê hương nơi đã được sinh ra ngồi thế kết già như nhập vào Định diệt.
身紫金 色光明 豔赫如百千日,上至 兜率 陀天。
Thân tử kim sắc Quang minh diễm hách như bách thiên nhật , thượng chí Đâu Suất Đà Thiên .
Thân sắc vàng tía, ánh Quang chói lọi như trăm nghìn mặt Trời, chiếu lên tới cung Trời Đâu Suất .
其身 舍利 如鑄金像 , 不動 不搖。
Kỳ thân Xá Lợi như chú kim tượng , bất động bất dao.
Xá Lợi của thân như tượng vàng được đúc, không chuyển động không ngả nghiêng.
身圓光中有 首楞嚴 三昧 般若波羅蜜 字義炳然。
Thân viên Quang trung hữu Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Bát Nhã Ba La Mật tự nghĩa bỉnh nhiên .
Trong vầng Quang của Thân có Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội , Trí Tuệ Ba La Mật , chữ nghĩa rực sáng.
時諸人天尋 , 即為起眾寶妙塔供養 舍利 。
Thời chư nhân Thiên tầm tức vi khởi chúng bảo diệu Tháp cúng dưỡng Xá Lợi.
Khi đó người Trời nhìn thấy, tức thì xây dựng các Tháp quý vi diệu cúng dưỡng Xá Lợi.
時 兜率 陀天 七寶 臺內 摩尼 殿上師子床座忽然化生 , 於 蓮華 上 結加趺坐 。
Thời Đâu Suất Đà Thiên thất bảo đài nội Ma Ni điện thượng Sư Tử sàng tòa hốt nhiên hóa sinh . Ư Liên hoa thượng kiết già phu tọa .
Khi đó trên toà Pháp trong đài bằng bảy báu của Cung Ma Ni ở cung Trời Đâu Suất hốt nhiên hoá sinh, ngồi thế kết già ở trên Đài sen .
身如 閻浮檀金 色長十六 由旬 。
Thân như Diêm Phù Đàn kim sắc trường thập lục Do tuần.
Thân Sắc vàng như Diêm Phù Đàn, cao khoảng 320 km.
三十二相八十種好皆悉具足。頂上肉髻髮紺 瑠璃 色。
Tam thập nhị Tướng Bát thập chủng hảo giai tất cụ túc , đỉnh thượng nhục kế phát cám lưu ly sắc .
32 Tướng , 80 Diện mạo đẹp, tất cả đều đầy đủ, Nhục kế trên đỉnh đầu phát ra sắc lưu ly tía.
釋迦毘楞伽 摩尼 。百千萬億甄叔迦寶以嚴天冠。
Thích Ca Tì Lăng Già Ma Ni , bách thiên vạn ức Chân Thúc Ca bảo dĩ nghiêm Thiên quan .
Ngọc Như ý Thích Ca Tì Lăng Già, trăm nghìn vạn triệu ngọc Chân Thúc Ca dùng để trang sức mũ Trời.
其天寶冠有百萬億色。一一色中有無量百千化佛 , 諸化 菩薩 以為侍者。
Kỳ Thiên bảo quan hữu bách vạn ức sắc . Nhất nhất sắc trung hữu vô lượng bách thiên hóa Phật, chư hóa Bồ Tát dĩ vi thị giả.
Mũ Trời quý đó có trăm nghìn vạn triệu sắc. Trong mỗi một sắc có vô lượng trăm nghìn hoá Phật, các hoá Bồ Tát dùng làm hộ vệ.
復有他方諸大 菩薩 。作十八變隨意自在住天冠中。
Phục hữu tha phương chư Đại Bồ Tát , tác thập bát biến tùy ý tự tại trụ Thiên quan trung .
Lại có các Đại Bồ Tát của phương khác, tuỳ ý tự do sử dụng 18 biến hoá trong mũ Trời.
彌勒眉間有白毫相光。流出眾光作百寶色。
Di Lặc my gian hữu bạch hào tướng quang , lưu xuất chúng Quang tác bách bảo sắc .
Giữa mi của Di Lặc có ánh Quang trắng, luồng quang phát ra tạo thành trăm sắc báu.
三十二相 , 一 一相 中有五百億寶色。
Tam thập nhị Tướng , nhất nhất Tướng trung hữu ngũ bách ức bảo sắc .
32 Tướng , trong mỗi một Tướng có 500 triệu sắc báu.
一一好亦有五百億寶色。
Nhất nhất hảo diệc hữu ngũ bách ức bảo sắc .
Trong mỗi Diện mạo đẹp cũng có 500 triệu sắc báu.
一 一相 好艶出八萬四千光明雲。與諸 天子 各坐花座。
Nhất nhất tướng hảo diễm xuất bát vạn tứ thiên Quang minh vân , dữ chư Thiên Tử các tọa hoa tòa .
Mỗi một Tướng, Diện mạo đẹp cũng bay ra 84.000 vầng Quang minh và các Thiên Tử , từng người ngồi trên đài hoa.
晝夜六時常說 不退轉 地 法輪 之行。
Trú dạ lục thời thường thuyết Bất Thoái Chuyển địa Pháp luân chi hành.
Ngày đêm 6 thời khắc thường thuyết Pháp hành Đạo Bồ Tát .
經一時中成就五百億 天子 令 不退轉 於阿耨多羅三藐三 菩提 。
Kinh nhất thời trung thành tựu ngũ bách ức Thiên Tử 。
Trong cùng một lúc giúp 500 triệu Thiên Tử thành công Bất Thoái và A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề .
如是處 兜率 陀天晝夜恒說此法 , 度諸 天子 。
Như thị xử Đâu Suất Đà Thiên trú dạ hằng thuyết thử Pháp , độ chư Thiên Tử 。
Như thế ngày đêm ở cung Trời Đâu Suất thường thuyết Pháp đó,
閻浮提歲數五十六億萬歲。
Diêm Phù Đề tuế số ngũ thập lục ức vạn tuế .
Số năm của Diêm Phù Đề là 56 triệu vạn năm.
爾乃下生於 閻浮提 , 如 彌勒 下生經說。
Nhĩ nãi hạ sinh ư Diêm Phù Đề , như Di Lặc hạ sinh Kinh thuyết .
Cho tới khi hạ sinh xuống Diêm Phù Đề, giống như nói trong Kinh Di Lặc hạ sinh.
佛告優波離: 是名彌勒 菩薩 於 閻浮提 沒生 兜率 陀天 因緣 。
Phật cáo Ưu Ba Ly : Thị danh Di Lặc Bồ Tát ư Diêm Phù Đề một sinh Đâu Suất Đà Thiên Nhân duyên 。
Phật bảo Ưu Ba Ly: Có tên là Nhân duyên Di Lặc Bồ Tát chết ở Diêm Phù Đề sinh lên cung Trời Đâu Suất .
佛滅度後我諸弟子。若有精勤修諸 功德 威儀不缺掃塔塗地。
Phật diệt độ hậu Ngã chư đệ tử . Nhược hữu tinh cần tu chư công đức uy nghi bất khuyết tảo Tháp đồ địa .
Sau Phật tạ thế, các đệ tử của Ta, nếu tinh cần tu các công đức , đầy đủ uy nghi, quét Tháp nằm đất,
以眾名香妙花供養行眾 三昧 深入正受讀誦經典。
Dĩ chúng danh hương diệu hoa cúng dưỡng hành chúng Tam Muội thâm nhập Chính Thụ độc tụng Kinh điển .
Dùng các loại hương hoa quý cúng dưỡng, thực hành các Tam Muội , nhập sâu vào Chính Thụ, đọc tụng Kinh điển.
如是等人應當至心。雖不斷結如得 六通 。
Như thị đẳng nhân ứng đương chí tâm , tuy bất đoạn kết như đắc Lục thông .
Những người như thế cần nên thành tâm, tuy chưa bỏ hết được ràng buộc, như được Sáu Thần thông.
應當繫念 念佛 形像稱 彌勒 名。
Ứng đương hệ niệm niệm Phật hình tượng xưng Di Lặc danh .
Nên cần luôn luôn nhớ không quên hình tượng Phật đọc tên Di Lặc .
如是等輩 , 若一念頃受 八戒 齋。
Như thị đẳng bối nhược nhất niệm khoảnh thụ Bát Giới trai.
Những người như thế, nếu nhanh chóng giữ Tám Giới ăn chay.
修諸淨業發弘誓願 . 命終之後譬如壯士屈申臂頃。
Tu chư Tịnh Nghiệp phát hoằng thệ nguyện . Mệnh chung chi hậu thí như tráng sĩ khuất thân tý khoảnh .
Tu các Nghiệp Tịnh, phát thệ nguyện lớn. Sau khi chết giống như tráng sĩ duỗi thẳng tay chân.
即得 往生 兜率 陀天。於 蓮華 上 結加趺坐 。
Tức đắc vãng sinh Đâu Suất Đà Thiên . Ư Liên hoa thượng kiết già phu tọa 。
Tức thời được vãng sinh lên cung Trời Đâu Suất , kết già ngồi trên Đài sen.
百千 天子 作天伎樂 , 持天曼陀羅花 摩訶曼陀羅華 。
Bách thiên Thiên Tử tác Thiên kĩ nhạc , trì Thiên Man Đà La hoa – Ma Ha Man Đà La hoa .
Trăm nghìn Thiên Tử , đánh âm nhạc Trời, cầm hoa Trời Man Đà La- Ma Ha Man Đà La.
以散其上讚言: 善哉 , 善哉 ! 善男子 。
Dĩ tán kỳ thượng tán ngôn : Thiện tai , thiện tai ! Thiện nam tử .
Dùng để rắc lên họ khen rằng: Thiện thay, thiện thay! Các Ngài nam thiện.
汝於 閻浮提 廣修福業來生此處。此處名 兜率 陀天。
Nhữ ư Diêm Phù Đề quảng tu phúc Nghiệp lai sinh thử xứ . Thử xứ danh Đâu Suất Đà Thiên .
Ngài ở Diêm Phù Đề, tu nhiều Nghiệp phúc, sinh tới nơi này. Đây là cung Trời Đâu Suất .
今此 天主 名曰 彌勒 。汝當 歸依 。
Kim thử Thiên Chủ danh viết Di Lặc , Nhữ đương Quy y.
Hiện nay Chủ của cung Trời này là Di Lặc . Ngài nên đi theo.
應聲即禮, 禮已。諦觀眉間白毫相光。
Ứng thanh tức lễ lễ dĩ . Đế quan my gian bạch hào Tướng quang 。
Nghe theo phục lễ, lễ xong. Thấy được hào Quang trắng giữa mi.
即得超越九十億劫生死之罪。
Tức đắc siêu việt cửu thập ức Kiếp sinh tử chi tội .
Liền được siêu thoát hết tội sinh tử của 90 triệu Kiếp.
是時 菩薩 隨其宿緣為說妙法。令其堅固 不退轉 於 無上道 心。
Thị thời Bồ Tát tùy kỳ túc duyên vị thuyết Diệu Pháp . Linh kỳ kiên cố Bất Thoái Chuyển ư Vô Thượng Đạo tâm .
Khi ấy Bồ Tát tuỳ theo Duyên Nghiệp Kiếp trước được nghe thuyết Diệu Pháp, giúp họ kiên cố Bất Thoái Chuyển và tâm Đạo Bình Đẳng.
如是等眾生若淨諸業行六事法。
Như thị đẳng chúng sinh nhược tịnh chư Nghiệp hành Lục sự Pháp .
Các chúng sinh như thế, nếu các Nghiệp Thanh tịnh, thực hành Pháp Sáu hoà kính.
必定無疑 , 當得生於 兜率天 上, 值遇 彌勒 亦隨彌勒下 閻浮提
Tất định vô nghi đương đắc sanh ư Đâu Suất Thiên thượng , trực ngộ Di Lặc diệc tùy Di Lặc hạ Diêm Phù Đề
Nhất định không còn trở ngại, đang được sinh lên cung Trời Đâu Suất , trực tiếp gặp Di Lặc , cũng theo Di Lặc xuống Diêm Phù Đề.
第一聞法於 未來世 值遇賢劫一切 諸佛於星宿劫。
Đệ nhất văn Pháp ư vị lai thế trực ngộ Hiền Kiếp nhất thiết chư Phật ư Tinh Tú Kiếp.
Lần đầu nghe Pháp, tương lai trực tiếp gặp tất cả các Phật trong Kiếp Hiền, trong Kiếp Tinh Tú.
亦得值遇諸 佛世尊 於諸佛前受 菩提 記。
Diệc đắc trực ngộ chư Phật Thế Tôn ư chư Phật tiền thụ Bồ Đề ký.
Cũng được trực tiếp gặp các Phật Thế Tôn , ở trước các Phật nhận Chuyển bậc thành Bồ Đề.
佛告優波離: 佛滅度後。
Phật cáo Ưu Ba Ly: Phật diệt độ hậu.
Phật bảo Ưu Ba Ly: Sau Phật tạ thế.
比丘` 比丘尼 ` 優婆塞 ` 優婆夷 ` 天龍夜叉 ` 乾闥婆 ` 阿脩羅 ` 迦樓羅 ` 緊那羅 ` 摩睺羅伽 等。
Tì Kheo- Tì Kheo Ni - Ưu Bà Tắc - Ưu Bà Di - Thiên Long- Dạ Xoa - Kiền Thát Bà - A Tu La - Ca Lầu La- Khẩn Na La - Ma Hầu La Già đẳng.
Nam Tì Kheo- nữ Tì Kheo- nam Phật Tử- nữ Phật Tử- Trời Rồng- Dạ Xoa - Kiền Thát Bà - A Tu La - Ca Lâu La - Khẩn Na La - Ma Hầu La Già .
是諸大眾。若有得聞彌勒 菩薩 摩訶薩名者。
Thị chư Đại Chúng . Nhược hữu đắc văn Di Lặc BồTát Ma Ha Tát danh giả .
Các Đại Chúng đó nếu có người được nghe tên hiệu Di Lặc Bồ Tát Đại Bồ Tát.
聞已歡喜恭敬禮拜。此人命終如彈指頃即得 往生 。如前無異。
Văn dĩ hoan hỉ cung kính lễ bái . Thử nhân mệnh chung như đàn chỉ khoảnh tức đắc vãng sinh , như tiền vô dị.
Nghe xong vui mừng, cung kính lễ bái. Người đó khi chết, chỉ trong chốc lát, liền được vãng sinh như trên không có sai khác.
但得聞是 彌勒 名者。命終亦不墮黑闇處邊地邪見諸 惡律儀 。
Đãn đắc văn thị Di Lặc danh giả . Mệnh chung diệc bất đọa hắc ám xứ biên địa tà kiến chư ác luật nghi 。
Người chỉ được nghe tên hiệu Di Lặc . Khi chết cũng không đoạ vào nơi u tối, xa vắng, Tà kiến, các nghề Nghiệp dữ ác.
恒生 正見 眷屬成就不謗 三寶 。佛告優波離。
Hằng sinh Chính Kiến quyến thuộc thành tựu bất báng Tam Bảo . Phật cáo Ưu Ba Ly:
Thường sinh Chính Kiến, quyến thuộc thành đạt, không báng bổ Tam Bảo . Phật bảo Ưu ba ly:
若 善男子 善女人 , 犯諸禁戒造眾 惡業 。
Nhược thiện nam tử thiện nữ nhân , phạm chư cấm Giới tạo chúng ác Nghiệp .
Nếu thiện Nam tín Nữ phạm các Giới cấm, tạo các Nghiệp ác.
聞是 菩薩 大悲 名字。 五體投地 誠心 懺悔 。是諸 惡業 速得清淨。
Văn thị Bồ Tát Đại Bi danh tự , ngũ thể đầu địa thành tâm sám hối . Thị chư ác Nghiệp tốc đắc Thanh tịnh .
Nghe tên hiệu Đại Bi Bồ Tát , phục đất hành lễ, thành tâm sám hối . Các Nghiệp ác đó nhanh được Thanh tịnh.
未來世中諸眾生等。聞是 菩薩 大悲 。
Vị lai Thế trung chư chúng sinh đẳng . Văn thị Bồ Tát Đại Bi
Trong đời tương lai, các chúng sinh đó nghe tên hiệu Đại Bi Bồ Tát .
名稱 造立形像香花衣服繒蓋幢幡禮拜繫念。此人命欲終時。
Danh xưng tạo lập Hình Tượng , hương hoa y phục, tăng cái tràng phan , lễ bái hệ niệm . Thử nhân mệnh dục chung thời.
Đọc tên tạo lập Ảnh Tượng, hương hoa y phục, tăng cái tràng phan, lễ bái luôn ghi nhớ. Người đó khi sắp chết.
彌勒 菩薩 放眉間白毫大人相光。與諸 天子 雨曼陀羅花。來迎此人。
Di Lặc Bồ Tát phóng my gian bạch hào Đại nhân Tướng quang . Dữ chư Thiên Tử vú Man Đà La hoa , lai nghênh thử nhân .
Di Lặc Bồ Tát phóng hào Quang trắng giữa mi từ Viên Mãn Báo Thân và các Thiên Tử rải hoa Trời Man Đà La, tới nghênh rước người đó.
此人須臾即得 往生 , 值遇 彌勒 頭面禮敬。
Thử nhân tu du tức đắc vãng sinh , trực ngộ Di Lặc đầu diện lễ kính .
Người đó trong giây lát liền được vãng sinh, trực tiếp gặp Di Lặc , phục kính lễ.
未舉頭頃便得聞法。即於 無上道 得 不退轉 。
Vị cử đầu khoảnh tiện đắc văn Pháp , tức ư vô thượng đạo đắc Bất Thoái Chuyển .
Chưa kịp ngước lên, liền được nghe Pháp, tức thời với Đạo Bình Đẳng được Bất Thoái Chuyển .
於 未來世 得值恒河沙等諸佛 如來 。
Ư Vị lai thế đắc trực Hằng hà sa đẳng chư Phật Như Lai .
Ở đời Tương lai được trực tiếp gặp các Phật Như Lai nhiều như cát sông Hằng.
佛告優波離: 汝今諦聽。
Phật cáo Ưu Ba Ly: Nhữ kim đế thính .
Phật bảo Ưu Ba Ly: Ngài nay nghe Tuệ.
是彌勒 菩薩 於 未來世 當為眾生。作大 歸依 處。
Thị Di Lặc Bồ Tát ư Vị lai thế đương vi chúng sinh , tác Đại Quy y xứ .
Di Lặc Bồ Tát đó, đang được tất cả chúng sinh ở thời Tương lai, hành Đại lễ đi theo.
若有 歸依 彌勒 菩薩 者。當知是人於 無上道 得 不退轉 。
Nhược hữu Quy y Di Lặc Bồ Tát giả . Đương tri thị nhân ư Vô Thượng Đạo đắc Bất Thoái Chuyển .
Nếu được đi theo Di Lặc Bồ Tát , nên biết người đó với Đạo Bình Đẳng được Bất Thoái Chuyển .
彌勒 菩薩 成 多陀阿伽度 阿羅訶三藐 三佛陀 時。如此行人見 佛光 明即得授記。
Di Lặc Bồ Tát thành Đa Đà- A Già Độ- A La Ha Tam Miệu Tam Phật Đà thời . Như thử hành nhân kiến Phật Quang minh tức đắc thụ ký.
Tới thời Di Lặc Bồ Tát thành Phật Thế Tôn , người tu hành như thế, nhìn thấy Quang minh của Phật liền được Chuyển bậc thành Phật.
佛告優波離 : 佛滅度後 四部弟子 天龍鬼神。
Phật cáo Ưu Ba Ly : Phật diệt độ hậu Tứ Bộ đệ tử Thiên Long Quỷ Thần .
Phật bảo Ưu Ba Ly : Sau Phật tạ thế. Nam nữ Tì Kheo, nam nữ Phật Tử, Trời Rồng Quỷ Thần.
若有欲生 兜率 陀天者。
Nhược hữu dục sinh Đâu Suất Đà Thiên giả .
Nếu người muốn được sinh lên cung Trời Đâu Suất .
當作是觀繫念思惟。念 兜率 陀天持佛禁戒。一日至七日。
Đương tác thị quan hệ niệm tư duy , niệm Đâu Suất Đà Thiên trì Phật Cấm Giới , nhất nhật chí thất nhật .
Cần quan sát như thế, luôn suy nghĩ tư duy, nhớ cung Trời Đâu Suất , nhớ giữ Giới cấm một ngày tới 7 ngày.
思念 十善 行十善道。
Tư niệm Thập thiện hành Thập thiện Đạo.
Nghĩ nhớ 10 Nghiệp thiện, hành 10 Đạo thiện.
以此 功德 迴向願生 彌勒 前者。當作是觀。
Dĩ thử công đức hồi hướng nguyện sinh Di Lặc tiền giả . Đương tác thị quan .
Dùng công đức đó hồi hướng nguyện sinh trước mặt Di Lặc . Nên thực hành quan sát như thế.
作是觀者。若見一天人見一 蓮花 。若一念頃稱 彌勒 名。
Tác thị quan giả , nhược kiến nhất Thiên nhân kiến nhất Liên hoa . Nhược nhất niệm khoảnh xưng Di Lặc danh .
Người quan sát như thế thấy một người Trời, thấy một bông Sen. Hoặc trong thời khắc đọc tên Di Lặc .
此人除却千二百劫生死之罪。
Thử nhân trừ khước thiên nhị bách Kiếp sinh tử chi tội .
Người đó trừ diệt được tội sinh tử của 1.200 Kiếp.
但聞 彌勒 名合掌恭敬。此人除却五 十劫 生死之罪。
Đãn văn Di Lặc danh hợp chưởng cung kính . Thử nhân trừ khước ngũ thập Kiếp sinh tử chi tội .
Chỉ nghe tên hiệu Di Lặc chắp tay cung kính, người đó trừ diệt được tội sinh tử của 50 Kiếp.
若有敬禮 彌勒 者。除却百億劫生死之罪。
Nhược hữu kính lễ Di Lặc giả 。Trừ khước bách ức Kiếp sinh tử chi tội .
Nếu có người cung kính lễ bái trừ diệt được tội sinh tử của 100 triệu Kiếp.
設不生天 未來世 中龍花 菩提樹 下亦得值遇發無上心。
Thiết bất sinh Thiên Vị lai thế trung Long Hoa Bồ Đề Thụ hạ diệc đắc trực ngộ phát Vô Thượng tâm 。
Giả sử không sinh lên cõi Trời trong thời tương lai, dưới Cây Bồ Đề Long Hoa , cũng được trực tiếp gặp phát tâm Đạo Bình Đẳng.
說是語時。無量大眾即從座起。
Thuyết thị ngữ thời . Vô lượng Đại chúng tức tòng tòa khởi .
Khi nói lời này, vô lượng chúng sinh rời khởi chỗ ngồi.
頂禮佛足禮 彌勒 足。遶佛及彌勒 菩薩 百千匝。
Đỉnh lễ Phật túc lễ Di Lặc túc , nhiễu Phật cập Di Lặc Bồ Tát bách thiên tạp .
Phục lễ Phật, Di Lặc đầy đủ, vây quanh Phật, Di lặc Bồ Tát trăm nghìn vòng.
未得 道者 各發誓願。我等天人八部。
Vị đắc Đạo giả các phát thệ nguyện : Ngã đẳng Thiên Nhân Bát bộ .
Người chưa được Đạo, từng người phát thệ nguyện: Chúng con Trời Người Bát bộ.
今於佛前發誠實誓願。於 未來世 值遇 彌勒 。
Kim ư Phật tiền phát thành thực thệ nguyện . Ư Vị lai thế trực ngộ Di Lặc .
Nay ở trước Phật thành thực phát thệ nguyện ở đời Tương lai trực tiếp gặp Di Lặc .
捨此身已皆得上生 兜率 陀天。 世尊 記曰。
Xả thử thân dĩ giai đắc thượng sinh Đâu Suất Đà Thiên . Thế Tôn ký viết .
Sau khi vất bỏ thân này, đều được sinh lên cung Trời Đâu suất. Thế Tôn Chuyển bậc cho.
汝等及 未來世 修福持戒。
Nhữ đẳng cập Vị lai thế tu Phúc trì Giới 。
Các Ngài cùng ở đời Tương lai tu Phúc giữ Giới.
皆當 往生 彌勒 菩薩 前為彌勒菩薩之 所攝受 。佛告優波離:
Giai đương vãng sinh Di Lặc Bồ Tát tiền vi Di Lặc Bồ Tát chi sở nhiếp thụ 。Phật cáo Ưu Ba Ly :
Đều đang vãng sinh trước mặt Di lặc Bồ Tát , được Di lặc Bồ Tát thu nhận. Phật bảo Ưu Ba Ly:
作是觀者名為正觀。若他觀者名為邪觀。
Tác thị quan giả danh vi chính quan。Nhược tha quan giả danh vi Tà quan .
Người quan sát như trên, gọi là quan sát đúng. Nếu quan sát khác trên, gọi là quan sát sai lệch.
爾時尊者 阿難 即從座起。叉手長跪白佛言。
Nhĩ thời Tôn Giả A Nan tức tòng tòa khởi . Xoa thủ trường qụy bạch Phật ngôn :
Khi đó Tôn giả A Nan , liền rời chỗ ngồi, quỳ xuống bạch Phật rằng:
世尊! 善哉! 世尊! 快說 彌勒 所有 功德 。
Thế Tôn ! Thiện tai ! Thế Tôn khoái thuyết Di Lặc sở hữu công đức .
Thế tôn ! Thiện thay! Thế tôn nhanh nói công đức của Di Lặc .
亦記 未來世 修福眾生所得 果報 。我今隨喜。
Diệc ký Vị lai thế tu phúc chúng sinh sở đắc quả báo . Ngã kim tùy hỉ 。
Cũng ghi nhận quả báo của chúng sinh tu phúc ở đời Tương lai. Con nay vui mừng.
唯然 世尊 此法之要云何受持? 當何名此經?
Duy nhiên Thế Tôn thử pháp chi yếu vân hà thụ trì ? Đương hà danh thử Kinh ?
Tuy nhiên Thế Tôn , cốt yếu của Pháp này cần ghi nhớ ra sao ? Kinh này tên là gì ?
佛告 阿難 。汝持 佛語 慎勿忘失。
Phật cáo A Nan : Nhữ trì Phật ngữ thận vật vong thất .
Phật bảo A Nan : Ngài ghi nhớ lời Phật, cẩn thận đừng quên.
為 未來世 開生天路示 菩提 相莫斷 佛種 。
Vị Vị lai thế khai sinh Thiên lộ thị Bồ Đề Tướng mạc đoạn Phật chủng .
Vì đời Tương lai khai mở đạo Trời hiện cảnh Bồ Đề, không được để mất dòng Phật.
此經名彌勒 菩薩 般涅槃 。
Thử Kinh danh Di Lặc Bồ Tát Ban Niết Bàn .
Kinh này tên Di Lặc Bồ Tát nhập Niết Bàn .
亦名觀彌勒 菩薩 生 兜率 陀天勸 發菩提心 如是受持。佛說是語時。
Diệc danh Quan Di Lặc Bồ Tát sinh Đâu Suất Đà Thiên khuyến phát Bồ Đề tâm như thị thụ trì 。Phật thuyết thị ngữ thời.
Cũng có tên là Quan sát Di lặc Bồ Tát sinh lên cung Trời Đâu suất khuyến phát tâm Bồ Đề, cần ghi như thế. Lúc Phật nói lời đó.
他方來會十萬 菩薩 , 得 首楞嚴 三昧 。
Tha phương lai hội thập vạn Bồ Tát , đắc Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội .
Mười vạn Bồ Tát từ phương khác tới dự hội được Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội .
八萬億諸天 發菩提心 , 皆願隨從 彌勒 下生。
Bát vạn ức chư Thiên phát Bồ Đề tâm , giai nguyện tùy tòng Di Lặc hạ sinh.
Tám vạn triệu người Trời phát tâm Bồ Đề, đều nguyện theo Di Lặc sinh xuống Diêm Phù Đề.
佛說是語時。 四部弟子 天龍八部 。
Phật thuyết thị ngữ thời . Tứ Bộ đệ tử Thiên Long Bát bộ .
Khi Phật nói lời đó, nam nữ Tì Kheo, nam nữ Phật Tử, Trời Rồng Bát bộ,
聞佛所說 , 皆大歡喜禮佛而退。
Văn Phật sở thuyết giai đại hoan hỉ lễ Phật nhi thoái .
Được nghe Phật nói , đều rất vui mừng lễ Phật và rời đi.
佛說觀彌勒 菩薩 上生 兜率天 經
Phật thuyết Quan Di Lặc Bồ Tát thượng sinh Đâu Suất Thiên Kinh .
Phật thuyết Kinh Quan sát Di Lặc Bồ Tát sinh lên cung Trời Đâu Suất .
![]()
TUỆ QUANG 慧光 FOUNDATION http://www.daitangvietnam.com
Nguyên Tánh Trần Tiễn Khanh & Nguyên Hiển Trần Tiễn Huyến
Phật Tử Bùi Đức Huề dịch 11/2008.
佛說觀 彌勒 下生經 (Taisho No. 453)
Phật thuyết Quan Di Lặc Hạ Sinh Kinh
Phật thuyết Kinh Quan Sát Di Lặc Hạ Sinh.
西晉月氏 三藏 竺 法護 譯
Tây Tấn Nguyệt Thị Tam Tạng Trúc Pháp Hộ dịch
Tây Tấn Nguyệt Thị Tam Tạng Trúc Pháp Hộ dịch
聞如是。一時佛。在 舍衛國 祇樹 給孤獨 園。
Văn như thị . Nhất thời Phật tại Xá Vệ quốc Kì Thụ Cấp Cô Độc viên .
Được nghe như thế. Thời đó Phật ở tại vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc nước Xá Vệ .
與大 比丘 眾五百人俱。
Dữ Đại Tì Kheo chúng ngũ bách nhân câu .
Cùng với các Đại Tì Kheo và 1.500 người tham dự.
爾時 阿難 偏露右肩右膝著地白佛言:
Nhĩ thời A Nan thiên lộ hữu kiên hữu tất trước địa bạch Phật ngôn :
Lúc đó A Nan vai phải để lộ, tất phải phủ đất, bạch Thế Tôn rằng:
如來玄鑒無事不察。當來過去現在 三世 皆悉明了。
Như Lai huyền giám vô sự bất sát . Đương lai Quá khứ Hiện tại Tam Thế giai tất minh liễu .
Như Lai không có việc huyền diệu nào mà không thấy biết. Quá khứ Hiện tại Tương lai Ba Đời đều thông tỏ hết.
過去諸佛姓字名號。弟子 菩薩 翼從多少皆悉知之。
Quá khứ chư Phật tính tự danh hiệu . Đệ tử Bồ Tát dực tòng đa thiểu giai tất tri chi .
Các Phật Quá khứ tên họ danh hiệu, đệ tử Bồ Tát phụ tá bao nhiêu, đều biết tất cả.
一劫百劫若無數劫 , 皆悉觀察。
Nhất Kiếp bách Kiếp nhược vô số Kiếp , giai tất quan sát.
Một Kiếp, 100 Kiếp, hoặc vô số Kiếp, đều thấy rõ tất cả .
亦復知 國王大臣人民姓字則能分別。
Diệc phục tri Quốc Vương đại thần nhân dân tính tự tắc năng phân biệt .
Lại cũng biết Tên Họ của Quốc vương, Đại thần Nhân dân năng phân biệt rõ
如今現在國界若干亦復明了。
Như kim hiện tại quốc giới nhược can diệc phục minh liễu .
Như ngày nay, đất nước Thế giới hiện tại bao nhiêu, lại cũng thông tỏ.
將來久遠 彌勒 出現 , 至真 等正覺 。
Tương lai cửu viễn Di Lặc xuất hiện chí Chân Đẳng Chính Giác .
Tương lai còn xa Di Lặc xuất hiện thành Chính Đẳng Chính Giác.
欲聞其變弟子翼從 佛境 豐樂為經幾時。
Dục văn kỳ biến đệ tử dực tòng Phật cảnh phong lạc vi Kinh kỷ thời .
Muốn được nghe đệ tử chuyển hoá phụ tá Phật, cảnh giới đẹp vui, thời cơ được Kinh.
佛告 阿難 : 汝還就坐聽我所說。
Phật cáo A Nan : Nhữ hoàn tựu tọa thính Ngã sở thuyết .
Phật bảo A Nan : Ngài trở về ngồi xuống nghe Ta nói .
彌勒出現 國土 豐樂弟子多少。
Di Lặc xuất hiện quốc độ phong lạc đệ tử đa thiểu .
Di Lặc xuất hiện, đất nước đẹp vui, đệ tử bao nhiêu.
善思念之執在心懷。是時 阿難 從佛受教即還就坐。
Thiện Tư Niệm chi chấp tại tâm hoài . Thị thời A Nan tòng Phật thụ giáo tức hoàn tựu tọa .
Tư duy Tuệ Tu Tuệ và mong muốn giữ ở trong tâm. Lúc đó A Nan nghe lời Phật dạy, liển trở lại chỗ ngồi.
爾時 世尊 告 阿難 曰:
Nhĩ thời Thế Tôn cáo A Nan viết :
Khi đó Thế Tôn bảo A Nan rằng:
將來久遠於此國界當有城郭名曰翅頭。東西十二 由旬 , 南北七由旬。
Tương lai cửu viễn ư thử quốc giới đương hữu thành quách danh viết Sí Đầu . Đông Tây thập nhị Do tuần , Nam Bắc thất Do tuần 。
Tương lai còn xa ở quốc giới này, đương có một thành tên là Sí Đầu. Từ Đông sang Tây 240 km, từ Bắc xuống Nam 140 km.
土地豐熟人民熾盛街巷成行。
Thổ địa phong thục nhân dân sí thịnh nhai hạng thành hàng .
Đất đai màu mỡ, nhân dân đông đúc, phố xá ngăn lắp.
爾時城中有 龍王 名曰水光。
Nhĩ thời thành trung hữu Long Vương danh viết Thủy Quang 。
Khi đó trong thành có Long Vương , tên là Thuỷ Quang.
夜雨香澤晝則清和。是時翅頭城中有 羅剎 鬼名曰葉華。
Dạ vú hương trạch trú tức thanh hòa . Thị thời Sí Đầu thành trung hữu La Sát quỷ danh viết Diệp Hoa .
Đêm rải mưa thơm, ngày thì dịu mát. Thời ấy trong thành Sí Đầu có Quỷ La Sát tên là Diệp Hoa,
所行順法不違正教。每向人民寢寐之後。
sở hành thuận Pháp bất vi chính giáo . Mỗi hướng nhân dân tẩm mị chi hậu .
thích hành thuận Pháp, không ngược chính giáo. Sau khi mỗi người dân trong giấc ngủ nằm mộng thấy,
除去穢惡諸不淨者, 常以香汁而灑其地極為香淨。
Trừ khứ uế ác chư bất Tịnh giả , thường dĩ hương trấp nhi sái kỳ địa cực vi hương Tịnh .
Trừ bỏ được bẩn ác và không Thanh Tịnh. Thường dùng nước hoa phun lên đất rất là thơm mát.
阿難! 當爾之 時 閻浮提 地。
A Nan ! Đương nhĩ chi thời Diêm Phù Đề địa .
A Nan! Thời gian đó đất Diêm Phù Đề (Sa bà),
東西南北千萬 由旬 。諸山河石壁皆自消滅。
Đông Tây Nam Bắc thiên vạn Do tuần . Chư sơn hà thạch bích giai tự tiêu diệt .
Đông Tây Nam Bắc 2 triệu km. Sông núi hang động đều tự tiêu diệt.
四大 海水各據一方。
Tứ đại hải thủy các cứ nhất phương .
Nước bốn biển lớn chiếm cứ mỗi phương.
時 閻浮 地極為平整如鏡清明。舉閻浮地內穀食豐賤。
Thời Diêm Phù địa cực vi bình chỉnh như kính thanh minh . Cử Diêm Phù địa nội cốc thực phong tiện .
Thời đó đất Diêm Phù rất là bằng phẳng như tấm gương trong. Cây lương thực mọc dễ dàng trên đất Diêm Phù.
人民熾盛多諸珍寶。諸村落相近。鷄鳴相接。
Nhân dân sí thịnh đa chư trân bảo . Chư thôn lạc tương cận , kê minh tương tiếp .
Nhân dân đông đúc, nhiều loại châu báu. Làng xóm liền nhau cùng nhau nghe tiếng gà gáy.
是時弊華果樹枯竭穢惡亦自消滅。
Thị thời tệ hoa quả thụ khô kiệt uế ác diệc tự tiêu diệt .
Thời đó cây có hoa quả xấu, khô kiệt bẩn độc cũng tự tiêu diệt.
其餘甘美果樹香氣殊好者皆生于地。
Kỳ dư cam mỹ quả thụ hương khí thù hảo giả giai sinh vu địa .
Cây quả ngon ngọt, mùi hương tuyệt hảo khác đều sinh trên đất.
爾時時氣和適四時順節。人身之中無有百八之患 ,
Nhĩ thời thời khí hòa thích tứ thời thuận tiết . Nhân thân chi trung vô hữu bách bát chi hoạn ,
Thời đó khí hậu thuận hoà bốn mùa. Thân người không có 108 hoạn nạn,
貪欲瞋恚愚癡不大殷勤。人心均平皆同一意。
tham dục sân khuể ngu si bất đại ân cần . Nhân tâm quân bình giai đồng nhất ý .
tham muốn thù hận ngu si mê muội không ân cần. Tâm người như nhau đều cùng một ý.
相見歡悅善言相向 , 言辭一類無有差別。
Tương kiến hoan duyệt thiện ngôn tương hướng , ngôn từ nhất loại vô hữu sai biệt .
Gặp nhau vui vẻ, dễ nói cùng một chí hướng, cùng một ngôn từ không có sai biệt.
如彼優單越人而無有異。
Như bỉ Ưu Đơn Việt nhân nhi vô hữu dị.
Như người Ưu Đơn Việt mà không có khác.
是時 閻浮 地內人民大小皆同一向 , 無若干之差別也。
Thị thời Diêm Phù địa nội nhân dân đại tiểu giai đồng nhất hướng , vô nhược can chi sai biệt dã.
Thời đó trên đất Diêm Phù , nhân dân lớn bé đều cùng chí hướng, cũng không có nhiều sự khác biệt.
彼時男女之類 , 意欲大小便時地自然開。
Bỉ thời nam nữ chi loại , ý dục đại tiểu tiện thời địa tự nhiên khai .
Nam nữ thời đó có ý muốn đại tiểu tiện, đất liền tự nhiên mở ra.
事訖之後地便還合。
Sự cật chi hậu địa tiện hoàn hợp .
Sau khi xong việc, đất liền lại khép lại.
爾時 閻浮 地內自然生粳米亦無皮裹, 極為香美食 , 無患苦.
Nhĩ thời Diêm Phù địa nội tự nhiên sinh canh mễ diệc vô bì khoả , cực vi hương mỹ thực , vô hoạn khổ .
Thời đó trên đất tự nhiên sinh lúa gạo lốc, không có vỏ cực kỳ thơm ngon, không có hoạn nạn khổ đau.
所謂金銀珍寶 硨磲 馬瑙真珠 虎珀 , 各散在地無人省錄。
Sở vị kim ngân trân bảo xa cừ mã não trân châu hổ phách , các tán tại địa vô nhân tỉnh lục .
Coi như các loại vàng bạc trân bảo, xa cừ mã não trân châu hổ phách , rải trên đất không có người lấy.
是時人民手執此寶自相謂言昔者之人由此寶故更相傷害。
Thị thời nhân dân thủ chấp thử bảo tự tương vị ngôn tích giả chi nhân , do thử bảo cố cánh tương thương hại.
Thời đó nhân dân tay cầm vật quý tự coi là người thời trước. Chính do vật quý đó càng thêm thương hại.
繫閉在獄受無數苦惱。如今此寶與瓦石同流無人守護。
Hệ bế tại Ngục thụ vô số khổ não . Như kim thử bảo dữ ngõa thạch đồng lưu vô nhân thủ hộ .
Liên hệ tới việc bị giam ở trong Ngục, nhận vô số khổ não. Như thể ngày nay vật quý đó và gạch đá cùng như nhau, không có người coi giữ.
爾時 法王 出現 , 名曰儴佉。
Nhĩ thời Pháp Vương xuất hiện . Danh viết Tương Khư .
Thời đó xuất hiện Pháp Vương tên là Tương Khư.
正法治化 七寶 成就。所謂七寶者。
Chính Pháp trị hóa thất bảo thành tựu , sở vị thất bảo giả :
Chính Pháp giáo hoá quản lý, thành công 7 báu vật gồm :
輪寶`象寶`馬寶珠寶`玉女寶`典兵寶`守藏之寶.
Luân bảo- Tượng bảo - Mã bảo- Châu bảo- Ngọc nữ bảo- Điển binh bảo- Thủ tạng chi bảo .
Luân báu, Voi báu, Ngựa báu, Châu báu, Ngọc nữ báu, Điển binh báu, Thủ tạng báu.
是謂 七寶 , 鎮此 閻浮 地內。不以刀杖自然靡伏。
Thị vị Thất bảo , trấn thử Diêm Phù địa nội . Bất dĩ đao trượng tự nhiên mị phục .
Cho là Bảy báu vật đó trấn giữ đất Diêm Phù . Không dùng đao gậy tự nhiên tất cả quy phục.
如今 阿難 四珍之藏。乾陀越國, 伊羅鉢寶藏 ,
Như kim A Nan tứ trân chi Tạng. Kiền Đà Việt quốc , Y La Bát bảo Tạng ,
A Nan, như hiện nay 4 Kho trân bảo . Nước Kiền Đà Việt, Kho báu Y La Bát ,
多諸珍琦異物不可稱計。
đa chư trân kỳ dị vật bất khả xưng kế .
nhiều loại châu báu, vật kỳ dị không thể kể đếm được.
第二彌梯羅國 , 綢羅大藏 亦多珍寶。
Đệ nhị Di Thế La quốc , Trù La đại Tạng diệc đa trân bảo.
Nước thứ hai là Di Thế La, kho lớn Trù La cũng nhiều châu báu.
第三須賴吒大國, 有 大寶藏 亦多珍寶。
Đệ tam Tu Lại Tra Đại quốc , hữu đại bảo Tạng diệc đa trân bảo .
Nước thứ ba Tu Lại Tra Đại, có Kho tàng lớn cũng nhiều châu báu.
第四 波羅奈 , 儴佉 有 大寶藏 , 多諸珍寶不可稱計。
Đệ tứ Ba La Nại , Tương Khư hữu đại bảo Tạng , đa chư trân bảo bất khả xưng kế .
Nước thứ tư là Ba La Nại, Tương Khư có Kho tàng lớn của cũng nhiều châu báu không thể đọc đếm được.
此 四大 藏自然應現。 諸守藏人各來白王:
Thử Tứ đại Tạng tự nhiên ưng hiện . Chư thủ Tạng nhân các lai bạch Vương :
Bốn Kho tàng lớn này tự nhiên hiện ra. Những người giữ kho báu, từng người bạch Vương :
唯願 大王 以此寶藏之物惠施貧窮。
Duy nguyện Đại Vương dĩ thử bảo Tạng chi vật huệ thí bần cùng .
Mong muốn Đại Vương , dùng báu vật của Kho báu này, ban ân bố thí cho người nghèo khổ.
爾時儴佉 大王 , 得此寶已亦復不省錄之意 , 無財寶之想。
Nhĩ thời Tương Khư Đại Vương , đắc thử bảo dĩ diệc phục bất tỉnh lục chi ý, vô tài bảo chi tưởng .
Thời đó đại Vương Tương Khư được kho báu đó, cũng không có ý tưởng cất giữ tài bảo vô lượng đó.
時 閻浮 地內 , 自然樹上生衣 , 極細柔軟人取著之。
Thời Diêm Phù địa nội , tự nhiên thụ thượng sinh y , cực tế nhu nhuyễn nhân thủ trước chi 。
Thời đó ở đất Diêm Phù trên cây tự nhiên sinh quần áo cực mềm mỏng đẹp, người cầm lấy mặc.
如今優單越人自然樹上生衣 , 而無有異。
Như kim Ưu Đơn Việt nhân tự nhiên thụ thượng sinh y , nhi vô hữu dị .
Giống như ngày nay, người Ưu Đơn Việt trên cây tự nhiên sinh quần áo mà không có sai khác.
爾時彼王有大臣名曰修梵摩。
Nhĩ thời bỉ Vương hữu Đại thần danh viết Tu Phạm Ma.
Khi đó Vương có một Đại thần, tên là Tu Phạm Ma.
是王少小同好王甚愛敬。
Thị Vương thiểu tiểu đồng hảo Vương thậm ái kính .
Vương đó cùng với một số tiểu Vương thân hữu quý trọng nhau,
又且顏貌端正不長不短不肥不瘦。不白不黑不老不少。
Hựu thả nhan mạo đoan chính , bất trường bất đoản bất phì bất sấu , bất bạch bất hắc bất lão bất thiếu .
Cùng với tướng mạo đoan chính, không cao, không thấp, không béo, không gầy, không trắng, không đen, không già, không trẻ.
是時修梵摩有妻名梵摩越。王女中最極為殊妙 , 如天帝妃。
Thị thời Tu Phạm Ma hữu thê danh Phạm Ma Việt . Vương nữ trung tối cực vi thù diệu , như Thiên Đế phi .
Khi đó Tu Phạm Ma có vợ tên là Phạm Ma Việt, là người đẹp nhất trong số người đẹp, tựa như cung phi của Ngọc Hoàng.
口作優鉢 蓮華 香。身作栴檀香。
Khẩu tác Ưu Bát Liên hoa hương . Thân tác Chiên Đàn hương .
Miệng có hương hoa Sen Ưu Bát, thân có hương Chiên đàn.
諸婦人八十四態永無復有 , 亦無疾病亂想之念。
Chư phụ nhân bát thập tứ thái vĩnh vô phục hữu , diệc vô tật bệnh loạn tưởng chi niệm .
84 hình thái lâu đời của các phụ nữ không quay trở lại, cũng không bệnh tật, suy tưởng cuồng loạn.
爾時彌勒 菩薩 , 於 兜率天 觀察父母不老不少 , 便降神下應從右脇生。
Nhĩ thời Di Lặc Bồ Tát , ư Đâu Suất Thiên quan sát Phụ Mẫu bất lão bất thiếu , tiện giáng thần hạ ứng tòng hữu hiếp sinh .
Khi đó Di Lặc Bồ Tát ở cung Trời Đâu Suất , quan sát Cha Mẹ không già không trẻ liền giáng thần xuống, sinh ra từ sườn phải.
如我今日右脇生無異。彌勒 菩薩 亦復如是。
Như Ngã kim nhật hữu hiếp sinh vô dị . Di Lặc Bồ Tát diệc phục như thị .
Giống như ngày nay Ta sinh ra từ sườn phải không có sai khác. Di Lặc Bồ Tát cũng lại như thế.
兜率諸天各各唱令。彌勒 菩薩 已降神生。
Đâu Suất chư Thiên các các xướng linh . Di Lặc Bồ Tát dĩ giáng Thần sinh .
Các Trời cung Đâu Suất , từng người nói rằng Di Lặc Bồ Tát đã giáng Thần sinh.
是時修梵摩即與子立字名曰 彌勒 。
Thị thời Tu Phạm Ma tức dữ tử lập tự danh viết Di Lặc .
Khi đó Tu Phạm Ma liền đặt tên con là Di Lặc .
彌勒 菩薩 有三十二相八十種好。莊嚴其身身黃金色。
Di Lặc Bồ Tát hữu Tam thập nhị tướng Bát thập chủng hảo . Trang nghiêm kỳ than, thân hoàng kim sắc .
Di Lặc Bồ Tát có 32 tướng, 80 dáng đẹp. Thân hình trang nghiêm, thân sắc vàng mười.
爾時人壽極長無有諸患 , 皆壽八萬四千歲。
Nhĩ thời nhân thọ cực trường vô hữu chư hoạn , giai thọ bát vạn tứ thiên tuế .
Thời đó người thọ cực dài, không có các hoạn nạn, đều sống lâu 8 vạn 4 nghìn năm.
女人年五百歲然後出嫡。
Nữ nhân niên ngũ bách tuế nhiên hậu xuất đích .
Phụ nữ sau 500 tuổi mới đi lấy chồng.
爾時 彌勒 在家未經幾時 , 便當出家學道。
Nhĩ thời Di Lặc tại gia vị kinh cơ thời , tiện đương xuất gia học Đạo .
Khi Di Lặc còn ở nhà chưa tới thời, liền rời gia đình học Đạo.
爾時去翅頭城不遠有 道樹 名曰龍花。高一 由旬 廣五百步。
Nhĩ thời khứ Sí Đầu thành bất viễn hữu Đạo thụ danh viết Long Hoa , cao nhất Do tuần quảng ngũ bách bộ.
Thời đó cách thành Sí Đầu không xa có cây Đạo tên là Long Hoa , cao 20 km, rộng hơn 800 m.
時彌勒 菩薩 坐彼樹下成 無上道 果。
Thời Di Lặc Bồ Tát tọa bỉ Thụ hạ thành Vô Thượng Đạo quả .
Khi đó Di Lặc Bồ Tát ngồi dưới cây Đạo thành Đạo quả Bình đẳng.
當其夜半 彌勒 出家。即於其夜成 無上道 。
Đương kỳ dạ bán Di Lặc xuất gia . Tức ư kỳ dạ thành Vô Thượng Đạo .
Đang nửa đêm Di Lặc ra khỏi nhà, liền trong đêm đó thành Đạo Bình Đẳng.
時三千大千剎土六返震動。
Thời Tam thiên Đại Thiên sát thổ lục phản chấn động .
Lúc đó Ba nghìn Đại thiên Thế giới 6 loại chấn động.
地神各各相告曰: 今時 彌勒 已成佛 , 轉至聞 四天王 宮。
Địa thần các các tương cáo viết : Kim thời Di Lặc dĩ thành Phật , chuyển chí văn Tứ Thiên Vương cung .
Các thổ Thần truyền nhau nói rằng : Hiện nay Di Lặc đã thành Đạo Phật. Tin đó được truyền tới cung Bốn Thiên Vương .
彌勒已成 佛道 。轉轉聞徹三十三天。
Di Lặc dĩ thành Phật Đạo . Chuyển chuyển văn triệt Tam thập tam Thiên .
Di Lặc đã thành Đạo Phật. Lần lần chuyển khắp 33 tầng Trời.
豔天 ` 兜率天 `化 自在天 ` 他化自在天 , 乃至 梵天 。
Diễm Ma Thiên- Đâu Suất Đà Thiên – Hóa Lạc Thiên- Tha Hóa Hóa Tự Tại Thiên, nãi chí Phạm Thiên .
Trời Diễm Ma- Trời Đâu Suất - Trời Hóa Lạc- Trời Tha Hóa Hóa Tự Tại, thậm chí Trời Phạm
彌勒已成 佛道 。
Di Lặc dĩ thành Phật Đạo.
Di Lặc đã thành Đạo Phật.
爾時 魔王 名大將, 以法治化。聞 如來 名音響之聲。
Nhĩ thời Ma Vương danh Đại Tương , dĩ Pháp trị hóa , văn Như Lai danh âm hưởng chi thanh .
Khi đó Ma Vương tên là Đại Tương dùng Pháp cai quản giáo hoá, nghe được âm thanh truyền tên của Như Lai .
歡喜踊躍不能自勝。七日七夜不眠不寐。
Hoan hỉ dũng dược bất năng tự thắng , thất nhật thất dạ bất miên bất mị .
Vui mừng phấn khởi không thể tự kiềm chế, bảy ngày bảy đêm không ngủ không mơ.
是時 魔王 將欲界無數天人至 彌勒 佛所 , 恭敬禮拜。
Thị thời Ma Vương tương Dục Giới vô số Thiên nhân chí Di Lặc Phật sở , cung kính lễ bái .
Khi đó Ma vương cùng với vô số người Trời cõi Dục Giới tới nơi Phật Di Lặc ở, cung kính lễ bái.
彌勒聖尊與諸天人 , 漸漸說法微妙之論。
Di Lặc Thánh Tôn dữ chư Thiên nhân , tiệm tiệm thuyết Pháp vi diệu chi luận .
Di Lặc Thánh Tôn và các người Trời, lần lượt luận thuyết vi diệu Pháp.
所謂論者: 施論`戒論`生天之論。
Sở vị luận giả : Thí luận - Giới luận- sinh Thiên chi luận.
Các luận được thuyết là: Luận về bố Thí, luận về giữ Giới, luận về sinh lên cõi Trời,
欲不淨想出要為妙。爾時 彌勒 見諸人民已發心歡喜。
Dục bất tịnh tưởng xuất yếu vi diệu . Nhĩ thời Di Lặc kiến chư nhân dân dĩ phát tâm hoan hỉ .
Được sự kỳ diệu chủ yếu là thoát ra khỏi ham muốn do ý tưởng không Thanh tịnh. Khi đó Di Lặc thấy nhân dân đã phát tâm vui mừng.
諸 佛世尊 常 所說法 , 苦習盡道 , 盡與諸天人廣分別其義。
Chư Phật Thế Tôn thường sở thuyết Pháp , Khổ Tập Tận Đạo , tận dữ chư Thiên Nhân quảng phân biệt kỳ nghĩa.
Pháp thường được các Phật Thế Tôn thuyết là Khổ- Tập Khổ- Diệt Khổ- Đạo Diệt Khổ, vì các người Trời phân biệt nghĩa lý.
爾時座上八萬四千 天子 , 諸塵垢盡得 法眼淨 。
Nhĩ thời tòa thượng bát vạn tứ thiên Thiên Tử , chư trần cấu tận đắc Pháp Nhãn tịnh .
Khi đó 8 vạn 4 nghìn Thiên Tử trên toà sạch hết bụi trần được Pháp Bồ Tát .
爾時大將 魔王 告彼界人民之類曰: 汝等速出家。
Nhĩ thời Đại Tương Ma Vương cáo bỉ Giới nhân dân chi loại viết : Nhữ đẳng tốc xuất gia
Khi đó Đại Tương Ma Vương bảo mọi người dân cõi Dục Giới rằng: Các Ngài nhanh chóng xuất gia.
所以然者 彌勒 今日已度彼岸。亦當度汝等使至彼岸。
Sở dĩ nhiên giả Di Lặc kim nhật dĩ độ bỉ Ngạn . Diệc đương độ Nhữ đẳng sử chí bỉ Ngạn .
Dĩ nhiên là ngày nay Di Lặc đã thành Phật. Cũng đang cứu các Ngài giúp tới thành Phật.
爾時翅頭城中有長者名曰 善財 , 聞 魔王 教令。
Nhĩ thời Sí Đầu thành trung hữu Trưởng giả danh viết Thiện Tài , văn Ma Vương giáo linh.
Khi đó trong thành Sí Đầu có một trưởng giả tên là Thiện Tài , nghe được lời dạy của Ma vương,
又聞 佛音 響, 將八萬四千眾至 彌勒 佛所。
Hựu văn Phật âm hưởng , tương bát vạn tứ thiên Chúng chí Di Lặc Phật sở .
Lại cũng nghe được truyền âm của Phật, gần 8 vạn 4 nghìn loài tới nơi Phật Di Lặc ở.
頭面禮足在一面坐。
Đầu diện lễ túc tại nhất diện tọa .
Đỉnh lễ Phật hoàn tất ngồi sang một bên.
爾時 彌勒 漸與說法微妙之論。
Nhĩ thời Di Lặc tiệm dữ thuyết Pháp vi diệu chi luận .
Lúc đó Di Lặc lần lượt luận thuyết vi diệu Pháp.
所謂論者: 施論戒論生天之論。欲不淨想出要為妙。
Sở vị luận giả : Thí luận Giới luận sinh Thiên chi luận . Dục bất tịnh tưởng xuất yếu vi diệu .
Các luận được thuyết là: Luận về bố Thí, luận về giữ Giới, luận về sinh lên cõi Trời. Được sự kỳ diệu chủ yếu là thoát ra khỏi ham muốn do ý tưởng không Thanh tịnh.
爾時 彌勒 見諸人民心開意解。
Nhĩ thời Di Lặc kiến chư nhân dân tâm khai ý giải .
Khi đó Di Lặc thấy mọi người tâm sáng hiểu ý.
如諸 佛世尊 常 所說法 。
Như chư Phật Thế Tôn thường sở thuyết Pháp .
Như Pháp thường được các Phật Thế Tôn thuyết.
苦習盡道與諸人民廣分別義。
Khổ Tập Tận Đạo dữ chư nhân dân quảng phân biệt nghĩa .
Khổ-Tập Khổ- Diệt Khổ- Đạo Diệt Khổ, phân biệt giải thích nghĩa cho khắp cả Nhân dân.
爾時座上八萬四千人 , 諸塵垢盡得 法眼淨 。
Nhĩ thời tòa thượng bát vạn tứ thiên Nhân , chư trần cấu tận đắc Pháp Nhãn Tịnh .
Khi đó 8 vạn 4 nghìn người ngồi trong toà trừ hết bụi trần được Pháp Bồ Tát .
是時 善財 與八萬四千人等, 即前白佛。
Thị thời Thiện Tài dữ bát vạn tứ thiên nhân đẳng, tức tiền bạch Phật.
Khi đó Thiện Tài và 8 vạn 4 nghìn người, liền ở phía trước bạch Phật.
求索出家善修 梵行 。盡成 阿羅漢 道。
Cầu sách xuất gia thiện tu Phạm hành , tận thành A La Hán Đạo .
Cầu xin xuất gia, thiện tu Phạm hành, tất cả thành Đạo A La Hán .
爾時 彌勒 初會八萬四千人得 阿羅漢 。
Nhĩ thời Di Lặc sơ hội bát vạn tứ thiên nhân đắc A La Hán .
Thời đó Di Lặc mở hội đầu tiên 8 vạn 4 nghìn người thành A La Hán .
是時儴佉王。聞 彌勒 已成 佛道 。
Thị thời Tương Khư Vương , văn Di Lặc dĩ thành Phật Đạo.
Lúc đó Tương Khư Vương khi nghe Di Lặc đã thành Đạo Phật.
便往至佛所欲得聞法。時 彌勒 佛與王說法。
Tiện vãng chí Phật sở dục đắc văn Pháp . Thời Di Lặc Phật dữ Vương thuyết Pháp.
Liền tới nơi Phật ở, muốn được nghe Pháp. Phật Di Lặc vì Vương thuyết Pháp .
初善中善竟善義理深邃。
Sơ thiện- Trung thiện- Cánh thiện nghĩa lý thâm thúy .
Tứ đế- 12 Nhân duyên- Đạo Bồ Tát , tới cùng nghĩa lý thâm thúy.
爾時 大王 復於異時立太子為王, 賜剃頭師珍寶。
Nhĩ thời Đại Vương phục ư dị thời lập Thái Tử vi Vương , tứ thế đầu Sư trân bảo .
Khi đó Đại Vương sau khi trở về, lập Thái tử làm Vua, ban châu báu cho Thầy cắt tóc.
復以雜寶與諸 梵志 。將八萬四千眾往至佛所求作 沙門 。
Phục dĩ tạp bảo dữ chư Phạm Chí . Tương bát vạn tứ thiên chúng vãng chí Phật sở cầu tác Sa Môn .
Lại dùng các loại vật quý cho với các Phạm Chí. Cùng với gần 8 vạn 4 nghìn người, tới nơi Phật ở xin làm Sa Môn .
盡成 道果 得 阿羅漢 。是時修梵摩大長者, 聞 彌勒 已成 佛道 。
Tận thành Đạo quả đắc A La Hán . Thị thời Tu Phạm Ma Đại Trưởng giả , văn Di Lặc dĩ thành Phật Đạo.
Tất cả thành Đạo quả là A La Hán . Khi đó Tu Phạm Ma Đại Trưởng giả, nghe Di Lặc đã thành Đạo Phật.
將八萬四千 梵志 之眾, 往至佛所求作 沙門 , 得 阿羅漢 。
Tương bát vạn tứ thiên Phạm Chí chi chúng , vãng chí Phật sở cầu tác Sa Môn , đắc A la Hán.
Cùng với 8 vạn 4 nghìn Phạm Chí vãng tới nơi Phật ở, xin làm Sa Môn thành A La Hán .
唯修梵摩一人。斷 三結 使必盡苦際。是時 佛母 梵摩越。
Duy Tu Phạm Ma nhất nhân , đoạn Tam kết sử tất tận khổ tế . Thị thời Phật mẫu Phạm Ma Việt .
Chỉ có Tu Phạm Ma người duy nhất đoạn Tam phược kết (ý kiến tự thân- ý kiến do nghi hoặc - cố chấp ý kiến) , trừ tận tất cả khổ. Đồng thời Mẹ Phật là Phạm Ma Việt,
復將八萬四千婇女之眾往至佛所求作 沙門 。
Phục tương bát vạn tứ thiên cung nữ chi chúng , vãng chí Phật sở cầu tác Sa Môn
lại cùng với 8 vạn 4 nghìn cung nữ, vãng tới nơi Phật ở xin làm Sa Môn .
爾時諸女人盡得 阿羅漢 。
Nhĩ thời chư nữ nhân tận đắc A La Hán .
Tất cả các cung nữ đều thành A La hán.
唯有梵摩越一人。斷 三結 使成 須陀洹 。
Duy hữu Phạm Ma Việt nhất nhân , đoạn Tam kết sử thành Tu Đà Hoàn .
Duy chỉ có Phạm Ma Việt, người duy nhất đoạn Tam phược kết thành Tu Đà Hoàn .
爾時諸剎利婦聞 彌勒 如來 出現世間 成等正覺 。
Nhĩ thời chư Sát Lợi phụ văn Di Lặc Như Lai xuất hiện Thế gian thành Đẳng Chính Giác .
Thời đó vợ các Sát Lợi nghe tin Di Lặc Như Lai xuất hiện Thế gian thành Chính Đẳng Giác.
數千萬眾往至佛所 , 頭面禮足在一面坐。
Số thiên vạn chúng vãng chí Phật sở , đầu diện lễ túc tại nhất diện tọa .
Hàng nghìn vạn người vãng tới nơi Phật ở, đỉnh lễ hoàn tất, ngồi sang một bên.
各各生心求作 沙門 出家學道。
Các các sanh tâm cầu tác Sa Môn xuất gia học Đạo.
Từng người sinh tâm xin làm Sa Môn , xuất gia học Đạo.
或有越次取證。或有不取證者。
Hoặc hữu việt thứ thủ chứng , hoặc hữu bất thủ chứng giả .
Hoặc có người vượt bậc chứng Đạo, hoặc chưa chứng Đạo.
爾時 阿難 。 其不越次取證者, 盡是奉法之人。
Nhĩ thời A Nan ! Kỳ bất việt thứ thủ chứng giả , tận thị phụng Pháp chi nhân .
A Nan! Thời đó người chưa vượt bậc chứng Đạo, tất cả đều phụng trì Pháp Phật,
患厭一切世間修不可樂想。
Hoạn yếm nhất thiết Thế gian tu bất khả lạc tưởng .
Chán tất cả mọi hoạn nạn của Thế gian, không thể sinh ý tưởng vui vẻ.
爾時 彌勒 當說 三乘 之教如我今日。弟子之中大 迦葉 者 , 行十二頭陀。
Nhĩ thời Di Lặc đương thuyết Tam Thừa chi giáo như Ngã kim nhật . Đệ tử chi trung Đại Ca Diệp giả, hành thập nhị Đầu Đà .
Thời đó Di Lặc đang thuyết giáo Ba Bậc cũng như Ta hiện nay. Trong số đệ tử Đại Ca Diệp, thực hành 12 việc Phật hàng đầu.
過去諸佛所善修 梵行 。
Quá Khứ chư Phật sở thiện tu Phạm hành .
Thiện tu Phạm hành của các Phật Quá khứ,
此人當佐 彌勒 勸化人民。
Thử nhân đương tá Di Lặc khuyến hóa nhân dân .
Người đó đang là trợ thủ của Phật Di Lặc khuyến hoá nhân dân.
爾時 迦葉 去 如來 不遠 結加趺坐 。
Nhĩ thời Ca Diệp khứ Như Lai bất viễn kết già phu tọa .
Ca Diệp thời đó tới chỗ Như Lai không xa, ngồi thế kết già.
正身正意繫念在前。爾時 世尊 告 迦葉 曰。
Chính Thân Chính Ý hệ niệm tại tiền . Nhĩ thời Thế Tôn cáo Ca Diệp viết :
Ở phía trước Chính Thân Chính Ý tư duy. Lúc đó Thế Tôn bảo Ca Diệp rằng:
吾今年已衰耗向八十餘。然今 如來 有 四大聲聞 。
Ngô kim niên dĩ suy hao hướng bát thập dư . Nhiên kim Như Lai hữu tứ Đại Thanh Văn .
Ta năm nay hơn 80 tuổi, đương nhiên sức khoẻ suy hao. Ta nay có 4 Đại Thanh Văn ,
堪任遊化 , 智慧無盡眾德具足。云何為四。
Kham nhậm du hóa , Trí tuệ vô tận , chúng Đức cụ túc . Vân hà vi Tứ .
Chịu nhận du hành giáo hoá, đầy đủ Đức Trí tuệ vô tận. Bốn là ai
所謂大 迦葉 比丘 `屠鉢歎比丘`賓頭盧比丘` 羅云 比丘。
Sở vị Đại Ca Diệp Tì Kheo , Đồ Bát Thán Tì Kheo , Tân Đầu Lư Tì Kheo , La Vân Tì Kheo.
Họ là: Đại Ca Diệp Tì Kheo, Y Đồ Bát Thán Tì Kheo, Tân Đầu Lư Tì Kheo, La Vân Tì Kheo.
汝等 四大聲聞 。要不 般涅槃 。
Nhữ đẳng Tứ Đại Thanh Văn , yếu bất Ban Niết Bàn .
Các Ngài 4 Đại Thanh văn , cần không nhập Niết Bàn ,
須吾法沒盡。然後乃當 般涅槃 。
Tu Ngô Pháp một tận , nhiên hậu nãi đương ban Niết Bàn .
Chờ Pháp của Ta diệt hết, đương nhiên sau đó liền nhập Niết Bàn .
大 迦葉 亦不應 般涅槃 , 要 須彌 勒出現世間。所以然者。
Đại Ca Diệp diệc bất ưng ban Niết Bàn , yếu tu Di Lặc xuất hiện Thế gian . Sở dĩ nhiên giả.
Đại Ca Diệp cũng không muốn nhập Niết Bàn , chờ đợi Di Lặc xuất hiện ở Thế gian. Sao lại như vậy?
彌勒所化弟子, 盡是 釋迦 文弟子。
Di Lặc sở hóa đệ tử , tận thị Thích Ca Văn đệ tử .
Các đệ tử được Di Lặc giáo hoá, tất cả là đệ tử của Thích Ca Mâu Ni Phật .
由我遺化得盡有漏。
Do Ngã di hóa đắc tận Hữu Lậu .
Do Ta giáo hoá đã thành Thanh Văn tặng lại.
摩竭國界毘提村中。 大 迦葉 於彼山中住。
Ma Kiệt quốc giới Tì Đề thôn trung . Đại Ca Diệp ư bỉ sơn trung trụ.
Biên giới nước Ma Kiệt trong thôn Tì Đề. Đại Ca Diệp ở trong núi đó.
又 彌勒 如來 將無數千人眾。
Hựu Di Lặc Như Lai tương vô số thiên nhân chúng .
Mới lại Di Lặc Như Lai cùng với vô số nghìn chúng sinh.
前後圍遶往至此山中 , 遂蒙佛恩。
Tiền hậu vi nhiễu vãng chí thử sơn trung , toại mông Phật ân .
Di Lặc Như Lai cùng với hàng nghìn người vây quanh trước sau, cùng nhau vãng tới núi đó, thoả mãn được ân Phật.
諸鬼神當與開門 , 使得見 迦葉 禪窟。
Chư Quỷ Thần đương dữ khai môn , sử đắc kiến Ca Diệp Thiền quật .
Các Quỷ Thần đang ở bên mở cửa, giúp nhìn thấy Ca Diệp ngồi Thiền trong động.
是時 彌勒 。申右手指示 迦葉 告諸人民。
Thị thời Di Lặc , thân hữu thủ chỉ thị Ca Diệp cáo chư nhân dân .
Lúc đó Di Lặc duỗi thẳng tay phải chỉ vào Ca Diệp, bảo với nhân dân:
過去久遠 釋迦 文 佛弟子 , 名曰 迦葉 。
Quá khứ cửu viễn Thích Ca Văn Phật đệ tử , danh viết Ca Diệp .
Đệ tử thời Quá khứ xa xưa của Thích Ca Văn Phật tên là Ca Diệp.
今日現在頭陀 苦行 最為第一。是時諸人見是事已歎 未曾有 。
Kim nhật hiện tại Đầu Đà khổ hành tối vi đệ nhất . Thị thời chư nhân kiến thị sự dĩ thán vị tằng hữu .
Ngày nay còn đang sống cần khổ tu hành, là tối đệ nhất. Khi đó mọi người thấy sự việc đó, khen chưa từng có.
無數百千眾生 , 諸塵垢盡得 法眼淨 。
Vô số bách thiên chúng sinh , chư trần cấu tận đắc Pháp Nhãn Tịnh.
Hàng trăm nghìn chúng sinh trừ hết bụi trần, được Pháp Bồ Tát .
或復有眾生見 迦葉 身已。此名為最初之會。
Hoặc phục hữu chúng sinh kiến Ca Diệp thân dĩ , thử danh vi tối sơ chi hội.
Nếu có chúng sinh đã nhìn thấy thân Ca Diệp. Gọi là hội đầu tiên.
九十六億人皆得 阿羅漢 。
Cửu thập lục ức nhân giai đắc A La Hán .
96 triệu người, đều thành A La Hán .
斯等之人皆是我弟子。所以然者。悉由受我訓之所致也。
Tư đẳng chi nhân giai thị Ngã đệ tử . Sở dĩ nhiên giả , tất do thụ Ngã huấn chi sở trí dã .
Những người đó đều là đệ tử của Ta. Sao lại như vậy ? Tất cả đều do nhận giáo huấn của Ta mà đã được chuyển tới.
亦由四事 因緣 惠施仁愛利人等利。爾時 阿難 。
Diệc do Tứ Sự Nhân duyên huệ thí nhân ái lợi nhân đẳng lợi . Nhĩ thời A Nan .
Cũng là do Tứ sự, Nhân duyên, thí ân huệ, nhân ái, lợi người cùng lợi. A Nan .
彌勒 如來 當取 迦葉 僧伽梨 著之。
Di Lặc Như Lai đương thủ Ca Diệp Tăng Già Lê trước chi 。
Di Lặc Như Lai cầm lấy chiếc áo Ca Diệp đang khoác.
是時 迦葉 身體奄然星散。
Thị thời Ca Diệp thân thể yểm nhiên tinh tán .
Khi đó thân thể của Ca diệp hốt nhiên tản ra những đốm sao sáng.
是時 彌勒 復取種種華香供養 迦葉 。所以然者。
Thị thời Di Lặc phục thủ chủng chủng hoa hương cúng dưỡng Ca Diếp . Sở dĩ nhiên giả?
Khi đó Di Lặc cũng lại dùng đủ loại hương hoa cúng dưỡng Ca diệp. Sao lại như thế.
諸 佛世尊 有敬心於 正法 故。 彌勒 亦由我所受正 法化 。
Chư Phật Thế Tôn hữu kính tâm ư Chính Pháp cố . Di Lặc diệc do Ngã sở thụ Chính Pháp hóa .
Các Phật Thế Tôn do có tâm kính với Chính Pháp. Di Lặc cũng do nhận giáo hoá Chính Pháp của Ta.
得成無上正真之道。 阿難 當知。 彌勒 佛第二會時。
Đắc thành Vô Thượng Chính Chân chi Đạo . A Nan ! Đương tri Di Lặc Phật đệ nhị hội thời .
Thành được Đạo Chân Chính Bình Đẳng. A Nan . Nên biết khi khai hội lần hai của Phật Di Lặc .
有九十四億人 , 皆是 阿羅漢 。
Hữu cửu thập tứ ức nhân , giai thị A La Hán .
Có 94 triệu người đều là A la hán.
亦復是我遺教弟子, 行 四事供養 之所致也。
Diệc phục thị Ngã di giáo đệ tử , hành Tứ sự cúng dưỡng chi sở trí dã .
Lại cũng là đệ tử của Ta gửi tặng, đã thực hành Tứ sự cúng dưỡng mà tới.
又 彌勒 第三之會。九十二億人。皆是 阿羅漢 。
Hựu Di Lặc đệ tam chi hội , cửu thập nhị ức nhân , giai thị A La Hán .
Hội thứ ba của Di Lặc có 92 triệu người thành A La Hán .
亦復是我遺教弟子。爾時 比丘 姓號皆名慈氏弟子。
Diệc phục thị Ngã di giáo đệ tử . Nhĩ thời Tì Kheo Tính hiệu giai danh Từ Thị đệ tử .
Cũng là đệ tử của Ta gửi tặng. Thời đó tên họ của Tì Kheo đều là Từ Thị .
如我今日諸 聲聞 皆稱 釋迦 弟子。
Như Ngã kim nhật chư Thanh Văn giai xưng Thích Ca đệ tử .
Giống như Ta ngày nay, tên họ của các Thanh Văn đều mang tên họ Thích ca.
爾時 彌勒 與諸弟子說法。汝等 比丘 ! 當思惟 無常 之想。
Nhĩ thời Di Lặc dữ chư đệ tử thuyết Pháp . Nhữ đẳng Tì Kheo ! Đương tư duy Vô thường chi tưởng .
Khi đó Phật Di Lặc cùng các đệ tử thuyết Pháp. Ngài và các Tì Kheo cần tư duy Vô thường.
樂有苦想。計我 無我 想。實有 空想 。
Lạc hữu khổ tưởng . Kế Ngã Vô Ngã tưởng . Thật hữu không tưởng .
trong vui có khổ, trong tôi không có tôi, trong thực có không.
色變之想。 青瘀之想。膖脹之想。食不消想。膿血想。
Sắc biến chi tưởng , thanh ứ chi tưởng , 膖 phong trướng chi tưởng , thực bất tiêu tưởng, nùng huyết tưởng.
Sắc thân biến đổi xanh xao bầm tím, bụng trướng ăn không tiêu, mụn nhọt máu mủ,
一切世間不可樂想。所以然者。
Nhất thiết thế gian bất khả lạc tưởng . Sở dĩ nhiên giả .
Tất cả mọi sự không thể vui của thế gian, đều là lẽ đương nhiên.
比丘當知。此十想者。皆是過去 釋迦 文佛 與汝等說。
Tì Kheo đương tri thử thập tưởng giả , giai thị quá khứ Thích Ca Văn Phật dữ Nhữ đẳng thuyết.
Tì Kheo cần biết 10 loại tưởng này đều là Quá khứ Thích Ca Văn Phật vì các Ngài thuyết
令得盡有漏心得解脫。
Linh đắc tận Hữu Lậu tâm đắc Giải thoát
làm cho tâm hết phiền não , được Giải thoát.
若此眾中 釋迦 文 佛弟子 , 過去之時修於 梵行 。來至我所。
Nhược thử chúng trung Thích Ca Văn Phật đệ tử , Quá khứ thời tu ư Phạm hạnh, lai chí Ngã sở 。
Nếu trong số đệ tử của Thích Ca Văn Phật trong thời Quá khứ do tu Phạm hành, sẽ tới nơi Ta ở.
或於 釋迦 文佛所奉持其法來至我所。
Hoặc ư Thích Ca Văn Phật sở phụng trì kỳ Pháp, lai chí Ngã sở.
Hoặc do ở nơi Thích Ca Văn Phật được phụng trì Pháp này, sẽ tới nơi Ta ở.
或復於 釋迦 文佛所 , 供養 三寶 。來至我所。
Hoặc phục ư Thích Ca Văn Phật sở , cúng dường Tam Bảo , lai chí Ngã sở .
Hoặc lại do ở nơi Thích Ca Văn Phật được cúng dưỡng Tam Bảo , sẽ tới nơi Ta ở.
或於 釋迦 文佛所。彈指之頃修於善本 , 來至此間。
Hoặc ư Thích Ca Văn Phật sở , đàn chỉ chi khoảnh tu ư thiện bản , lai chí thử gian .
Hoặc do ở nơi Thích Ca Văn Phật được nhanh chóng tu thiện, sẽ tới nơi đây.
或於 釋迦 文佛所 , 行四等心 , 來至此者。
Hoặc ư Thích Ca Văn Phật sở , hành Tứ Đẳng Tâm , lai chí thử giả .
Hoặc do ở nơi Thích Ca Văn Phật được hành Từ Bi Hỉ Xả, sẽ tới nơi đây.
或於 釋迦 文佛所 , 受持 五戒 三自 歸法 , 來至我所。
Hoặc ư Thích Ca Văn Phật sở , thụ trì Ngũ Giới Tam tự quy Pháp , lai chí Ngã sở .
Hoặc do ở nơi Thích Ca Văn Phật được thụ trì 5 Giới, 3 Quy y, sẽ tới nơi Ta ở.
或於 釋迦 文佛所 , 起神寺廟 , 來至我所。
Hoặc ư Thích Ca Văn Phật sở , khởi Thần Tự Miếu, lai chí Ngã sở .
Hoặc do ở nơi Thích Ca Văn Phật được xây dựng Chùa Tháp Miếu, sẽ tới nơi Ta ở.
或於 釋迦 文佛所 , 補治故寺 , 來至我所。
Hoặc ư Thích Ca Văn Phật sở , bổ trị cố Tự , lai chí Ngã sở .
Hoặc do ở nơi Thích Ca Văn Phật được tu bổ chùa cũ, sẽ tới nơi Ta ở.
或於 釋迦 文佛所 , 受八關齋法 , 來至我所。
Hoặc ư Thích Ca Văn Phật sở , thụ Bát quan trai Pháp , lai chí Ngã sở .
Hoặc do ở nơi Thích Ca Văn Phật được nhận giữ Bát trai, sẽ tới nơi Ta ở.
或於 釋迦 文佛所 , 香華供養 , 來至此者。
Hoặc ư Thích Ca Văn Phật sở , hương hoa cúng dưỡng , lai chí thử giả.
Hoặc do ở nơi Thích Ca Văn Phật được cúng dưỡng hương hoa, sẽ tới nơi này.
或復於彼聞法悲泣墮淚 , 來至我所。
Hoặc phục ư bỉ văn Pháp Bi khấp đọa lệ , lai chí ngã sở .
Hoặc lại ở nơi đó nghe Pháp Bi tâm rơi lệ, sẽ tới nơi Ta ở.
或復於 釋迦 文佛所 , 專意聽受法 , 來至我所。
Hoặc phục ư Thích Ca Văn Phật sở , chuyên ý thính thụ Pháp , lai chí Ngã sở.
Hoặc lại do ở nơi Thích Ca Văn Phật được chuyên tâm nghe Pháp, sẽ tới nơi Ta ở.
或復盡形壽善修 梵行 , 來至我所。
Hoặc phục tận hình thọ thiện tu Phạm hạnh , lai chí ngã sở.
Hoặc suốt đời tu Phạm hạnh sẽ tới nơi Ta ở.
或復有書寫讀誦, 來至我所。
Hoặc phục hữu thư tả độc tụng , lai chí ngã sở 。
Hoặc lại có ghi chép đọc tụng sẽ tới nơi Ta ở.
或復承事供養 , 來至我所者。
Hoặc phục thừa sự cúng dưỡng , lai chí Ngã sở giả.
Hoặc làm việc cúng dưỡng sẽ tới nơi Ta ở.
是時 彌勒 便說此偈:
Thị thời Di Lặc tiện thuyết thử kệ :
Khi đó Di Lặc liền thuyết kệ rằng :
增益戒聞德 禪及思惟業
Tăng ích Giới văn Đức , Thiền cập tư duy Nghiệp .
nghe Đức tăng ích Giới , Thiền cùng tư duy Nghiệp .
善修於 梵行 而來至我所
Thiện tu ư Phạm hạnh , nhi lai chí Ngã sở.
Dễ tu trì Phạm hạnh , mà tới nơi Ta ở
勸施發歡心 修行心原本
Khuyến Thí phát hoan tâm , tu hành tâm nguyên bản
Khuyến Thí phát tâm vui, tu hành Tâm ‘Rỗng Lặng’.
意無若干想 皆來至我所
Ý vô nhược can tưởng , giai lai chí Ngã sở
Ý không suy tưởng nhiều, đều tới nơi Ta ở.
或發 平等心 承事於諸佛
Hoặc phát Bình Đẳng tâm , thừa sự ư chư Phật
Hoặc phát tâm Bình Đẳng, cần làm các việc Phật,
飯飴於聖眾 皆來至我所
Phạn di ư Thánh chúng , giai lai chí ngã sở .
Tặng cơm cho các Thánh, đều tới nơi Ta ở.
或誦戒契經 善習與人說
Hoặc tụng Giới Khiết Kinh , thiện tập dữ nhân thuyết.
Hoặc tụng Giới Khiết Kinh,hành thiện vì người thuyết.
熾然於法本 今來至我所
Sí nhiên ư Pháp bản , kim lai chí Ngã sở
Sáng tỏ Pháp ‘Tĩnh Diệt’, nay tới nơi Ta ở.
釋種善能化 供養諸 舍利
Thích chủng thiện năng hóa , cúng dưỡng chư Xá Lợi
Giống Thích dễ giáo hoá, cúng dưỡng các Xá Lợi.
承事 法供養 今來至我所
Thừa sự Pháp cúng dưỡng , kim lai chí Ngã sở
Theo như Pháp cúng dưỡng , nay tới nơi Ta ở.
若有書寫經 班宣於素上
Nhược hữu thư tả Kinh , ban tuyên ư tố thượng
Nếu có viết chép Kinh, ca ngợi sự trong sạch.
其有供養經 皆來至我所
Kỳ hữu cúng dưỡng Kinh , giai lai chí Ngã sở
Người cúng dưỡng Kinh sách, đều tới nơi Ta ở.
繒綵及諸物 供養於神寺
Tăng thải cập chư vật , cúng dưỡng ư Thần Tự
Tăng lụa và các vật, cúng dưỡng nơi Chùa Đình.
自稱 南無佛 皆來至我所
Tự xưng Nam mô Phật , gia lai chí Ngã sở
Tự nói Nam mô Phật , đều tới nơi Ta ở.
供養於現在 諸佛過去者
Cúng dưỡng ư hiện tại , chư Phật Quá khứ giả
Người cúng dưỡng Hiện tại, và các Phật Quá khứ.
禪定正平等 亦無有增減
Thiền Định chính Bình Đẳng , diệc vô hữu tăng giảm
Thiền Định và Bình Đẳng, cũng không có tăng giảm.
是故於 佛法 承事於聖眾
Thị cố ư Phật Pháp , thừa sự ư Thánh chúng
Cố gắng vì Phật Pháp , nhận làm các việc Thánh.
專心事 三寶 必至無為處
Chuyên tâm sự Tam Bảo , tất chí Vô Vi xứ
Chuyên tâm việc Tam Bảo , tất tới xứ Vô Vi.
阿難 ! 當知 彌勒 如來 在彼眾中當說此偈。
A Nan ! Đương tri Di Lặc Như Lai tại bỉ chúng trung đương thuyết thử kệ .
A Nan! Nên hiểu Di Lặc Như Lai ở trong Chúng đây đang thuyết kệ này.
爾時彼眾中諸天人民思惟此十想。
Nhĩ thời bỉ chúng trung chư Thiên Nhân dân tư duy thử thập tưởng .
Trong Chúng lúc đó các Trời Người dân tư duy suy tưởng 10 điều đó.
十一姟人諸塵垢盡得 法眼淨 。
Thập nhất Cai nhân chư trần cấu tận đắc Pháp Nhãn Tịnh .
1,1 tỷ người trừ hết bụi trần được Pháp Bồ Tát .
彌勒 如來 千歲之中, 眾僧無有瑕穢。
Di Lặc Như Lai thiên tuế chi trung , chúng Tăng vô hữu hà uế .
Di Lặc Như Lai 1.000 năm trong Tăng Chúng không có thiếu sót.
爾時恒以一偈以為禁戒。
Nhĩ thời hằng dĩ nhất kệ dĩ vi cấm Giới 。
Thời đó thường dùng một bài kệ để làm Giới cấm.
口意不行惡 身亦無所犯
Khẩu Ý bất hành ác , Thân diệc vô sở phạm .
Khẩu Ý không làm ác, Thân cũng không được phạm.
當除此 三行 速脫生死關
Đương trừ thử tam hành , tốc thoát sanh tử quan
Cần trừ 3 hành đó, nhanh thoát ải Sinh Tử.
過千歲後當有 犯戒 之人遂復立戒。
Quá thiên tuế hậu đương hữu phạm Giới chi nhân toại phục lập Giới .
Sau 1.000 năm có người phạm Giới, lại thoải mái lập lại Giới.
彌勒 如來 當壽八萬四千歲。
Di Lặc Như Lai đương thọ bát vạn tứ thiên tuế .
Di Lặc Như Lai thọ 8 vạn 4 nghìn tuổi.
般涅槃 後遺法當在八萬四千歲。所以然者。
Ban Niết Bàn hậu di Pháp đương tại bát vạn tứ thiên tuế . Sở dĩ nhiên giả.
Sau khi nhập Niết Bàn , giáo Pháp để lại tồn tại 8 vạn 4 nghìn năm. Sao lại như thế ?
爾時眾生皆是利根。其有 善男子 善女人。
Nhĩ thời chúng sinh giai thị lợi Căn . Kỳ hữu Thiện nam tử thiện nữ nhân.
Chúng sinh thời đó đều có Căn tốt, các thiện nam tín nữ đó.
欲得見 彌勒 佛及三會 聲聞 眾及翅頭城。
Dục đắc kiến Di Lặc Phật cập tam hội Thanh Văn chúng cập Sí Đầu thành .
Muốn được thấy Phật Di Lặc và các Thanh Văn 3 hội, thành Sí Đầu.
及見儴佉王并 四大 藏珍寶者 , 欲食自然粳米者。
Cập kiến Tương Khư Vương tinh Tứ đại Tạng trân bảo giả , dục thực tự nhiên canh mễ giả.
Cùng với Tương Khư Vương, tất cả 4 Kho châu báu lớn, muốn ăn cơm do gạo tự nhiên sinh.
并著自然衣裳。身壞命終生 天上 者。
Tinh trước tự nhiên y thường , thân hoại mệnh chung sinh Thiên thượng giả .
Muốn mặc áo quần tự nhiên sinh ra, khi chết thân hoại, sinh lên cõi Trời.
彼 善男子 善女人。當勤加精進無生懈怠。
Bỉ thiện nam tử thiện nữ nhân , đương cần gia Tinh tiến vô sinh giải đãi .
Thiện nam tín nữ đó nên chuyên cần Tinh Tiến, không được lười nhác.
亦當供養承事諸 法師 。名花擣香種種供養。無令有失。
Diệc đương cúng dưỡng thừa sự chư Pháp Sư . Danh hoa đảo hương chủng chủng cúng dưỡng , vô linh hữu thất .
Cũng nên nhận việc cúng dưỡng các Pháp Sư, Hoà hợp hương hoa quý, đủ loại cúng dưỡng, không để thất tán.
如是 阿難 當作是學。
Như thị A Nan đương tác thị học .
A Nan, nên thực hiện học tập như thế.
爾時 阿難 及諸大會。聞佛所說歡喜奉行。
Nhĩ thời A Nan cập chư đại hội văn Phật sở thuyết hoan hỉ phụng hành .
Khi đó A Nan và Đại Chúng trong hội được nghe Phật thuyết vui vẻ phụng hành.
佛說觀 彌勒 下生經
Phật thuyết Quan Di Lặc Hạ Sinh Kinh
Phật thuyết Kinh Quan sát Di Lặc Hạ Sinh .
![]()
TUỆ QUANG 慧光 FOUNDATION http://www.daitangvietnam.com
Nguyên Tánh Trần Tiễn Khanh & Nguyên Hiển Trần Tiễn Huyến
Phật Tử Bùi Đức Huề dịch 11/2008
佛說 彌勒 下生成 佛經 (Taisho No. 455)
Phật thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh .
Phật thuyết Kinh Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật .
唐 三藏 法師 義淨奉制譯
Đường Tam tạng Pháp sư NghĩaTịnh phụng chế dịch
Đường Tam tạng Pháp sư NghĩaTịnh phụng chế dịch
如是我聞。一時 薄伽梵 在 王舍 城 鷲峯 山上 , 與大 苾芻 眾俱。
Như thị Ngã văn . Nhất thời Bạc-Già-Phạm tại Vương-xá thành Thứu-phong sơn thượng , dữ Đại Tất-sô chúng câu.
Tôi nghe như thế. Thời đó Phật tại thành Vương-xá trên đỉnh núi Thứu-phong , cùng với Đại Tất- sô tham gia.
爾時 大智 舍利 子法將中最 , 哀愍世間從座而起。
Nhĩ thời Đại trí Xá-lợi-tử Pháp tướng trung tối , ai mẫn Thế gian tòng tòa nhi khởi.
Lúc đó Thầy Đại trí Xá-lợi-phất trong cảnh Pháp là người cao nhất, thương xót Thế gian rời khỏi chỗ ngồi.
偏袒右肩右膝著地 , 合掌恭敬 , 而白佛言 : 世尊 !
Thiên đản hữu kiên hữu tất trước địa, hợp chưởng cung kính , nhi bạch Phật ngôn : Thế Tôn !
Vai phải áo lệch tất phải che đất, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng: Thế Tôn !
我今欲少諮問 , 願垂聽許 , 佛告 舍利弗 。
Ngã kim dục thiểu tư vấn , nguyện thùy thính hứa . Phật cáo Xá-lợi-phất :
Con nay muốn hỏi chút xíu, xin Phật lắng nghe. Phật bảo Xá-lợi-phất :
隨汝所問我當為說。
Tùy Nhữ sở vấn Ngã đương vị thuyết .
Ngài hỏi tuỳ thích, Ta đang vì Ngài thuyết.
時 舍利 子即以伽他請 世尊 曰。
Thời Xá-lợi-tử tức dĩ già tha thỉnh Thế Tôn viết :
Khi đó Thầy Xá-lợi-phất tức thì dùng kệ hỏi Thế Tôn rằng:
大師 所授記 當來佛下生
Đại sư sở thụ ký đương lai Phật hạ sinh
Được Đại sư Chuyển bậc, sắp tới Phật hạ sinh
彼號為慈氏 如前後經說
Bỉ hiệu vi Từ-thị như tiền hậu Kinh thuyết
Tên hiệu là Từ-thị, trước sau nói trong Kinh
唯願 人中尊 伽陀重分別
Duy nguyện nhân trung tôn già đà trùng phân biệt
Chỉ mong người tôn quý, nhiều lần phân biệt thuyết
彼 神通 威德 我今樂欲聞
Bỉ thần thông uy đức Ngã kim nhạo dục văn
Thần thông uy đức đó, con nay ham muốn nghe
佛告 舍利 子 應至心諦聽
Phật cáo Xá-lợi-tử ưng chí tâm đế thính
Phật bảo Xá-lợi-phất , cần chuyên tâm nghe Tuệ
當來慈氏尊 為汝廣宣說
Đương lai Từ-thị Tôn vị Nhữ quảng tuyên thuyết
Tương lai Di lặc Phật, vì Ngài nói tất cả
爾時大海水 以漸減三千
Nhĩ thời đại hải thủy dĩ tiệm giảm tam thiên
Thời đó nước biển lớn, giảm bớt đi ba nghìn
二百踰繕那 為顯 輪王 路
Nhị bách Du- thiện- na vi hiển Luân Vương lộ
Hai trăm Du- thiện- na (25.600km), hiện rõ đường Luân vương
贍部洲 縱廣 有萬踰繕那
Thiệm- bộ- châu túng quảng hữu vạn Du- thiện- na
Thiệm- bộ- châu rộng chừng, khoảng 80 nghìn cây số
有情住其中 在處皆充滿
Hữu tình trụ kỳ trung tại xứ giai sung mãn
Hữu tình ở trong đó, sống ở khắp các nơi
國土 咸富盛 無罰無災厄
Quốc độ hàm phú thịnh vô phạt vô tai ách
Đất nước giàu thịnh vượng, không phạt không tai ách
彼諸男女等 皆由善業生
Bỉ chư nam nữ đẳng giai do thiện Nghiệp sinh
Các chúng sinh nam nữ, đều do Nghiệp thiện sinh
地無諸棘刺 唯生青軟草
Địa vô chư cức thứ duy sinh thanh nhuyễn thảo
Đất không có cây gai, chỉ sinh cỏ xanh mềm
履踐隨人足 喻若覩羅綿
Lý tiễn tùy nhân túc dụ nhược đổ la miên
Chân người tuỳ dẫm đạp, ví như thấy kéo dập
自然出香稻 美味皆充足
Tự nhiên xuất hương đạo mỹ vị giai sung túc
Tự nhiên phát hương lúa, đều đầy đủ vị tốt
諸樹生衣服 眾綵共莊嚴
Chư thụ sinh y phục chúng thải cộng trang nghiêm
Các cây sinh áo quần, nhiều màu thêm trang nghiêm
樹高三俱舍 花菓常充實
Thụ cao tam Câu- xá hoa quả thường sung thực
Cây đều cao 45km, hoa quả thường sung túc
時彼國中人 皆壽八萬歲
Thời bỉ quốc trung nhân giai thọ bát vạn tuế
Người ở trong nước đó, đều thọ 80 nghìn tuổi
無有諸疾苦 離惱常安樂
Vô hữu chư tật khổ ly não thường an lạc
Không có các đau khổ, an lạc lìa phiền não
具相悉端嚴 色力皆圓滿
Cụ tướng tất đoan nghiêm sắc lực giai viên mãn
Các tướng đều trang nghiêm, sắc lực đều đầy đủ
人患有 三種 食衰老便利
Nhân hoạn hữu tam chủng thực suy lão tiện lợi
Người có 3 hoạn nạn, ăn già yếu tiện lợi
女年五百歲 方乃作婚姻
Nữ niên ngũ bách tuế phương nãi tác hôn nhân
Nữ ở độ 500 tuổi, mới tác thành đôi lứa
諸有欲便利 地裂而容受
Chư hữu dục tiện lợi địa liệt nhi dung thụ
Muốn đi đại tiểu tiện, đất tách ra thu nhận
人命將終盡 自往詣屍林
Nhân mệnh tương chung tận tự vãng nghệ thi lâm
Người thọ mệnh sắp hết, tự đi tới rừng chết
城名妙幢相 輪王 之所都
Thành danh Diệu-tràng-tướng Luân Vương chi sở đô
Thành tên Diệu tràng tướng, thủ đô của Luân vương
縱十二 由旬 廣七由旬量
Túng thập nhị Do-tuần quảng thất Do-tuần lượng
Dài khoảng chừng 240 km, rộng ước khoảng 140 km
其中所居者 皆曾植妙因
Kỳ trung sở cư giả giai tằng thực diệu nhân
Người sống trong thành đó, từng trồng nhân vi diệu
此城有勝德 住者咸歡喜
Thử thành hữu thắng đức trú giả hàm hoan hỉ
Thành đó có đức lớn, người ở đều vui mừng
樓臺并却敵 七寶 之所成
Lâu đài tịnh khước địch thất bảo chi sở thành
Lầu đài đều như nhau, do bảy báu hợp thành
關鑰及門庭 種種寶嚴飾
Quan thược cập môn đình chủng chủng bảo nghiêm sức
Nhà cửa và khoá cửa, trang sức nhiều vật quý
繞堞諸隍塹 皆營以妙珍
Nhiễu điệp chư hoàng tiệm giai doanh dĩ diệu trân
Hào sâu bao quanh thành, dùng vật quý xây dựng
名花悉充滿 好鳥皆翔集
Danh hoa tất sung mãn hảo điểu giai tường tập
Hoa quý cũng rất nhiều, chim quý đều tụ tập
七行 多羅樹 周匝而圍遶
Thất hàng Đa-la thụ châu táp nhi vi nhiễu
Bảy hàng cây Đa-la, bao bọc vây xung quanh
眾寶以莊嚴 皆懸網鈴鐸
Chúng bảo dĩ trang nghiêm giai huyền võng linh đạc
Dùng vật quý trang nghiêm, linh mõ treo trên lưới
微風吹寶樹 演出眾妙聲
Vi phong xuy bảo thụ diễn xuất chúng diệu thanh
Gió nhẹ thổi cây báu, phát ra các diệu thanh
猶如奏 八音 聞者生歡喜
Do như tấu bát âm văn giả sinh hoan hỉ
Như là tấu Bát âm, người nghe sinh vui mừng
處處有池沼 彌覆雜色花
Xứ xứ hữu trì chiểu di phúc tạp sắc hoa
Khắp nơi có ao đầm, hoa nhiều màu che phủ
園苑擢芳林 莊嚴此城郭
Viên uyển trạc phương lâm trang nghiêm thử thành quách
Vườn rừng toàn cỏ thơm, thành quách đó trang nghiêm
國中有聖主 其名曰餉佉
Quốc trung hữu Thánh chủ kỳ danh viết Hướng-khư
Trong nước có Thánh chúa, tên hiệu là Hướng-khư
金輪王 四洲 富盛多威力
Kim luân Vương tứ châu phú thịnh đa uy lực
Tứ châu đệ nhất Thánh, thịnh vượng nhiều uy lực
其王福德業 勇健兼四兵
Kỳ Vương Phúc đức Nghiệp dũng kiện kiêm tứ binh
Nghiệp Phúc đức của vương, khoẻ mạnh thêm 4 binh
七寶 皆成就 千子悉具足
Thất bảo giai thành tựu thiên Tử tất cụ túc
Do 7 báu tạo thành, con cái có cả nghìn
四海咸清肅 無有戰兵戈
Tứ hải hàm thanh túc vô hữu chiến binh qua
Bốn biển đều bình yên, không có nạn đao binh
正法 理群生 設化皆平等
Chính Pháp lý quần sinh thiết hóa giai bình đẳng
Chính Pháp quản chúng sinh, tất cả đều bình đẳng
王有 四大 藏 各在諸國中
Vương hữu tứ đại tạng các tại chư quốc trung
Vương có 4 kho báu, đều ở tại các nước
一一藏皆有 珍寶百萬億
Nhất nhất tạng giai hữu trân bảo bách vạn ức
Mỗi kho báu đều có, trăm vạn triệu châu quý
羯陵伽 國內 藏名氷竭羅
Yết-lăng-già quốc nội tạng danh Băng- kiệt- la
Trong nước Yết-lăng-già, có kho Băng-kiệt-la
蜜絺羅國中 般逐迦大藏
Mật-hi-la quốc trung Bát-trục-ca đại tạng
Trong nước Mật-hi-la, kho lớn Bát-trục-ca
伊羅 鉢羅 藏 安處揵陀國
Y-la bát-la tạng an xứ Kiền-đà quốc
Kho Y-la bát-la, ở tại nước Kiền- đà
婆羅痆斯境 藏名為餉佉
Bà-la-nhiếp tư cảnh tạng danh vi Hướng-khư
Ở nơi Bà-la-nhiếp, kho tên là Hướng-khư
此諸四伏藏 咸屬餉佉王
Thử chư tứ phục tạng hàm thuộc Hướng- khư Vương
Cả 4 kho ngầm đó, đều thuộc vua Hướng-khư
百福之所資 果報 咸成就
Bách phúc chi sở tư quả báo hàm thành tựu
Trăm phúc và tư chất, đều do quả báo thành
輔國之大臣 婆羅門 善淨
Phụ quốc chi Đại thần Bà-la-môn thiện tịnh
Phụ quốc và Đại thần, Bà-la-môn Thanh tịnh
四明皆曉達 多聞為國師
Tứ minh giai hiểu đạt đa văn vi Quốc Sư
Tứ minh đều thông tỏ, nghe nhiều làm quốc sư
博通諸雜論 善教有聞持
Bác thông chư tạp luận thiện giáo hữu văn trì
Tinh thông Pháp nhỏ lẻ, nghe nhớ được điều thiện
訓解及聲明 莫不咸究了
Huấn giải cập thanh minh mạc bất hàm cứu liễu
Giảng giải cùng nghe hiểu, không đạt tới tận cùng
有女名淨妙 為大臣夫人
Hữu nữ danh Tịnh- diệu vi Đại thần phu nhân
Có bà tên Tịnh- diệu, là phu nhân Đại thần
名稱相端嚴 見者皆歡悅
Danh xưng tướng đoan nghiêm kiến giả giai hoan duyệt
Mệnh danh người đoan nghiêm, người nhìn đều vui mến
大丈夫 慈氏 辭於喜足天
Đại trượng phu Từ-thị từ ư hỉ túc Thiên
Đại trượng phu Từ-thị, từ biệt vui cõi Trời
來託彼夫人 作後身生處
Lai thác bỉ phu nhân tác hậu thân sinh xứ
Thác sinh vào phu nhân, hoàn tất nơi hậu sinh
既懷此 大聖 滿足於十月
Ký hoài thử Đại Thánh mãn túc ư thập nguyệt
Đã mang thai Đại Thánh, đầy đủ trong 10 tháng
於是慈尊母 往趣妙花園
Ư thị Từ tôn mẫu vãng thú diệu hoa viên
Khi mẹ của Từ-thị, tới thăm vườn hoa quý
至彼妙園中 不坐亦不臥
Chí bỉ diệu viên trung bất tọa diệc bất ngọa
Tới nơi vườn đẹp đó, không ngồi cũng không nằm
徐立攀花樹 俄誕勝慈尊
Từ lập phàn hoa thụ nga đản thắng Từ tôn
Đứng níu lấy cây hoa, thoắt sinh ra Từ-thị
爾時 最勝尊 出母右脇已
Nhĩ thời tối thắng Tôn xuất mẫu hữu hiếp dĩ
Khi đó Từ-thị Tôn, sinh ra từ sườn phải
如日出雲翳 普放大光明
Như Nhật xuất vân ế phổ phóng đại quang minh
Như Trời thoát bóng mây, quang minh lớn chiếu khắp
不染觸胞胎 如 蓮花 出水
Bất nhiễm xúc bào thai như Liên hoa xuất thủy
Không xúc nhiễm bào thai, như hoa Sen vượt nước
光流三界內 咸仰大慈輝
Quang lưu Tam-giới nội hàm ngưỡng Đại Từ huy
Quang chiếu khắp Tam-giới, đều kính ngưỡng Từ tôn
當爾降生時 千眼 帝釋 主
Đương nhĩ giáng sinh thời Thiên nhãn Đế Thích chủ
Đang lúc Ngài giáng sinh, Ngọc hoàng có nghìn mắt
躬自擎 菩薩 欣逢 兩足尊
Cung tự kình Bồ-tát hân phùng lưỡng túc Tôn
Tự thân rước Bồ-tát , vui mừng gặp Thế Tôn
菩薩 於此時 自然行七步
Bồ-tát ư thử thời tự nhiên hành thất bộ
Khi đó Từ-thị Tôn, tự nhiên đi 7 bước
而於足履處 皆出寶 蓮花
Nhi ư túc lý xứ giai xuất bảo Liên hoa
Nơi dưới chân Bồ-tát , đều sinh hoa Sen báu
遍觀於 十方 告諸天人眾
Biến quán ư thập phương cáo chư Thiên Nhân chúng
Nhìn khắp cả mười phương, bảo các Trời Người rằng
我此身最後 無生證 涅槃
Ngã thử thân tối hậu Vô- sinh chứng Niết- bàn
Thân cuối của Ta đây, không sinh chứng Niết-bàn
龍降清涼水 澡沐 大悲 身
Long giáng thanh lương thủy táo mộc Đại Bi thân
Rồng phun nước sạch mát, tắm rửa thân Đại Bi
天散殊妙花 虛空遍飄灑
Thiên tán thù diệu hoa hư không biến phiêu sái
Trời rắc hoa kỳ diệu, bay rơi khắp hư không
諸天持白蓋 掩庇 大慈尊
Chư Thiên trì bạch cái yểm tí Đại Từ Tôn
Trời cầm vành hoa trắng, che lên Đại Từ tôn
各生希有心 守護於 菩薩
Các sinh hi hữu tâm thủ hộ ư Bồ-tát
Họ sinh tâm hiếm có, bảo vệ cho Bồ-tát
褓母擎 菩薩 三十二相身
Bảo mẫu kình Bồ-tát tam thập nhị tướng thân
Bà đỡ nâng Bồ-tát , thân Phật đủ 32 tướng
具足諸光明 捧持來授母
Cụ túc chư quang minh phủng trì lai thụ mẫu
Đầy đủ các quang minh, nâng lên truyền sang mẹ
御者進雕輦 皆用寶莊嚴
Ngự giả tiến điêu liễn giai dụng bảo trang nghiêm
Người hầu mang xe tới, xe 7 báu trang nghiêm
母子昇其中 諸天共持輿
Mẫu Tử thăng kỳ trung chư Thiên cộng trì dư
Mẹ con ngồi trong đó, Trời cùng nhau giữ xe
千種妙音樂 引導而還宮
Thiên chủng diệu âm nhạc dẫn đạo nhi hoàn cung
Nghìn loại nhạc kỳ diệu, dẫn đường trở về cung
慈氏入都城 天花如雨落
Từ-thị nhập đô thành Thiên hoa như vũ lạc
Từ-thị về đô thành, hoa Trời như mưa rơi
慈尊誕降日 懷妊諸婇女
Từ Tôn đản giáng nhật hoài nhâm chư cung nữ
Ngày Từ-thị giáng sinh, những cung nữ mang thai
普得身安穩 皆生智慧男
Phổ đắc thân an ổn giai sinh Trí tuệ nam
Thân họ đều an ổn, đều sinh nam Trí tuệ
善淨慈尊父 覩子奇妙容
Thiện tịnh Từ Tôn phụ đổ Tử kì diệu dung
Cha của Từ-thị Tôn, thấy con tướng kỳ diệu
具三十二相 心生大歡喜
Cụ tam thập nhị tướng tâm sinh đại hoan hỉ
Đủ 32 tướng quý, tâm thực sự vui mừng
父依占察法 知子有二相
Phụ y chiêm sát Pháp tri Tử hữu nhị tướng
Cha theo tướng xem xét, biết Con có hai đường
處俗作 輪王 出家成 正覺
Xử tục tác Luân Vương xuất gia thành Chính- giác
Sống tục làm Luân vương, xuất gia thành Chính- giác
菩薩 既成立 慈愍諸群生
Bồ-tát ký thành lập Từ mẫn chư quần sinh
Đã được quả Bồ-tát , Từ Bi thương chúng sinh
眾苦險難中 輪迴 常不息
Chúng khổ hiểm nạn trung Luân-hồi thường bất tức
Trong các tai nạn khổ, Luân hồi không ngừng nghỉ
金 色光明 朗 聲如大 梵音
Kim sắc quang minh lãng thanh như Đại Phạn âm
Trong ánh quang sắc vàng, giọng như âm Đại Phạn
目等青蓮葉 支體悉圓滿
Mục đẳng thanh Liên diệp chi thể tất viên mãn
Mắt tựa lá Sen xanh, tay thân đều hoàn hảo
身長八十肘 二十肘肩量
Thân trường bát thập trửu nhị thập trửu kiên lượng
Thân cao khoảng 2,7m (thân lúc mới sinh), vai rộng khoảng 0,7m
面廣肩量半 滿月相端嚴
Diện quảng kiên lượng bán mãn nguyệt tướng đoan nghiêm
Mặt rộng bằng nửa vai, đoan nghiêm như mặt Trăng
菩薩 明眾藝 善教受學者
Bồ-tát minh chúng nghệ thiện giáo thụ học giả
Thông tỏ các nghề thiện, hay dạy người muốn học
請業童蒙等 八萬四千人
Thỉnh nghiệp đồng mông đẳng bát vạn tứ thiên nhân
Mời các bạn cùng nghiệp, số lượng 84 nghìn người
時彼餉佉王 建立 七寶 幢
Thời bỉ Hướng- khư Vương kiến lập Thất bảo Tràng
Thời đó Vua Hướng- khư, kiến thiết trướng bảy báu
幢高七十尋 廣有尋六十
Tràng cao thất thập tầm quảng hữu tầm lục thập
Trướng cao khoảng 190 m, rộng ước chừng 160 m
寶幢造成已 王發 大捨 心
Bảo tràng tạo thành dĩ Vương phát Đại xả tâm
Khi làm xong trướng báu, vua phát tâm “Thí” lớn
施與 婆羅門 等設無遮會
Thí dữ Bà-la-môn đẳng thiết Vô-già hội
Bố thí Bà-La-môn, thiết chế hội Vô-già
其時諸 梵志 數有一千人
Kỳ thời chư Phạm-chí số hữu nhất thiên nhân
Thời đó các Phạm-chí , số lượng có nghìn người
得此妙寶幢 毀坼須臾頃
Đắc thử diệu bảo tràng hủy sách tu du khoảnh
Được trướng diệu quý đó, bài bác báng bổ nhau
菩薩 覩斯已 念世俗皆然
Bồ-tát đổ tư dĩ niệm thế tục giai nhiên
Bồ-tát đã thấy rõ, nghĩ là việc đời thường
生死苦羈籠 思求於出離
Sinh tử khổ ky lung tư cầu ư xuất ly
Sinh chết khổ trói buộc, suy nghĩ cầu dứt bỏ
祈誠寂滅道 棄俗而出家
Kì thành ‘tịch diệt đạo’ khí tục nhi xuất gia
Muốn cầu ‘Đạo tĩnh diệt’, bỏ tục và xuất gia
生老病死中 救之令得出
Sinh lão bệnh tử trung cứu chi linh đắc xuất
Trong sinh lão bệnh tử, cứu và giúp thoát ly
慈尊興願曰 八萬四千人
Từ Tôn hưng nguyện viết bát vạn tứ thiên nhân
Từ tôn phát nguyện rằng, tám mươi tư nghìn người
俱生厭離心 並隨修 梵行
Câu sinh yếm ly tâm tịnh tùy tu Phạm hành
Tâm đều sinh chán bỏ, đều theo tu Phạm hành
於 初發心 夜 捨俗而出家
Ư sơ phát tâm dạ xả tục nhi xuất gia
Ở đầu đêm phátTâm, bỏ tục và xuất gia
還於此夜中 而昇等覺地
Hoàn ư thử dạ trung nhi thăng Đẳng-giác địa
Trong đêm đó trở về, tới cảnh Đẳng- Chính-giác
時有 菩提樹 號名曰龍花
Thời hữu Bồ-đề thụ hiệu danh viết Long- hoa
Có một cây Bồ-đề , tên gọi là Long-hoa
高四踰繕那 蓊欝而榮茂
Cao tứ Du-thiện-na ống uất nhi vinh mậu
Cao ba mươi hai km, xum xuê và tươi tốt
枝條覆四面 蔭六俱盧舍
Chi điều phúc tứ diện âm lục Câu-lô-xá
Cành nhánh vươn bốn bề, bóng rộng khoảng 90 km
慈氏 大悲 尊 於下成 正覺
Từ-thị Đại Bi Tôn ư hạ thành Chính-giác
Từ-thị Đại Bi tôn, ở đó thành Chính-giác
於 人中尊 勝 具八 梵音 聲
Ư nhân trung Tôn thắng cụ bát Phạn-âm thanh
Trong số người tôn quý, đủ 8 loại Phạn âm
說 法度 眾生 令離諸 煩惱
Thuyết Pháp độ chúng sinh linh ly chư phiền não
Thuyết Pháp cứu chúng sinh, giúp trừ các phiền não
苦及苦生處 一切皆除滅
Khổ cập khổ sinh xứ nhất thiết giai trừ diệt
Khổ và nơi sinh khổ, tất cả đều trừ diệt
能修 八正道 登彼 涅槃 岸
Năng tu Bát Chính-đạo đăng bỉ Niết-bàn ngạn
Năng tu Bát Chính-đạo, tới được cõi Niết-bàn
為諸清信者 說此四真諦
Vị chư thanh tín giả thuyết thử Tứ chân đế
Vì những người thanh tín, thuyết chân thực Tứ đế
得聞此如法 至誠而奉持
Đắc văn thử như Pháp chí thành nhi phụng trì
Được nghe diệu Pháp này, thành tâm và phụng trì
於妙花園中 諸眾如雲集
Ư diệu hoa viên trung chư chúng như vân tập
Ở trong vườn hoa quý, chúng sinh tụ thành đoàn
滿百 由旬 內 眷屬皆充滿
Mãn bách Do-tuần nội quyến thuộc giai sung mãn
Kín cả hai nghìn km, đầy đủ cả quyến thuộc
彼 輪王 餉佉 聞深妙法已
Bỉ Luân Vương Hướng- khư văn thâm diệu Pháp dĩ
Luân vương Hướng- khư đó, nghe xong Pháp thâm diệu
罄捨諸珍寶 祈心慕出家
Khánh xả chư trân bảo kì tâm mộ xuất gia
Bỏ hết các trân bảo, kính mộ xin xuất gia
不戀上宮闈 至求於出離
Bất luyến thượng cung vi chí cầu ư xuất ly
Không luyến tiếc hậu cung, tới xin được ly rời
八萬四千眾 咸隨而出家
Bát vạn tứ thiên chúng hàm tùy nhi xuất gia
Tám vạn bốn nghìn người, đều xin theo xuất gia
復八萬四千 婆羅門 童子
Phục bát vạn tứ thiên Bà-la-môn Đồng tử
Lại có 84 nghìn người, trẻ em Bà-La-môn
聞王捨塵俗 亦來求出家
Văn Vương xả trần tục diệc lai cầu xuất gia
Nghe vua bỏ trần tục, cũng tới xin xuất gia
主藏臣長者 其名曰 善財
Chủ tạng thần Trưởng-giả kỳ danh viết Thiện- tài
Trưởng- giả coi kho chính, tên hiệu là Thiện- tài
并與千眷屬 亦來求出家
Tịnh dữ thiên quyến thuộc diệc lai cầu xuất gia
Cùng với nghìn thân thuộc, cũng tới xin xuất gia
寶女 毘舍佉 及餘諸從者
Bảo nữ Tì-xá-khư cập dư chư tòng giả
Con gái Tì-xá-khư, cùng các tuỳ tùng khác
八萬四千眾 亦來求出家
Bát vạn tứ thiên chúng diệc lai cầu xuất gia
8 vạn 4 nghìn người, cũng tới xin xuất gia
復過百千數 善男善女等
Phục quá bách thiên số thiện nam thiện nữ đẳng
Lại có trên trăm nghìn, các thiện nam tín nữ
聞佛宣妙法 亦來求出家
Văn Phật tuyên diệu Pháp diệc lai cầu xuất gia
Nghe Phật thuyết diệu Pháp, cũng tới xin xuất gia
天上 天人尊 大慈悲聖主
Thiên thượng Thiên nhân tôn Đại Từ Bi Thánh chủ
Người tôn quý trên Trời , Đại Từ Bi Thánh chủ
普觀眾心已 而演出要法
Phổ quan chúng tâm dĩ nhi diễn xuất yếu Pháp
Xem hết tâm chúng sinh, diễn thuyết Pháp trọng yếu
告眾汝應知 慈悲 釋迦 主
Cáo chúng Nhữ ứng tri Từ Bi Thích Ca chủ
Bảo các người cần biết, giáo chủ Thích Từ Bi
教汝修正道 來生我法中
Giáo Nhữ tu Chính-đạo lai sinh Ngã Pháp trung
Dạy Ngài tu Chính-đạo, tới sinh trong Pháp Ta
或以香花鬘 幢幡蓋嚴飾
Hoặc dĩ hương hoa man tràng phan cái nghiêm sức
Hoặc dùng hương hoa Man, nghiêm sức tràng phan cái
供養 牟尼 主 來生我法中
Cúng dưỡng Mâu Ni chủ lai sinh Ngã Pháp trung
Cúng dưỡng giáo chủ Thích, tới sinh trong Pháp Ta
或欝金沈水 香泥用塗拭
Hoặc uất kim trầm thủy hương nê dụng đồ thức
Hoặc Uất kim nhựa trầm, nước hoa dùng thoa bôi
供養 牟尼 塔 來生我法中
Cúng dường Mâu Ni Tháp lai sinh Ngã Pháp trung
Cúng dưỡng Tháp Phật đà, tới sinh trong Pháp Ta
或歸 佛法僧 恭敬常親近
Hoặc quy Phật Pháp Tăng cung kính thường thân cận
Hoặc quy y Tam-bảo, thường cung kính thân cận
當修諸善行 來生我法中
Đương tu chư thiện hành lai sinh Ngã Pháp trung
Đang tu các hành thiện, tới sinh trong Pháp Ta
或於 佛法 中 受持諸學處
Hoặc ư Phật Pháp trung thụ trì chư học xứ
Hoặc ở trong Pháp Phật, ghi nhớ các môn học
善護無缺犯 來生我法中
Thiện hộ vô khuyết phạm lai sinh Ngã Pháp trung
Giữ gìn không khuyết phạm, tới sinh trong Pháp Ta
或於四方僧 施衣服飲食
Hoặc ư tứ phương Tăng thí y phục ẩm thực
Hoặc trong tứ phương Tăng, thí y phục thực phẩm
並奉妙醫藥 來生我法中
Tịnh phụng diệu y dược lai sinh Ngã Pháp trung
Cúng hiến các thuốc bệnh, tới sinh trong Pháp Ta
或於四齋辰 及在 神通月
Hoặc ư tứ trai thần cập tại Thần thông nguyệt
Hoặc 4 ngày Trai giới, với bản lĩnh trong tháng
受持 八支 戒 來生我法中
Thu trì bát chi Giới lai sinh Ngã Pháp trung
Thụ trì 8 Giới Trai, tới sinh trong Pháp Ta
或以 三種 通 神境記教授
Hoặc dĩ T am chủ ng Thông Thần cảnh ký giáo thụ
Hoặc dùng 3 Thần thông, cảnh Thần nhận Chuyển bậc
化道 聲聞 眾 咸令煩惑除
Hóa Đạo Thanh-văn chúng hàm linh phiền hoặc trừ
Dạy bảo các Thanh-văn , giúp trừ phiền nghi hoặc
初會為說法 廣度諸 聲聞
Sơ hội vi thuyết Pháp quảng độ chư Thanh-văn
Đầu hội Pháp được thuyết, độ hết các Thanh-văn
九十六億人 令出 煩惱障
Cửu thập lục ức nhân linh xuất phiền não chướng
Chín mươi sáu triệu người, thoát trừ hết phiền não
第二會說法 廣度諸 聲聞
Đệ nhị hội thuyết Pháp quảng độ chư Thanh-văn
Pháp được thuyết lần hai, độ hết các Thanh-văn
九十四億人 令渡無明海
Cửu thập tứ ức nhân linh độ Vô-minh hải
Chín mươi bốn triệu người, thoát khỏi biển u tối
第三會說法 廣度諸 聲聞
Đệ tam hội thuyết Pháp quảng độ chư Thanh-văn
Pháp được thuyết lần ba, độ hết các Thanh-văn
九十二億人 令心善調伏
Cửu thập nhị ức nhân linh tâm thiện điều phục
Chín mươi hai triệu người, điều phục thành tâm thiện
三轉 法輪 已 人天普純淨
Tam chuyển Pháp luân dĩ nhân thiên phổ thuần Tịnh
Sau 3 lần thuyết Pháp, Trời Người đều thuần Tịnh
將諸弟子眾 乞食入城中
Tương chư đệ-tử chúng khất thực nhập thành trung
Cùng với các đệ tử, vào trong thành xin cơm
既入妙幢城 衢巷皆嚴飾
Ký nhập Diệu-tràng thành cù hạng giai nghiêm sức
Đã vào thành Diệu-tràng, phố xá đều nghiêm sức
為供養佛故 天雨曼陀花
Vị cúng dưỡng Phật cố Thiên vú Man-đà hoa
Do vì cúng dưỡng Phật, Trời rắc hoa Man-đà
四王及 梵王 並餘諸 天眾
Tứ Vương cập Phạm Vương tịnh dư chư Thiên Chúng
4 Thiên vương Phạm vương, tất cả người Trời khác
香花鬘供養 輔翼 大悲 尊
Hương hoa Man cúng dưỡng phụ dực Đại Bi Tôn
Cúng dưỡng hương hoa Man, phụ trợ Đại Từ tôn
大威德 諸天 散以妙衣服
Đại uy đức chư Thiên tán dĩ diệu y phục
Đại uy đức cõi Trời, rải y phục quý đẹp
繽紛遍城邑 瞻仰 大醫王
Tân phân biến thành ấp chiêm ngưỡng Đại y vương
Rơi xuống khắp thành ấp, chiêm ngưỡng đại Y vương (Phật)
以妙寶香花 散灑諸衢街
Dĩ diệu bảo hương hoa tán sái chư cù nhai
Dùng hương hoa vật quý, rắc vãi khắp phố phường
履踐於其上 喻若覩羅綿
Lý tiễn ư kỳ thượng dụ nhược đổ La miên
Dẫm đạp lên trên chúng, ví như thấy lưới lụa
音樂及幢幡 夾路而行列
Âm nhạc cập tràng phan giáp lộ nhi hàng liệt
Âm nhạc và tràng phan, đường nhỏ nhiều la liệt
人 天帝釋 眾 稱讚 大慈尊
Nhân Thiên Đế thích chúng xưng tán Đại Từ tôn
Người Trời và Ngọc hoàng, ca ngợi Đại Từ tôn
南謨 天上 尊 南謨士中勝
Nam mô Thiên Thượng tôn Nam mô Sĩ trung thắng
Nam mô Thiên thượng tôn (tôn quý nhất trên Trời), nam mô Vô Thượng sĩ
善哉 薄伽梵 能哀愍世間
Thiện tai Bạc Già Phạm năng ai mẫn Thế gian
Thiện nhất Phật Thế Tôn , năng xót thương Thế gian
有 大威德 天 當作 魔王 眾
Hữu đại uy đức Thiên đương tác Ma Vương chúng
Uy đức lớn cõi Trời, đang làm các Ma vương
歸心合掌禮 讚仰於 導師
Quy tâm hợp chưởng lễ tán ngưỡng ư Đạo sư
Quy tâm chắp tay lễ, ngưỡng mộ khen Đạo sư
梵王 諸 天眾 眷屬而圍遶
Phạm-vương chư Thiên Chúng quyến thuộc nhi vi nhiễu
Phạm vương các người Trời, quyến thuộc đều vây quanh
各以 梵音 聲 闡揚微妙法
Các dĩ Phạn-âm thanh xiển dương vi diệu Pháp
Từng người dùng Phạn âm, tuyên mở Pháp vi diệu
於此世界中 多是 阿羅漢
Ư thử Thế giới trung đa thị A-la-hán
Ở trong Thế giới đó, đều là A-la-hán
蠲除有漏業 永離 煩惱 苦
Quyên trừ hữu lậu nghiệp vĩnh ly phiền não khổ
Trừ bỏ nghiệp còn dư, vĩnh ly khổ phiền não
人天龍神等 乾闥阿修羅
Nhân Thiên Long Thần đẳng Kiền-thát A-tu-la
Trời Người Thần và Rồng, Kiền-thát A-tu-la
羅剎 及藥叉 皆歡喜供養
La-sát cập Dược-xoa giai hoan hỉ cúng dưỡng
La-sát và Dạ-xoa , đều vui mừng cúng dưỡng
彼時諸大眾 斷障除 疑惑
Bỉ thời chư Đại chúng đoạn chướng trừ nghi hoặc
Chúng sinh trong thời đó, hết chướng ngại nghi hoặc
超越生死流 善修清淨行
Siêu việt sinh tử lưu thiện tu Thanh tịnh hạnh
Thoát khỏi dòng sinh tử, dễ tu hành Thanh tịnh
彼時諸大眾 離著棄珍財
Bỉ thời chư Đại chúng ly trước khí trân tài
Chúng sinh trong thời đó, ly chấp bỏ tài vật
無我 我所心 善修清淨行
Vô Ngã Ngã sở tâm thiện tu Thanh tịnh hạnh
Không có tôi của tôi, dễ tu hạnh Thanh tịnh
彼時諸大眾 毀破貪愛網
Bỉ thời chư Đại chúng hủy phá tham ái võng
Các chúng sinh thời đó, phá hủy lưới tham ái
圓滿靜慮心 善修清淨行
Viên mãn tĩnh lự tâm thiện tu Thanh tịnh hạnh
Đầy đủ tâm Tĩnh lặng, dễ tu hạnh Thanh tịnh
慈氏天人尊 哀愍有情類
Từ-thị Thiên Nhân tôn ai mẫn Hữu tình loại
Người Trời quý Từ-thị, xót thương chúng Hữu tình
期於六萬歲 說 法度 眾生
Kỳ ư lục vạn tuế thuyết Pháp độ chúng sinh
Thời gian 6 vạn năm, thuyết Pháp cứu chúng sinh
化滿百千億 令度 煩惱海
Hóa mãn bách thiên ức linh độ phiền não hải
Dạy cả trăm nghìn triệu, giúp thoát biển phiền não
有緣皆拯濟 方入 涅槃城
Hữu duyên giai chửng tế phương nhập Niết-bàn thành
Cứu giúp hết Hữu duyên, nhập Niết-bàn là thành
慈氏 大悲 尊 入 般涅槃 後
Từ-thị Đại Bi tôn nhập ban Niết-bàn hậu
Đại Bi Từ-thị Phật, sau khi nhập Niết-bàn
正 法住 於世 亦滿六萬年
Chính Pháp trụ ư thế diệc mãn lục vạn niên
Chính Pháp sống ở đời, cũng đủ 6 vạn năm
若於我法中 深心能信受
Nhược ư Ngã Pháp trung thâm tâm năng tín thụ
Nếu trong Pháp của Ta, kiên tâm năng tin nhận
當來下生日 必奉 大悲 尊
Đương lai hạ sinh nhật tất phụng Đại Bi tôn
Sắp tới ngày hạ sinh, tất theo Từ-thị Tôn
若有聰慧者 聞說如是事
Nhược hữu thông tuệ giả văn thuyết như thị sự
Nếu có người thông tuệ, nghe nói việc như thế
誰不起欣樂 願逢慈氏尊
Thùy bất khởi hân lạc nguyện phùng Từ-thị Tôn
Ai không khởi vui mừng, muốn gặp Từ-thị Tôn
若求解脫人 希遇龍花會
Nhược cầu Giải thoát nhân hi ngộ Long-hoa hội
Nếu người cầu Giải thoát, mong gặp hội Long-hoa
常供養 三寶 當勤莫放逸
Thường cúng dưỡng Tam-bảo đương cần mạc phóng dật
Thường cúng dưỡng Tam-bảo, nên cần bỏ phóng đãng
爾時 世尊 為 舍利 子及諸大眾。
Nhĩ thời Thế Tôn vị Xá-lợi-tử cập chư Đại chúng.
Lúc đó Thế Tôn vì Xá-lợi-phất và tất cả đại chúng
記說當來慈氏事已。復告 舍利 子。若有 善男子 善女人, 聞此法已。
Ký thuyết đương lai Từ-thị sự dĩ. Phục cáo Xá-lợi-tử. Nhược hữu Thiện nam tử thiện nữ nhân .
Nói xong việc Tương lai của Từ-thị. Lại bảo Xá-lợi-phất . Nếu có thiện nam tín nữ nghe xong Pháp này.
受持讀誦為他演說如說修行。
Thụ trì đọc tụng vị tha diễn thuyết như thuyết tu hành.
Ghi nhớ đọc tụng vì người khác diễn thuyết theo thuyết tu hành.
香花供養書寫經卷。是諸人等當來之世 ,
Hương hoa cúng dưỡng thư tả Kinh quyển. Thị chư nhân đẳng đương lai chi thế ,
Cúng dưỡng hương hoa biên chép sách Kinh. Những người đó ở đời Tương lai,
必得值遇慈氏下生。於三會中咸蒙救度。
tất đắc trực ngộ Từ-thị hạ sinh . Ư tam hội trung hàm mông cứu độ.
tất được trực tiếp gặp Từ-thị hạ sinh. Ở trong 3 hội đều được cứu độ.
爾時 世尊 說此頌已。 舍利 子及諸大眾 , 歡喜信受頂戴奉行。
Nhĩ thời Thế Tôn thuyết thử tụng dĩ . Xá-lợi-tử cập chư Đại chúng , hoan hỉ tín thụ đỉnh đới phụng hành.
Khi Thế Tôn thuyết xong bài tụng đó. Xá-lợi-phất và tất cả chúng sinh vui mừng tin nhận lễ Phật phụng hành.
佛說 彌勒 下生成 佛經
Phật thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh .
Phật thuyết Kinh Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật.
![]()
TUỆ QUANG 慧光 FOUNDATION http://www.daitangvietnam.com
Nguyên Tánh Trần Tiễn Khanh & Nguyên Hiển Trần Tiễn Huyến
Phật Tử Bùi Đức Huề dịch 11/2008
佛說 彌勒 成 佛經 (Taisho No. 456)
Phật thuyết Di Lặc Thành Phật Kinh
Phật thuyết Kinh Di Lặc Thành Phật .
姚秦 龜茲 國 三藏 鳩摩羅什 譯
Diêu Tần Quy Tư quốc Tam Tạng Cưu-ma La-thập dịch
Diêu Tần Quy Tư quốc Tam Tạng Cưu-ma La-thập dịch
如是我聞。
Như thị Ngã văn .
Tôi nghe như thế .
一時佛住摩伽陀國游波沙山(孤絕山也)過去諸佛常降魔處。
Nhất thời Phật trụ Ma- già- đà quốc Du- ba- sa sơn (Cô Tuyệt sơn dã ) Quá khứ chư Phật thường hàng ma xứ .
Thời đó Phật ở núi Du- ba- sa nước Ma- già- đà, nơi các Phật Quá khứ thường hàng phục Ma.
夏安居中與 舍利弗 , 經行山頂 , 而說偈言。
Hạ an cư trung dữ Xá-lợi-phất , kinh hành sơn đỉnh , nhi thuyết kệ ngôn 。
Trong mùa hạ an cư cùng đi với Xá- lợi- phất tới đỉnh núi và thuyết kệ rằng:
一心善諦聽 光明大 三昧
Nhất tâm thiện đế thính , quang minh Đại Tam- muội
Nhất tâm dễ tu Tuệ, Trí quang Đại Tam- muội,
無比 功德 人 正爾當出世
Vô tỉ công đức nhân , chính nhĩ đương xuất thế
Người Công đức vô lượng . Người đó đang xuất thế.
彼人說妙法 悉皆得充足
Bỉ nhân thuyết Diệu Pháp , tất giai đắc sung túc
Người đó thuyết Diệu Pháp, tất đều được đầy đủ.
如渴飲甘露 疾至 解脫道
Như khát ẩm Cam- lộ, tật chí Giải- thoát Đạo
Như khát uống Cam- lộ, nhanh tới Đạo Giải- thoát.
時四部眾平治道路。灑掃燒香皆悉來集。
Thời Tứ bộ chúng bình trị đạo lộ , sái tảo thiêu hương giai tất lai tập .
Khi đó Tứ chúng, vảy nước quét sạch nơi đất bằng phẳng đốt hương, tất cả đều tập hợp lại.
持諸供具供養 如來 及 比丘 僧。諦觀如來。
Trì chư cúng cụ cúng dưỡng Như Lai cập Tì- kheo Tăng . Đế quan Như Lai .
Dâng các đồ cúng cúng dưỡng Như Lai và các Tì- kheo Tăng, Quan sát kỹ Như Lai
喻如孝子視於慈父 , 如渴思飲。
Dụ như hiếu tử thị ư Từ Phụ , như khát tư ẩm .
Ví như con hiếu nhìn Cha nhân từ , như khát suy nghĩ tới nước.
愛 念法 父亦復如是。各各同心 , 欲請 法王 轉正 法輪 。
Aí niệm Pháp Phụ diệc phục như thị . Các các đồng tâm , dục thỉnh Pháp Vương chuyển chính Pháp luân .
Thương nhớ Pháp như nhớ Cha, cũng lại như thế. Từng người đồng tâm muốn mời Pháp Vương thuyết Chính Pháp.
諸根 不動 心心相次流注向佛。
Chư Căn bất động tâm tâm tương thứ lưu chú hướng Phật.
Thân tâm tĩnh lặng, tâm tâm lần lần chuyển hướng tới Phật.
是時 比丘 比丘尼 優婆塞 優婆夷 。
Thị thời Tì- kheo ,Tì- kheo ni, Ưu- bà- tắc, Ưu- bà- di .
Khi đó nam Tì- kheo, nữ Tì- kheo, nam Phật Tử, nữ Phật Tử .
天龍鬼神 乾闥婆 阿修羅 迦樓羅 緊那羅 摩睺羅伽 人非人 等。
Thiên Long Quỷ Thần, Càn- thát- bà, A- tu- la , Ca- lâu- la, Khẩn- na- la, Ma- hầu- la- già Nhân phi Nhân đẳng.
Trời Rồng Quỷ Thần, Càn- thát- bà, A- tu- la , Ca- lâu- la, Khẩn- na- la, Ma- hầu- la- già, người không phải người.
各從坐起右遶 世尊 , 五體投地 向佛泣淚。
Các tòng tọa khởi hữu nhiễu Thế Tôn , ngũ thể đầu địa hướng Phật khấp lệ .
Từng người rời nơi ngồi, vòng theo phía phải đỉnh phục lễ, hướng về Thế Tôn rơi lệ.
爾時 大智 舍利弗 , 齊整衣服偏袒右肩。
Nhĩ thời Đại trí Xá- lợi- phất , tề chỉnh y phục thiên đản hữu kiên .
Khi đó Đại trí Xá- lợi- phất, chỉnh tề y phục, vai phải áo lệch,
知 法王 心善能隨順學 佛法 王轉正 法輪 。
tri Pháp Vương tâm thiện năng tùy thuận học Phật Pháp Vương chuyển chính Pháp luân .
Hiểu được ý Pháp Vương, dễ thuận theo học Pháp Phật, Pháp Vương thuyết chính Pháp.
是佛輔臣持法大將, 憐愍眾生故, 欲令脫苦縛。
Thị Phật phụ Thần trì Pháp đại tướng, lân mẫn chúng sinh cố , dục linh thoát khổ phược .
Phụ thần ghi nhớ nhiều Pháp của Phật thời Tương lai, do vì xót thương chúng sinh, muốn giúp thoát vòng khổ ải.
白佛言 : 世尊 ! 如來 向者於山頂上說偈。
Bạch Phật ngôn : Thế Tôn ! Như Lai hướng giả ư sơn đỉnh thượng thuyết kệ .
Bạch Phật rằng: Thế Tôn ! Như Lai hướng về đỉnh núi nói bài kệ ,
讚歎第一智人。前後經中之所未說。
tán thán đệ nhất Trí nhân . Tiền hậu Kinh trung chi sở vị thuyết .
ca ngợi người Trí đệ nhất. Trong Kinh trước sau chưa nói .
此諸大眾心皆渴仰淚如盛雨。
Thử chư Đại chúng tâm giai khát ngưỡng lệ như thịnh vũ .
Tâm của đại chúng đó đều khát ngưỡng rơi lệ như mưa.
欲聞 如來 說未來佛開甘露道。 彌勒 名字 功德 神力 國土 莊嚴。
Dục văn Như Lai thuyết Vị lai Phật khai Cam lộ Đạo . Di Lặc danh tự công đức thần lực quốc độ trang nghiêm .
Muốn nghe Như Lai thuyết Phật tương lai mở Đạo Cam lộ. Danh hiệu, công đức , thần lực, đất nước trang nghiêm của Di Lặc .
以何善根何戒何施何定何慧何等智力, 得見 彌勒 。
Dĩ hà thiện Căn , hà Giới , hà Thí , hà Định , hà Tuệ , hà đẳng Trí lực , đắc kiến Di Lặc .
Dùng thiện Căn gì, Thí gì, Giới gì, Định nào, Tuệ nào, các Trí Lực nào, để gặp được Di Lặc .
於何心中修八正路。
Ư hà tâm trung tu Bát Chính lộ.
Trong tâm phải làm thế nào để tu được Bát Chính Đạo.
舍利弗發此問時。百千 天子 無數 梵王 , 合掌恭敬 ,
Xá- lợi- phất phát thử vấn thời. Bách thiên Thiên Tử vô số Phạm-vương , hợp chưởng cung kính ,
Khi Xá-lợi- phất hỏi vấn đề đó. Trăm nghìn Thiên Tử , vô số Phạm-vương, chắp tay cung kính,
異口同音共發是問白佛言 : 世尊 !
dị khẩu đồng âm cộng phát thị vấn bạch Phật ngôn : Thế Tôn !
khác người đồng âm, đều hỏi vấn đề đó, bạch Phật rằng: Thế Tôn !
願使我等於 未來世 得見人中最大 果報 三界眼 目光明 彌勒 。
Nguyện sử Ngã đẳng ư Vị lai thế , đắc kiến nhân trung tối đại quả báo , Tam Giới nhãn mục quang minh.
Xin sai khiến chúng con ở đời Tương lai thấy được quang minh mắt mũi của Di Lặc người được quả báo lớn nhất trong số người của Tam giới.
普為眾生說大慈悲。并八部眾亦皆如此。恭敬叉手勸請 如來 。
Phổ vị chúng sinh thuyết Đại Từ Bi. Tịnh Bát bộ chúng diệc giai như thử . Cung kính xoa thủ khuyến thỉnh Như Lai .
Đại Từ Đại Bi vì chúng sinh nói tất cả. Tất cả Bát bộ chúng sinh cũng đều như thế, cung kính xoa tay khuyến mời Như Lai .
爾時 梵王 與諸梵眾 , 異口同音 合掌讚歎 , 而說頌曰:
Nhĩ thời Phạm-vương dữ chư Phạm chúng , dị khẩu đồng âm hợp chưởng tán thán , nhi thuyết tụng viết :
Khi đó Phạm-vương và các Phạm chúng, khác người đồng âm, chắp tay ca ngợi đọc bài tụng ca rằng :
南無滿月 具足十力 大精進將
Nam- mô mãn Nguyệt , cụ túc Thập lực , đại Tinh tiến tướng
Nam- mô các Phật , đầy đủ Mười lực, Tinh tiến đệ nhất,
勇猛無畏 一切智 人 超出 三有
dũng mãnh vô úy , nhất thiết Trí nhân , siêu xuất Tam Hữu
dũng mãnh không sợ. Người đủ mọi trí, hơn Hữu đỉnh Tam giới,
成 三達 智 降伏四魔 身為 法器
thành tam đạt Trí , hàng phục Tứ ma, thân vi Pháp khí
thành công Ba Trí , hàng phục Bốn Ma, thân là Pháp khí ,
心如虛空 靜然 不動 於有 非有
tâm như hư không , tĩnh nhiên bất động , ư hữu phi hữu
tâm như hư không, tĩnh lặng bất động , có không phải có,
於無非無 達解 空法 世所讚歎
ư vô phi vô , đạt giải ‘ Không’ Pháp , thế sở tán thán
Không không phải không, hiểu rõ Pháp không, được đời ca ngợi.
我等同心 一時 歸依 願轉 法輪
Ngã đẳng đồng tâm , nhất thời Quy y , nguyện chuyển Pháp luân
Chúng con đồng tâm, cùng nhau đi theo, muốn nghe thuyết Pháp.
爾時 世尊 告 舍利弗 。
Nhĩ thời Thế Tôn cáo Xá-lợi- phất .
Thế Tôn khi đó bảo Xá-lợi- phất.
當為汝等廣分別說。諦聽諦聽善思念之。
Đương vị Nhữ đẳng quảng phân biệt thuyết . Đế thính đế thính thiện tư niệm chi .
Đang vì các Ngài phân biệt nói hết. Các Ngài nay nghe tuệ, tư duy tuệ, tu tuệ,
汝等今者以妙善心, 欲問 如來 無上道 業 摩訶般若 。
Nhữ đẳng kim giả dĩ diệu thiện tâm , dục vấn Như Lai Vô Thượng Đạo Nghiệp Ma- ha Bát- nhã.
Các Ngài ngày nay dùng tâm diệu thiện, muốn hỏi Như Lai Trí tuệ lớn Nghiệp Đạo Bình đẳng.
如來明見如觀掌中 菴摩勒 果 , 告 舍利弗 。
Như Lai minh kiến như quán chưởng trung Am- ma- lặc quả , cáo Xá-lợi- phất .
Như Lai thấy rõ quả Am- ma- lặc như thấy lòng bàn tay, Bảo Xá-lợi- phất.
若於 過去七佛 所 , 得聞佛名禮拜供養。
Nhược ư Quá khứ Thất Phật sở , đắc văn Phật danh lễ bái cúng dưỡng .
Nếu tại nơi ở của 7 Phật thời Quá khứ , được nghe tên Phật lễ bái cúng dưỡng.
以是 因緣 淨除業障。復聞 彌勒 大慈根本得清淨心。
Dĩ thị Nhân duyên tịnh trừ Nghiệp chướng . Phục văn Di Lặc Đại Từ căn bản đắc Thanh tịnh tâm .
Do Nhân duyên đó trừ sạch chướng Nghiệp. Lại cũng nghe Đại Từ Di Lặc được tâm căn bản Thanh tịnh.
汝等今當一心合掌 歸依 未來大慈悲者。
Nhữ đẳng kim đương nhất tâm hợp chưởng quy y Vị lai Đại Từ Bi giả .
Các Ngài nay cần nhất tâm, chắp tay đi theo người Đại Từ Bi của thời Tương lai.
我當為汝廣分別說。
Ngã đương vị Nhữ quảng phân biệt thuyết .
Ta đang vì Ngài phân biệt nói hết.
彌勒 佛國 從於淨命無諸諂偽。 檀波羅蜜 ` 尸羅波羅蜜 ` 般若波羅蜜 。
Di Lặc Phật quốc tòng ư Tịnh mệnh vô chư siểm ngụy . Đàn Ba- la- mật , Thi- la Ba-la-mật , Bát- nhã Ba-la-mật.
Phật Di Lặc với mệnh Thanh tịnh, không có gian trá. Giữ Giới, bố Thí, Trí tuệ.
得不受不著。以微妙十願 大莊嚴 。
Đắc bất thụ bất trước . Dĩ vi diệu thập nguyện đại trang nghiêm .
Được không thụ hưởng, không cố chấp, dùng vi diệu 10 nguyện trang nghiêm lớn.
得一切眾生起柔軟心。得見 彌勒 大慈所攝。
Đắc nhất thiết chúng sinh khởi nhu nhuyễn tâm . Đắc kiến Di Lặc Đại Từ sở nhiếp .
Tất cả chúng sinh khởi tâm nhu nhuyễn, được gặp Đại Từ Di Lặc thu nhận.
生彼 國土 調伏諸根 , 隨順佛化。 舍利弗 。
Sinh bỉ quốc độ điều phục chư Căn . Tùy thuận Phật hóa . Xá-lợi- phất !
Sinh vào đất nước Phật điều phục các Căn , tuỳ thuận theo Phật giáo hoá. Xá-lợi- phất!
四大海水面各減少三千 由旬 。
Tứ đại hải thủy diện các giảm thiểu tam thiên Do- tuần .
Mặt nước của bốn biển lớn, các biển giảm xuống 60 nghìn km.
時 閻浮提 地縱廣正等十千 由旬 。其地平淨如流璃鏡。
Thời Diêm- phù- đề địa túng quảng chính đẳng thập thiên Do- tuần . Kỳ địa bình tịnh như lưu ly kính .
Thời đó đất của Diêm phù đề, dài rộng ước khoảng 200 nghìn km, đất đó bằng phẳng sạch như kính pha lê.
大適意華 `悅可意華 極大香華 。 優曇 鉢花`大金葉華。 七寶 葉華。白銀葉華。
Đại- thích- ý hoa , Duyệt- khả- ý hoa, cực đại hương hoa . Ưu- đàm- bát hoa , Đại- kim- diệp hoa , Thất bảo diệp- hoa , Bạch- ngân- diệp hoa .
Hoa Đại- thích- ý, Duyệt- khả- ý, hoa hương rất lớn. Hoa Ưu- đàm- bát, Đại- kim-diệp, Thất- bảo- diệp, Bạch- ngân- diệp.
華鬚柔軟狀如天繒。生吉祥菓 , 香味具足軟如天綿。
Hoa tu nhu nhuyễn trạng như Thiên tăng . Sinh cát tường quả , hương vị cụ túc nhuyễn như Thiên miên.
Tua hoa của chúng nhu nhuyễn giống như tăng cõi Trời. Sinh ra quả ngon lành, hương vị đầy đủ, nhuyễn như tơ Trời.
叢林樹華甘果美妙極大茂盛。
Tùng lâm thụ hoa cam quả mỹ diệu cực đại mậu thịnh .
Cây hoa um tùm, quả ngọt tuyệt đẹp, cây lớn tốt tươi .
過於 帝釋 歡喜之園。其樹高顯高三十里。
Quá ư Đế- thích hoan hỉ chi viên . Kỳ thụ cao hiển cao tam thập lý.
Hơn cả vườn mà Ngọc- hoàng yêu thích. Cây cối thật cao, cao khoảng 15 km.
城邑次比雞飛相及。皆由今 佛種 大善根。
Thành ấp thứ tỉ kê phi tương cập . Giai do kim Phật chúng đại thiện Căn.
Thành ấp liền nhau gà bay qua lại được. Đều do Phật ngày nay, trồng thiện Căn lớn.
行慈心報俱生彼國。智慧威德 五欲 眾具快樂安穩。
Hành Từ tâm báo câu sinh bỉ quốc . Trí tuệ Uy đức Ngũ dục chúng cụ khoái lạc an ổn .
Hành tâm Từ phúc báo cùng sinh ở nước đó. Trí tuệ Uy đức, Năm dục đầy đủ, vui vẻ yên ổn.
亦無寒熱風火等病, 無 九惱 苦。
Diệc vô hàn nhiệt phong hỏa đẳng bệnh , vô cửu não khổ .
Cũng không có nóng lạnh, chiến tranh dịch bệnh, không có 9 khổ não.
壽命具足八萬四千歲無有中夭。人身悉長一十六丈。
Thọ mệnh cụ túc bát vạn tứ thiên tuế , vô hữu trung yểu . Nhân thân tất trường nhất thập lục trượng .
Thọ mệnh đầy đủ 8 vạn 4 nghìn năm, không có người yểu mệnh, thân người tất cả đều cao 53 m.
日日常受極妙安樂 , 遊深 禪定 以為樂器。
Nhật nhật thường thụ cực diệu an lạc , du thâm Thiền Định dĩ vi nhạc khí .
Hàng ngày thường thu nhận sự an lạc tuyệt diệu, du nhập sâu vào trong Thiền định được âm nhạc vui.
唯有三病 :一者飲食 , 二者便利 , 三者衰老。
Duy hữu tam bệnh : Nhất giả ẩm thực , Nhị giả tiện lợi , Tam giả suy lão .
Chỉ có ba bệnh: một là ăn uống, hai là tiện lợi, ba là già yếu.
女人年五百歲爾乃行嫁。
Nữ nhân niên ngũ bách tuế nhĩ nãi hành giá.
Phụ nữ 500 tuổi mới lấy chồng.
有一大城名翅頭末 , 縱廣一千二百 由旬 。
Hữu nhất đại thành danh Sí- đầu- mạt , túng quảng nhất thiên nhị bách Do- tuần .
Có một thành lớn tên là Sí- đầu- mạt, rộng khoảng 24 nghìn km .
高七 由旬 七寶 莊嚴。自然化生七寶樓閣。
Cao thất Do- tuần Thất- bảo trang nghiêm . Tự nhiên hóa sinh Thất- bảo lâu các .
Cao 140 km dùng Bảy báu trang nghiêm. Tự nhiên hoá ra các lâu đài bằng Bảy báu.
端嚴殊妙莊校清淨。於窓牖間列諸寶女。
Đoan nghiêm thù diệu trang hiệu Thanh tịnh . Ư song dũ gian liệt chư Bảo- nữ .
Đoan nghiêm tuyệt diệu trang trí Thanh tịnh. Ở trong cửa sổ bày các cô gái bằng Bảy báu.
手中皆執真珠羅網 , 雜寶莊校以覆其上。
Thủ trung giai chấp trân châu la võng , tạp bảo trang hiệu dĩ phúc kỳ thượng.
Trong tay đều cầm châu quý lưới võng trang trí các loại vật báu dùng để che lên trên.
密懸寶鈴聲如 天樂 。 七寶 行樹間樹渠泉 , 皆七寶成。
Mật huyền bảo linh thanh như Thiên nhạc . Thất bảo hàng thụ gian thụ cừ tuyền , giai Thất- bảo thành .
Linh báu treo dày đặc tiếng kêu như nhạc Trời, suối nước chảy giữa các hàng cây bằng 7 báu, đều do 7 báu tạo thành.
流異色水更相暎發, 交橫徐逝不相妨礙。
Lưu dị sắc thủy cánh tương ánh phát , giao hoạnh từ thệ bất tương phương ngại .
Màu sắc của nước khác nhau ánh lên giao nhau không gặp trở ngại.
其岸兩邊純布金沙。街巷道陌廣十二里。
Kỳ ngạn lưỡng biên thuần bố kim sa , nhai hạng đạo mạch quảng thập nhị lý.
Hai bên bờ suối toàn là cát bằng vàng, đường xá đạo lộ rộng khoảng 6 km.
悉皆清淨猶如天園掃灑清淨。
Tất giai Thanh tịnh do như Thiên viên tảo sái Thanh tịnh .
Tất cả đều Thanh tịnh giống như vườn Trời dọn rửa sạch đẹp.
有大 龍王 名多羅尸棄 , 福德威力皆悉具足。
Hữu Đại Long-vương danh Đa- la- thi- khí , Phúc Đức Uy lực giai tất cụ túc .
Có Đại Long-vương tên là Đa- la- thi- khí, đều đầy đủ Phúc đức Uy lực.
其池近城 , 龍王 宮殿如 七寶 樓顯現于外。
Kỳ trì cận thành , Long Vương cung điện như Thất- bảo lâu hiển hiện vu ngoại .
Đầm của ông ta gần thành, cung điện Long-vương hiển hiện bên ngoài như là lầu 7 báu.
常於夜半化作人像 , 以吉祥瓶盛香色水, 灑淹塵土。
Thường ư dạ bán hóa tác nhân tượng , dĩ cát tường bình thịnh hương sắc thủy. sái yêm trần thổ.
Nửa đêm thường hoá thành thân người, dùng bình cát tường chứa đầy nước hương sắc rắc thấm đẫm đất.
其地潤澤譬如油塗。行人往來無有塵坌。
Kỳ địa nhuận trạch thí như du đồ. Hành nhân vãng lai vô hữu trần bộn.
Đất đó thấm nhuận như bôi dầu, người qua lại không có dính bụi.
是時世人福德所致 , 巷陌處處有明珠柱高十二里 , 光喻於日四方各照八十 由旬 。
Thị thời thế nhân Phúc đức sở trí hạng mạch xứ xứ hữu Minh châu trụ cao thập nhị lý, quang dụ ư nhật tứ phương các chiếu bát thập Do-tuần .
Thời đó do Phúc đức của người đời mà ngõ ngách mọi nơi có cột Minh châu cao 6 km, ánh quang ví như ánh mặt Trời, toả chiếu 4 phương xa tới 1.600 km.
純黃金色 , 其光照燿晝夜無異燈燭之明
Thuần hoàng kim sắc , kỳ quang chiếu diệu trú dạ vô dị đăng chúc chi minh .
Thuần nhất sắc vàng , quang của nó chiếu rọi ngày đêm giống như ánh sáng đèn nến không khác.
猶若聚墨香風時來吹明珠柱雨寶瓔珞。
Do nhược tụ mặc hương phong thời lai xuy Minh châu trụ vú bảo anh lạc.
Do còn tụ bóng tối, khi gió hương thổi tới cột Minh châu bắn ra các chuỗi ngọc quý.
眾人皆用服者, 自然如三禪樂。
Chúng nhân giai dụng phục giả , tự nhiên như tam Thiền lạc.
Mọi người đều dùng nó làm trang phục, tự nhiên như là vui Tam Thiền.
處處皆有金銀珍寶 摩尼 珠等 , 積用成山。
Xứ xứ giai hữu kim ngân trân bảo Ma- ni châu đẳng , tích dụng thành sơn.
Mọi nơi đều có vàng bạc trân bảo, ngọc Như- ý chất thành núi.
寶山放光普照城內。人民遇者皆悉歡喜 發菩提心 。
Bảo sơn phóng quang phổ chiếu thành nội . Nhân dân ngộ giả giai tất hoan hỉ phát Bồ- đề tâm.
Núi báu phóng quang chiếu khắp nội thành. Nhân dân nhìn thấy tất cả đều vui mừng, phát tâm Bồ- đề.
有 大夜 叉神 , 名 跋陀婆 羅賒塞迦(秦言善教)晝夜擁護翅頭末城。
Hữu đại Dạ- xoa Thần , danh Bạt- đà- bà- la- xa- tắc- ca (Tần ngôn thiện giáo) trú dạ ủng hộ Sí- đầu- mạt thành .
Có Thần Dạ- xoa lớn tên là Bạt- đà- bà- la- xa- tắc- ca, ngày đêm ủng hộ thành Sí- đầu- mạt
及諸人民灑掃清淨。
Cập chư nhân dân sái tảo thanh tịnh 。
Cùng với người dân tưới quét dọn sạch sẽ.
設有便利地裂受之受已還合。生赤 蓮華 以蔽穢氣。
Thiết hữu tiện lợi địa liệt thụ chi thụ dĩ hoàn hợp . Sinh xích Liên hoa dĩ tế uế khí .
Nếu đại tiểu tiện đất tách ra thu nhận và thu nhận xong liền hoàn trở lại. Sinh ra hoa Sen đỏ dùng để tẩy uế khí.
時世人民, 若年衰老 , 自然行詣山林樹下。
Thời thế nhân dân , nhược niên suy lão, tự nhiên hành nghệ sơn lâm thụ hạ.
Nhân dân thời đó nếu tuổi cao già yếu, tự nhiên đi tới dưới cây trong rừng núi.
安樂淡泊 念佛 取盡。命終多生 大梵天 上及諸佛前。
An lạc đạm bạc niệm Phật thủ tận. Mệnh chung đa sinh Đại Phạm Thiên thượng cập chư Phật tiền .
Yên vui chỉ chuyên niệm Phật tới khi chết, phần nhiều sinh lên cõi Trời Đại Phạm (cõi Sắc giới) và trước các Phật
其土安穩無有怨賊劫竊之患。
Kỳ thổ an ổn vô hữu oán tặc kiếp thiết chi hoạn .
Đất đó yên ổn, không có nạn oán tặc trộm cướp.
城邑聚落無閉門者 , 亦無衰惱水火刀兵 , 及諸飢饉毒害之難。
Thành ấp tụ lạc vô bế môn giả , diệc vô suy não thủy hỏa đao binh , cập chư cơ cận độc hại chi nạn .
Thành ấp làng xóm không cần đóng cửa, cũng không suy bại khổ não, đói khát, dịch bệnh, đao binh và các nạn đói rách đầu độc giết hại.
人常慈心恭敬和順調伏諸根 , 如子愛父如母愛子。
Nhân thường Từ tâm cung kính hòa thuận điều phục chư Căn , như Tử ái phụ như mẫu ái tử.
Người thường Từ tâm cung kính hoà thuận, điều phục các Căn. Như cha quý con như mẹ yêu con.
語言謙遜皆由 彌勒 慈心訓導 , 持不殺戒不噉肉故。
Ngữ ngôn khiêm tốn giai do Di Lặc từ tâm huấn đạo , trì bất sát Giới bất đạm nhục cố.
Lời nói khiêm tốn, đều do Di Lặc tâm Từ, giáo huấn dẫn dắt, giữ không phạm Giới, không ăn thịt.
以此 因緣生 彼國者。諸根恬靜面貌端正。威相具足如天童子。
Dĩ thử Nhân duyên sinh bỉ quốc giả . Chư Căn điềm tĩnh diện mạo đoan chính . Uy tướng cụ túc như Thiên đồng tử .
Dùng Nhân duyên đó sinh ở đất Phật. Các Căn tĩnh lặng, diện mạo đoan chính. Uy tướng đầy đủ như người cõi Trời.
復有八萬四千眾寶, 小城以為眷屬翅頭末城最處其中。
Phục hữu bát vạn tứ thiên chúng bảo, tiểu thành dĩ vi quyến thuộc Sí- đầu- mạt thành tối xứ kỳ trung.
Lại có 8 vạn 4 nghìn loại báu vật, thành nhỏ là thuộc hạ của thành Sí- đầu- mạt.
男女大小雖遠若近。佛神力故兩得相見無所障礙。
Nam nữ đại tiểu tuy viễn nhược cận. Phật Thần lực cố lưỡng đắc tương kiến vô sở chướng ngại.
Nam nữ lớn nhỏ dù xa hoặc gần. Do Thần lực của Phật hai bên gặp nhau đều không có trở ngại.
夜光 摩尼 如意珠 華遍滿世界 , 雨 七寶 花。
Dạ quang Ma- ni Như- ý châu hoa biến mãn Thế giới , vú Thất- bảo hoa ,
Dạ quang của hoa Ma- ni Như- ý châu biến khắp Thế giới, rắc hoa Bảy báu,
鉢頭摩華 ` 優鉢羅 華` 拘物頭 華` 分陀利 華`
Bát- đầu- ma hoa , Ưu- bát- la hoa , Câu- vật- đầu hoa , Phân- đà- lợi hoa,
hoa Bát- đầu- ma, Ưu- bát- la, Câu- vật- đầu, Phân- đà- lợi,
曼陀羅華 ` 摩訶 曼陀羅花 ` 曼殊沙 花`
Man- đà- la hoa ,Ma- ha Man- đà -la hoa , Man- thù- sa hoa,
hoa Man- đà- la, Ma- ha Man- đà- la, Man- thù- sa,
摩訶 曼殊沙 華 , 彌布其地。或復風吹迴旋空中。
Ma- ha Man- thù- sa hoa , di bố kỳ địa . Hoặc phục phong xuy hồi toàn không trung .
Ma- ha Man- thù- sa, phủ đầy trên đất. Nếu gió thổi tới chuyển vòng trong không.
時彼國界城邑聚落 , 園林浴池泉河流沼 , 自然而有 八功德水 。
Thời bỉ quốc giới thành ấp tụ lạc , viên lâm dục trì tuyền hà lưu chiểu , tự nhiên nhi hữu Bát công đức thủy .
Thời đó thành ấp làng xóm vườn rừng ao đầm giếng sông suối của quốc giới đó, tự nhiên có ao Bát Công đức thuỷ,
命命之鳥鵝鴨鴛鴦 , 孔雀 鸚鵡, 翡翠 舍利 , 美音鳩鵰。
Mệnh mệnh chi điểu nga áp uyên ương , khổng tước anh vũ phỉ thúy xá lợi , mỹ âm cưu điêu .
Chim tự hót ngỗng vịt uyên ương, khổng tước anh vũ, chim trả cò trắng, tiếng kêu của chim gáy chim cắt,
羅耆婆闍婆快見鳥等出妙音聲。
La- kỳ bà- xà bà khoái kiến điểu đẳng xuất diệu âm thanh.
Người già thầy Tăng già thích thấy các loại chim phát ra âm thanh vi diệu.
復有異類妙音之鳥不可稱數 , 遊集林池。
Phục hữu dị loại diệu âm chi điểu bất khả xưng số, du tập lâm trì .
Lại có tiếng chim vi diệu khác, không thể kể hết, tập hợp trong rừng đầm.
金色無垢淨光明華 ` 無憂 淨慧日光明華 ` 鮮白七日香華 ` 瞻蔔六色香華。
Kim sắc Vô- cấu Tịnh quang minh hoa , Vô- ưu Tịnh tuệ nhật quang minh hoa , Tiên- bạch thất nhật hương hoa, Chiêm bặc lục sắc hương hoa .
Hoa Kim sắc vô cấu thanh tịnh quang minh, hoa Vô ưu tịnh tuệ nhật quang minh, hoa Tiên bạch thất nhật hương, hoa Chiêm bặc lục sắc hương.
百千萬種水陸生華。
Bách thiên vạn chủng thủy lục sinh hoa .
Trăm nghìn vạn loại hoa sinh ra trên đất nước.
青色青光黃色黃光赤色赤光白色白光香淨無比。
Thanh sắc thanh quang hoàng sắc hoàng quang xích sắc xích quang bạch sắc bạch quang hương tịnh vô tỉ.
Màu xanh quang xanh, màu vàng quang vàng, mầu đỏ quang đỏ, màu trắng quang trắng hương thanh khiết khó so bì được.
晝夜常生終無萎時 , 有如意果樹 , 香美無比充滿國界。
Trú dạ thường sinh chung vô nuy thời , hữu Như ý quả thụ , hương mỹ vô tỉ sung mãn quốc giới.
Ngày đêm thường sinh cuối cùng không tàn. Thời có quả cây Như ý, hương vô cùng thơm, hương cây tràn khắp quốc giới.
香樹金光生寶山間充滿國界 , 出適意香普熏一切。
Hương thụ Kim quang sinh bảo sơn gian sung mãn quốc giới , xuất thích ý hương phổ huân nhất thiết .
Cây Kim quang sinh giữa núi báu ở khắp quốc giới, sinh hương theo ý thích, lan tỏa ra khắp nơi.
爾時 閻浮提 中常有好香 , 譬若香山流水美好味甘除患。
Nhĩ thời Diêm- phù- đề trung thường hữu hảo hương , thí nhược hương sơn lưu thủy mỹ hảo vị cam trừ hoạn.
Thời đó ở Diêm- phù- đề đều có hương quý, ví như hương sơn lưu thuỷ vị ngọt rất đẹp, trừ hoạn nạn tưới ân huệ.
雨澤隨時。天園成熟香美稻種 , 天神力故一種七穫。
Vũ trạch tùy thời . Thiên viên thành thục hương mỹ đạo chủng , Thiên Thần lực cố nhất chủng thất hoạch .
Mưa thuận theo thời. Vườn Trời tạo thành các loại hương lúa thơm, do Thần lực của cõi Trời, một lần trồng thu hoạch 7 lần .
用功甚少所收甚多。穀稼滋茂無有草穢。
Dụng công thậm thiểu sở thu thậm đa . Cốc giá tư mậu vô hữu thảo uế.
Dùng rất ít công thu hoạch được nhiều. Lúa cấy tươi tốt, không có cỏ hôi.
眾生福德本事 果報 , 入口銷化。
Chúng sinh Phúc đức bản sự quả báo , nhập khẩu tiêu hóa .
Quả báo theo Phúc đức của chúng sinh là chính, ăn xong tiêu hoá.
百味具足香美無比氣力充實。其國爾時有 轉輪聖王 , 名曰儴佉。
Bách vị cụ túc hương mỹ vô tỉ khí lực sung thực . Kỳ quốc nhĩ thời hữu Chuyển Luân Thánh Vương , danh viết Tương- khư .
Đầy đủ trăm vị hương vô cùng thơm, khí lực đầy đủ. Thời đó đất nước có Chuyển luân Thánh vương , tên là Tương- khư.
有四種兵不以威武治 四天下 。
Hữu tứ chủng binh bất dĩ uy vũ trị tứ Thiên hạ 。
Có 4 loại binh, không dùng vũ lực, quản lý 4 châu Thiên hạ.
具三十二大人相好。王有千子, 勇猛端正怨敵自伏。
Cụ tam thập nhị Đại nhân tướng .Vương hữu thiên Tử , dũng mãnh đoan chính oán địch tự phục .
Đủ 32 tướng tốt của vĩ Nhân, Vương có 1.000 con trai, dũng mãnh đoan chính, tự điều phục oán địch.
王有 七寶 : 一金 輪寶 千輻轂輞皆悉具足 ,
Vương hữu Thất- bảo : Nhất Kim- luân- bảo thiên phúc cốc võng giai tất cụ túc .
Vương có 7 vật báu: Kim- luân- bảo đầy đủ nghìn bánh xe.
二白象寶, 白如雪山七胑拄地 , 嚴顯可觀猶如山王。
Nhị Bạch tượng bảo bạch như tuyết sơn thất chỉ 胑trụ địa , nghiêm hiển khả quan do như sơn vương .
Hai là Voi trắng báu trắng như núi tuyết, 7 chân bám đất nhìn thấy trang nghiêm giống như núi chúa.
三紺馬寶 , 朱鬣髦尾足下生華 七寶 蹄甲。
Tam Cám mã bảo chu liệp mao vĩ túc hạ sinh hoa Thất- bảo đề giáp.
Ba là Ngựa tía báu, lông đuôi màu đỏ, dưới chân sinh hoa, móng bằng 7 báu.
四神珠寶, 明顯可觀長於二肘 , 光明雨寶適眾生願。
Tứ Thần châu bảo , minh hiển khả quan trường ư nhị thốn , quang minh vú bảo thích chúng sinh nguyện .
Bốn là Thần châu bảo nhìn thấy quang minh dài chừng 6,6 cm, quang minh biến thành các vật báu tuỳ theo ý thích của chúng sinh.
五玉女寶 , 顏色美妙柔軟無骨。
Ngũ Ngọc Nữ Bảo , nhan sắc mỹ diệu nhu nhuyễn vô cốt .
Năm là Ngọc nữ bảo nhan sắc tuyệt đẹp, nhu nhuyễn không có xương.
六主藏臣, 口中吐寶足下雨寶兩手出寶。
Lục Chủ tạng thần , khẩu trung thổ bảo túc hạ vú bảo lưỡng thủ xuất bảo .
Sáu là Chủ tạng thần bảo miệng nhả ra báu vật, dưới chân biến ra báu vật, 2 tay xuất ra vật báu.
七主兵臣 , 宜動身時四兵如雲從空而出千子。
Thất Chủ binh thần , nghi động thân thời tứ binh như vân tòng không nhi xuất thiên tử.
Bảy là Chủ binh thần bảo lúc cử động thân, 4 loại binh như đám mây từ không trung và hiện ra một nghìn con
七寶國界人民, 一切相視不懷惡意 , 如母愛子。
Thất bảo Quốc giới Nhân dân, nhất thiết tương thị bất hoài ác ý, như mẫu ái tử .
Người dân nhìn thấy tất cả 7 vật báu của đất nước, không nghĩ tới ý ác, như mẹ yêu con.
時王千子各取珍寶 , 於正殿前作 七寶 臺。
Thời Vương thiên Tử các thủ trân bảo, ư chính điện tiền tác Thất bảo Đài.
Thời đó nghìn con trai của Vương giữ các trân bảo, ở trước chính giữa cung điện xây Đài 7 báu.
有三十重高十三 由旬 , 千頭千輪遊行自在。
Hữu tam thập trùng cao thập tam Do- tuần , thiên đầu thiên luân du hành tự tại.
Có 30 tầng, cao 26 km, nghìn đầu nghìn bánh, du hành tự tại.
有四 大寶藏 。一一大藏。各有四億小藏圍繞。
Hữu tứ đại bảo Tạng : nhất nhất đại tạng, các hữu tứ ức tiểu tạng vi nhiễu .
Có 4 kho báu lớn, từng kho có 4 triệu kho nhỏ bao quanh.
伊鉢多大藏在 乾陀羅 國。般軸迦大藏 在彌緹羅國。
Y- bát- đa đại Tạng, tại Kiền- đà- la quốc . Ban- trục- ca đại Tạng , tại Di- đề- la quốc .
Kho lớn Y- bát- đa tại nước Kiền- đà- la. Kho lớn Ban- trục- ca tại nước Di- đề- la.
賓伽羅大藏。在須羅吒國。穰佉大藏。在婆羅奈國古仙山處。
Tân- già- la đại Tạng tại Tu- la- tra quốc . Tương- khư đại Tạng tại Bà- la- nại quốc Cổ- tiên sơn xứ.
Kho lớn Tân- già- la tại nước Tu- la- tra. Kho lớn Tương- khư tại nước Bà- la- nại ở vùng núi Cổ- tiên.
此 四大 藏 , 自然開發顯大光明 , 縱廣正等一千 由旬 。
Thử tứ đại Tạng , tự nhiên khai phát hiển đại quang minh , túng quảng chính đẳng nhất thiên Do- tuần .
4 kho lớn này tự nhiên mở ra, phát ra ánh quang lớn, dài rộng chừng 20 nghìn km.
滿中珍寶 , 各有四億小藏附之。
Mãn trung trân bảo , các hữu tứ ức tiểu Tạng phụ chi .
Trân bảo la liệt trong kho, từng kho có 4 triệu kho phụ nhỏ
有 四大 龍 , 各自守護此四大藏及諸小藏。
Hữu tứ đại Long , các tự thủ hộ thử tứ đại Tạng cập chư tiểu Tạng.
Có 4 con Rồng lớn tự bảo vệ 4 kho lớn đó và các kho nhỏ.
自然踊出形如 蓮華 , 無央數人皆共往觀。
Tự nhiên dũng xuất hình như Liên hoa , vô ương sổ nhân giai cộng vãng quan .
Tự nhiên hiện ra các hình như hoa Sen, rất nhiều người cùng nhau tới xem.
是時眾寶無守護者 , 眾人見之心不貪著。
Thị thời chúng bảo vô thủ hộ giả , chúng nhân kiến chi tâm bất tham trước.
Thời đó các loại báu vật không cần người bảo vệ, tâm của người xem không có tham lấy,
棄之於地猶如瓦石草木土塊。時人見者心生厭離。
Khí chi ư địa do như ngõa thạch thảo mộc thổ khối . Thời nhân kiến giả tâm sinh yếm ly.
Bỏ ở trên đất coi như là gạch đá cỏ gỗ cục đất. Thời đó người nhìn thấy chúng, tâm sinh chán bỏ xa lánh.
各各相謂而作是言。
Các các tương vị nhi tác thị ngôn.
Từng người bảo nhau, nói sao làm thế.
如佛所說往昔眾生為此寶故共相殘害。更相偷劫欺誑妄語。
Như Phật sở thuyết vãng tích chúng sinh vị thử bảo cố cộng tương tàn hại . Cánh tương thâu Kiếp khi cuồng vọng ngữ.
Phật từng nói: trước đây chúng sinh vì do vật báu đó cùng tàn hại lẫn nhau, lại thêm cả Kiếp trộm cướp dối trá ngông cuồng.
令生死苦緣展轉增長 , 墮大 地獄 。
Linh sinh tử khổ duyên triển chuyển tăng trưởng , đọa Đại Địa ngục.
Kéo dài luân chuyển tội sinh tử khổ, đoạ Đại địa ngục .
翅頭末城眾寶羅網彌覆, 其上寶鈴莊嚴微風吹動。
Sí- đầu- mạt thành chúng bảo la võng di phúc, kỳ thượng bảo linh trang nghiêm vi phong xuy động .
Các báu vật lưới võng bày la liệt khắp thành Sí- đầu- mạt, trên đó linh báu trang nghiêm, gió nhẹ thổi lay động.
其音和雅如扣鐘磬 , 演說 歸依佛 歸依法 歸依僧 。
Kỳ âm hòa nhã như khấu chung khánh , diễn thuyết quy y Phật quy y Pháp quy y Tăng.
Âm đó hoà nhã như gõ chuông khánh, diễn thuyết quy y Phật , quy y Pháp, quy y Tăng.
時城中有 大婆羅門 主 , 名修梵摩。
Thời thành trung hữu Đại Bà- la- môn chúa , danh Tu- phạm- ma.
Khi đó trong thành có chúa Đại Bà- la- môn, tên là Tu- phạm- ma.
婆羅門女名梵摩拔提。心性和弱。
Bà- la- môn nữ danh Phạm- ma bạt-đề , tâm tính hòa nhược.
Nữ Bà- la- môn tên là Phạm- ma- bạt- đề, tâm tính ôn hoà trẻ đẹp.
彌勒託生以為父母。雖處胞胎如遊天宮。
Di Lặc thác sinh dĩ vi Phụ mẫu . Tuy xử bào thai như du Thiên cung .
Di Lặc thác sinh trở thành cha mẹ. Tuy ở trong bào thai giống như du hành cung Trời,
放大光明塵垢不障。身紫金色具三十二 大丈夫 相。
Phóng đại quang minh trần cấu bất chướng . Thân tử kim sắc cụ Tam thập nhị đại trượng phu tướng.
Phóng quang minh lớn, bụi trần không gây trở ngại. Thân màu vàng tía, đủ 32 tướng đại trượng phu .
坐寶 蓮華 。眾生視之無有厭足。
Tọa bảo Liên hoa . Chúng sinh thị chi vô hữu yếm túc .
Ngồi trên hoa Sen báu. Chúng sinh nhìn không không chán.
光明晃耀不可勝視。諸天世人所未曾覩。身力無量。
Quang minh hoảng diệu bất khả thắng thị . Chư Thiên Thế nhân sở vị tằng đổ . Thân lực vô lượng .
Quang minh rực sáng không gì có thể đọ kịp, Trời người đời chưa từng được thấy. Thân lực vô lượng.
一一節力普勝一切 大力 龍象 。
Nhất nhất tiết lực phổ thắng nhất thiết đại lực Long Tượng 。
Mỗi một tiết lực, thắng được tất cả lực lớn của Rồng Voi.
不可思議毛孔光明 , 照耀無量無有障礙。
Bất khả tư nghị mao khổng quang minh , chiếu diệu vô lượng vô hữu chướng ngại.
Không thể bàn luận được Quang minh của lỗ chân lông, chiếu sáng vô lượng không có trở ngại.
日月星宿水火珠光 , 皆悉不現猶如埃塵。
Nhật nguyệt tinh tú thủy hỏa châu quang , giai tất bất hiện do như ai trần.
Ánh quang của mặt Trời, mặt Trăng, các Sao, Thuỷ châu, Hoả châu không thể ngăn cản, tất cả đều bị che mất giống như bụi trần.
身長 釋迦牟尼佛 八十肘(三十二丈)。胷廣二十五肘(十丈)。
Thân trường Thích Ca Mâu Ni Phật bát thập trửu (tam thập nhị trượng). Hung quảng nhị thập ngũ trửu (thập trượng).
Thân Thích Ca Mâu Ni Phật cao 107 m, ngực rộng 33 m,
面長十二肘半(五丈)。鼻高修直當于面門。
diện trường thập nhị trửu bán (ngũ trượng ). Tị cao tu trực đương vu diện môn .
mặt dài 17 m, mũi cao ngay thẳng.
身相具足端正無比成就相好。一 一相 八萬四千好。
Thân tướng cụ túc đoan chính vô tỉ thành tựu tướng hảo. Nhất nhất tướng bát vạn tứ thiên hảo.
Thân tướng đầy đủ trang nghiêm, tướng đẹp không ai so kịp. Mỗi tướng có 8 vạn 4 nghìn vẻ đẹp,
以自莊嚴如鑄金像。
Dĩ tự trang nghiêm như chú kim tượng .
Dùng tự trang nghiêm, giống như tượng vàng đúc.
一一好中流出光明照千 由旬 。肉眼清徹青白分明。常光繞身面百由旬。
Nhất nhất hảo trung lưu xuất quang minh chiếu thiên Do-tuần . Nhục nhãn thanh triệt thanh bạch phân minh . Thường quang nhiễu thân diện bách Do- tuần .
Mỗi một vẻ đẹp hiện ra quang minh chiếu tới 20 nghìn km. Mắt thường trong suốt thanh bạch phân minh. Quang sáng bao thân rộng 2 nghìn km.
日月星宿真珠 摩尼 , 七寶 行樹皆悉明耀現於 佛光 , 其餘眾光不復為用。
Nhật nguyệt tinh tú trân châu Ma-ni , Thất bảo hàng thụ giai tất minh diệu hiện ư Phật quang , kỳ dư chúng quang bất phục vi dụng
Mặt Trời, mặt Trăng, các Sao, Châu quý, Ma ni, hàng cây 7 báu tất cả đều sáng hiện rõ trong ánh quang của Phật, các ánh quang khác không có tác dụng.
佛身高顯如黃金山。見者自然脫三 惡趣 。
Phật thân cao hiển như hoàng kim sơn . Kiến giả tự nhiên thoát Tam ác thú
Thân Phật hiện cao lớn như núi vàng. Người nhìn thấy, tự nhiên thoát Ba đường dữ.
爾時 彌勒 諦觀世間 五欲 過患。眾生受苦沈沒長流在大生死甚可憐愍。
Nhĩ thời Di Lặc đế quan Thế gian Ngũ dục quá hoạn . Chúng sinh thụ khổ trầm một trường lưu tại đại sinh tử thậm khả lân mẫn.
Thời đó Di Lặc nhìn rõ quá nhiều 5 dục thành hoạn nạn của Thế gian. Chúng sinh chịu khổ, chìm nổi lưu chuyển lâu dài trong Sinh Tử, rất là xót thương.
自以如是 正念 觀察苦空 無常 , 不樂在家, 厭家迫迮猶如牢獄。
Tự dĩ như thị Chính niệm quan sát Khổ Không Vô- thường, bất lạc tại gia ,yếm gia bách sạ 迮do như lao ngục .
Dùng suy nghĩ đúng, quan sát Khổ không, Vô- thường, không muốn tại gia, áp lực bức bách của gia đình giống như ngục tù.
時儴佉王共諸大臣 國土 人民。持 七寶 臺。有千寶帳及千寶軒。
Thời Tương- khư Vương cộng chư Đại thần quốc độ nhân dân , trì Thất bảo Đài hữu thiên bảo trướng cập thiên bảo hiên ,
Khi đó Vương Tương- khư cùng với đại thần nhân dân trong nước mang Đài 7 báu, có nghìn trướng báu và nghìn xe báu,
千億寶鈴 , 千億寶旛, 寶器千口寶甕千口 , 奉上 彌勒 。
thiên ức bảo linh , thiên ức bảo phan , bảo khí thiên khẩu bảo úng thiên khẩu phụng thượng Di Lặc .
nghìn triệu Linh báu, nghìn triệu Phan báu, khí cụ báu nghìn cái, bình báu nghìn cái dâng lên Di Lặc .
彌勒受已施諸 婆羅門 。婆羅門受已即便毀壞各共分之。
Di Lặc thụ dĩ thí chư Bà-la-môn . Bà-la-môn thụ dĩ tức tiện hủy hoại các cộng phần chi .
Di Lặc nhận xong cho các Bà- la- môn. Bà- la- môn nhận xong tức thời huỷ bỏ, cùng phân tách ra.
諸 婆羅門 觀見 彌勒 能作大施生大奇特心。彌勒 菩薩 見此寶臺須臾 無常 。
Chư Bà-la-môn quan kiến Di Lặc năng tác đại Thí sinh đại kỳ đặc tâm . Di Lặc Bồ-tát kiến thử bảo Đài tu du Vô- thường .
Các Bà- la- môn nhìn thấy Di Lặc năng làm việc lớn bố Thí sinh tâm đặc biệt. Di Lặc Bồ- tát nhìn thấy Đài báu đó nhanh chóng biến đổi thay.
知有為法皆悉磨滅。修 無常想 。
Tri Hữu- vi Pháp giai tất ma diệt , tu Vô thường tưởng .
Biết Pháp nhìn nghe sờ thấy, tất cả đều diệt dần, tu hành ý tưởng Vô thường (đổi thay).
讚過去佛清涼甘露 無常 之偈。
Tán Quá khứ Phật Thanh lương Cam- lộ Vô- thường chi kệ .
Khen ngợi Phật Quá khứ Cam- lộ sạch mát Vô- thường bằng bài kệ:
諸行 無常 是生滅法 生滅滅已 寂滅為樂
Chư hành Vô- thường , thị sinh diệt Pháp , sinh diệt diệt dĩ , tịch diệt vi lạc.
Các hành biến đổi, Pháp sinh diệt đó, đã diệt sinh diệt, lặng diệt được vui.
說此偈已 , 出家學道。
Thuyết thử kệ dĩ , xuất gia học Đạo.
Nói xong kệ đó, xuất gia học Đạo.
坐於金剛莊嚴 道場 龍花 菩提樹 下。枝如寶龍吐百寶華。
Tọa ư Kim cương trang nghiêm Đạo tràng Long- hoa Bồ-đề thụ hạ . Chi như bảo Long thổ bách bảo hoa .
Ngồi trong Đạo tràng Kim cương trang nghiêm dưới cây Bồ- đề Long- hoa, cành như Rồng quý, tuôn ra trăm hoa báu.
一一花葉作 七寶 色。色色異果適眾生意。
Nhất nhất hoa diệp tác Thất bảo sắc . Sắc sắc dị quả thích chúng sinh ý .
Mỗi một cánh hoa, tạo thành 7 sắc báu, sắc quả khác nhau, thay đổi theo ý thích của chúng sinh.
天 上人 間為無有比。樹高五十 由旬 , 枝葉四布放大光明。
Thiên thượng nhân gian vi vô hữu tỉ . Thụ cao ngũ thập Do-tuần , chi diệp tứ bố phóng đại quang minh .
Trên Trời người thế gian được cây hiếm có, cây cao 1.000 km, cành lá bốn bề, phóng quang minh lớn.
爾時 彌勒 與八萬四千 婆羅門 俱詣 道場 。彌勒即自剃髮出家學道。
Nhĩ thời Di Lặc dữ bát vạn tứ thiên Bà-la-môn câu nghệ Đạo tràng . Di Lặc tức tự thế phát xuất gia học Đạo.
Khi đó Di Lặc và 8 vạn 4 nghìn Bà- la- môn cùng nhau tới Đạo tràng. Di Lặc tức thì tự cắt tóc xuất gia học Đạo.
早起出家 , 即於是日初夜降四種魔。
Tảo khởi xuất gia , tức ư thị nhật sơ dạ hàng Tứ chủng ma.
Sáng sớm mới xuất gia, tức thì ngay trước nửa đêm hôm đó, hàng phục 4 Ma (1. Phiền não Ma: Tham lam, hận thù, ngu si. kiêu mạn, Tham là gốc. 2. Ngũ âm Ma: Sắc thân(bản thân), thu nhận, suy tưởng, thực hành, nhận thức. 3.Tử Ma: chết là sợ hãi nhất. 4. Thiên Ma: dứt bỏ Phúc báo của Trời Người, học Đạo xuất thế gian ).
成阿耨多羅三藐三 菩提 。即說偈言。
Thành A-nậu-đa-la tam-miệu-tam Bồ-đề . Tức thuyết kệ ngôn.
Thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Phật Bồ- đề) . Tức thì thuyết kệ rằng:
久念眾生苦 欲拔無由脫
Cửu niệm chúng sinh khổ , dục bạt vô do thoát
Xưa nghĩ chúng sinh khổ, không biết cách giải thoát.
今者證 菩提 霍然無所礙
Kim giả chứng Bồ-đề , hoắc nhiên vô sở ngại
Ngày nay chứng Bồ- đề, thoải mái không trở ngại.
亦達眾生空 本性相如實
Diệc đạt chúng sinh không , bản Tính Tướng như thực
Hiểu chúng sinh là không, bản Tính Tướng như thực.
永更 無憂 苦 慈悲亦無緣
Vĩnh cánh vô ưu khổ , Từ Bi diệc vô duyên
Vĩnh không tăng lo khổ, Từ Bi cũng vô duyên.
本為救汝等 國城及頭目
Bản vi cứu Nhữ đẳng , quốc thành cập đầu mục.
Chủ yếu cứu các Ngài, Quốc thành người đứng đầu,
妻子與手足 施人無有數
Thê tử dữ thủ túc , Thí nhân vô hữu số .
Vợ con và anh em, bố Thí rất nhiều người.
今始得解脫 無上 大寂滅
Kim thủy đắc Giải thoát , Vô Thượng đại Tịch diệt
Xưa nay được Giải thoát, Bình Đẳng Tĩnh lặng diệt.
當為汝等說 廣開甘露道
Đương vị Nhữ đẳng thuyết , quảng khai Cam- lộ Đạo
Đang vì các Ngài thuyết, rộng mở Đạo giữ Giới .
如是大 果報 皆從施戒慧
Như thị đại quả báo , giai tòng Thí Giới Tuệ .
Quả báo lớn như thế, đều do Thí Giới Tuệ.
六種大忍生 亦從大慈悲
Lục chủng đại Nhẫn sinh , diệc tòng Đại Từ Bi
Sinh sáu loại Nhẫn lớn, cũng từ Đại Từ Bi.
無染 功德 得
Vô nhiễm Công đức đắc
Được công đức trong sạch.
說此偈已默而住。時諸天龍鬼神王不現其身 , 而雨天花供養於佛。
Thuyết thử kệ dĩ mặc nhi trụ. Thời chư Thiên Long Quỷ Thần Vương bất hiện kỳ thân , nhi vú Thiên hoa cúng dưỡng ư Phật .
Thuyết xong kệ đó đứng im lặng. Khi đó Trời, Rồng, Quỷ, Thần, Vương không hiện thân của họ mà rắc hoa Trời cúng dưỡng Phật.
三千 大千世界 六變震動。 佛身 出光照於無量。應可度者皆得 見佛 。
Tam thiên Đại thiên Thế giới lục biến chấn động . Phật thân xuất quang chiếu ư vô lượng . Ưng khả độ giả giai đắc kiến Phật .
Ba nghìn Đại thiên Thế giới 6 loại chấn động. Thân Phật phát quang chiếu sáng vô lượng . Người có thể được độ đều được gặp Phật.
爾時 釋提桓因 護世 天王 。 大梵天王 無數 天子 。於花林園頭面禮足。合掌勸請轉於 法輪 。
Nhĩ thời Thích-đề-hoàn-nhân hộ thế Thiên-vương. Đại Phạm Thiên -vương vô số Thiên Tử . Ư Hoa- lâm viên đầu diện lễ túc, hợp chưởng khuyến thỉnh Chuyển ư Pháp luân .
Khi đó Ngọc hoàng Thượng đế, hộ thế 4 Thiên-vương, Đại Phạm Thiên -vương, vô số Thiên Tử ở vườn Hoa- lâm, đỉnh lễ Phật hoàn tất, chắp tay mời Phật thuyết Pháp.
時 彌勒 佛默然受請。告 梵王 言:
Thời Di Lặc Phật mặc nhiên thụ thỉnh . Cáo Phạm-vương ngôn :
Lúc đó Phật Di Lặc mặc nhiên nhận lời. Bảo Phạm-vương rằng:
我於長夜受大苦惱修行 六度 。始於今日 法海 滿。
Ngã ư trường dạ thụ đại khổ não tu hành Lục- độ. Thủy ư kim nhật Pháp hải mãn.
Ta ở lâu dài trong tối nhận khổ não lớn, tu hành Đạo Bồ- tát. Từ xưa tới nay được đầy đủ mọi Pháp,
建法幢擊 法鼓 吹法螺 雨法雨。正爾當為汝等說法。
Kiến PhápTràng kích Pháp Cổ xuy Pháp loa vú Pháp Vũ . Chính nhĩ đương vị Nhữ đẳng thuyết Pháp .
Xây Pháp Bảo, gõ Trống Pháp, thổi Loa Pháp, tưới Mưa Pháp. Chính vì thế đang vì các Ngài thuyết Pháp.
諸佛所轉 八聖 道輪。諸天世人無能轉者。
Phật sở chuyển Bát Thánh Đạo luân . Chư Thiên Thế nhân vô năng chuyển giả 。
Bát Thánh đạo được các Phật thuyết, Trời Người đời không thể làm được.
其義平等直至無上無為寂滅。為諸眾生斷長夜苦。
Kỳ nghĩa bình đẳng trực chí Vô Thượng Vô- vi Tịch- diệt . Vị chư chúng sinh đoạn trường dạ khổ .
Nghĩa Pháp bình đẳng thẳng tới Bình Đẳng Bồ- đề Tĩnh lặng diệt, vì các chúng sinh diệt hết khổ lâu dài trong tối.
此法甚深難得難入難信難解。
Thử Pháp thậm thâm nan đắc nan nhập nan tín nan giải 。
Pháp đó thâm sâu khó được, khó thâm nhập, khó tin, khó hiểu.
一切世間無能知者無能見者洗除心垢得萬 梵行 。
Nhất thiết Thế gian vô năng tri giả vô năng kiến giả tẩy trừ tâm cấu đắc vạn Phạm hành.
Tất cả thế gian không thể biết được, không thể thấy được, tẩy trừ tâm uế được vạn Phạm hành.
說是語時 , 復有他方無數百千萬億 天子 天女。
Thuyết thị ngữ thời , phục hữu tha phương vô số bách thiên vạn ức Thiên Tử Thiên Nữ,
Khi nói lời đó lại có vô số trăm nghìn vạn triệu Thiên Tử Thiên Nữ của các phương khác,
大 梵天王 乘天宮殿 , 持天花香奉獻 如來 。
Đại Phạm Thiên -vương thừa Thiên cung điện . Trì Thiên hoa hương phụng hiến Như Lai .
Đại Phạm Thiên -vương ngồi cung điện Trời cầm hương hoa Trời dâng hiến Như Lai .
繞百千匝 , 五體投地 合掌勸請。
Nhiễu bách thiên tạp , ngũ thể đầu địa hợp chưởng khuyến thỉnh 。
Vây quanh trăm nghìn vòng, phục đỉnh lễ Phật, chắp tay mời Phật.
諸天伎樂不鼓自鳴。時諸 梵王 異口同聲 , 而說偈言:
Chư Thiên kĩ nhạc bất cổ tự minh . Thời chư Phạm-vương dị khẩu đồng thanh, nhi thuyết kệ ngôn :
Các âm nhạc Trời không đánh tự kêu. Các Phạm-vương khác người cùng âm mà thuyết kệ rằng:
無量無數歲 空過無有佛
Vô lượng vô số tuế , không quá vô hữu Phật
Vô lượng vô số năm, không có Phật xuất thế,
眾生墮惡道 世間眼 目滅
Chúng sinh đọa ác Đạo , Thế gian Nhãn mục diệt .
Chúng sinh đoạ Đạo ác, nhạt dần Pháp xuất thế,
三惡道增廣 諸天路永絕
Tam ác Đạo tăng quảng , chư Thiên lộ vĩnh tuyệt .
Ba Đạo ác phát rộng, vĩnh đoạn đường lên Trời.
今日佛興世 三惡道 殄滅
Kim nhật Phật hưng thế , Tam ác Đạo điển diệt
Ngày nay Phật xuất thế, diệt hết Ba đường ác.
增長天人眾 願 開甘露門
Tăng trưởng Thiên nhân chúng , nguyện khai Cam- Lộ môn
Người Trời tăng thêm nhiều, xin mở môn Giới Tịnh,
令眾心 無著 疾疾得 涅槃
Linh chúng tâm vô trước , tật tật đắc Niết- bàn
Giúp các Tâm cố chấp, nhanh chóng được Niết- bàn.
我等諸 梵王 聞佛 出世間
Ngã đẳng chư Phạm-vương , văn Phật xuất thế gian
Chúng con các Phạm-vương, nghe Phật xuất thế gian .
今者得值佛 無上 大法王
Kim giả đắc trực Phật , Vô Thượng Đại Pháp Vương
Ngày nay được gặp Phật, Bình đẳng Đại Pháp Vương.
梵天宮殿盛 身光亦明顯
Phạm Thiên cung điện thịnh , Thân quang diệc minh hiển
Cung điện Phạm phát triển, quang Thân sáng tỏ hơn.
普為 十方 眾 勸請 大導師
Phổ vị thập phương chúng , khuyến thỉnh Đại Đạo Sư
Vì chúng sinh10 phương, thỉnh cầu Đại Đạo Sư.
唯願開甘露 轉 無上法輪
Duy nguyện khai Cam lộ , Chuyển Vô Thượng Pháp luân
Xin mở Pháp Giới Tịnh, thuyết Đạo Pháp Bình Đẳng.
說此偈已 頭面作禮 , 復更合掌慇懃三請。
Thuyết thử kệ dĩ đầu diện tác lễ , phục cánh hợp chưởng ân cần tam thỉnh 。
Nói xong kệ đó, phục đỉnh lễ Phật, lại chắp tay ân cần mời 3 lần.
唯願 世尊 , 轉於甚深微 妙法輪 。
Duy nguyện Thế Tôn , Chuyển ư thậm thâm vi diệu Pháp luân .
Mong muốn Thế Tôn thuyết Pháp thâm sâu vi diệu.
為拔眾生苦惱根栽 , 遠離 三毒 破 四惡道 不善之業。
Vị bạt chúng sinh khổ não căn tài , viễn ly Tam độc phá Tứ ác Đạo bất thiện chi Nghiệp .
Vì trừ diệt khổ não Căn tội của chúng sinh, xa rời Tam độc (tham lam thù hận ngu si), phá Tứ ác Đạo (Địa ngục, Quỷ đói, Súc sinh, A-tu-la ) Nghiệp không thiện.
爾時 世尊 為諸 梵王 , 即便微笑出 五色 光 , 默然許之。
Nhĩ thời Thế Tôn vị chư Phạm-vương , tức tiện vi tiếu xuất ngũ sắc quang , mặc nhiên hứa chi.
Khi đó Thế Tôn vì các Phạm-vương, tức thì mỉn cười phát ra quang ngũ sắc mặc nhiên nhận lời.
時諸 天子 無數大眾 , 聞佛許可歡喜無量遍體踊躍。
Thời chư Thiên Tử vô số Đại chúng , văn Phật hứa khả hoan hỉ vô lượng biến thể dũng dược .
Thời các Thiên Tử vô số Đại chúng nghe Phật hứa nhận, vô cùng vui mừng, thân thể dũng mãnh.
譬如孝子新喪慈父忽然還活。大眾歡喜亦復如是。
Thí như hiếu Tử tân tang Từ Phụ hốt nhiên hoàn hoạt . Đại chúng hoan hỉ diệc phục như thị .
Ví như con hiếu mới an táng Cha nhân từ, hốt nhiên sống lại. Mọi người vui mừng cũng giống như thế.
時諸 天眾 右遶 世尊 經無數匝 , 敬愛無厭却住一面。
Thời chư Thiên chúng hữu nhiễu Thế Tôn kinh vô số tạp, kính ái vô yếm khước trụ nhất diện .
Khi đó các người Trời vô cùng kính trọng, vây quanh Thế Tôn nhiều vòng qua từ phía phải, lùi đứng một bên.
爾時大眾皆作是念 : 雖復千億歲受 五欲 樂 , 不能得免 三惡道 苦。
Nhĩ thời Đại chúng giai tác thị niệm : Tu y phục thiên ức tuế thụ Ngũ dục lạc , bất năng đắc miễn Tam ác Đạo khổ ,
Khi đó mọi người đều nghĩ là: Tuy có được nghìn vạn triệu năm, vui nhận 5 dục, không thể miễn thoát được Ba đường dữ khổ.
妻子財產所不能救。世間 無常 命難久保。
Thê tử tài sản sở bất năng cứu . Thế gian Vô thường mệnh nan cửu bảo.
Không thể cứu được vợ con tài sản. Thế gian thay đổi mệnh khó bảo toàn lâu dài.
我等今者於 佛法 中淨修 梵行 。作是念已復更念言。
Ngã đẳng kim giả ư Phật Pháp trung tịnh tu Phạm hành . Tác thị niệm dĩ phục cánh niệm ngôn.
Chúng ta ngày nay ở trong Pháp Phật, tịnh tu Phạm hành, nghĩ như thế xong lại nghĩ tiếp,
設受 五欲 經無數劫如 無想天 , 壽無量億歲 ,
Thiết thụ Ngũ dục kinh vô số Kiếp như Vô- tưởng Thiên , thọ vô lượng ức tuế.
Nếu nhận 5 dục qua vô số Kiếp, giống như cõi Trời Vô- tưởng (không có ý tưởng suy nghĩ còn gọi cõi Trời bốn Không) thọ vô lượng triệu năm.
與諸婇女共相娛樂受細滑觸。
dữ chư cung nữ cộng tương ngu lạc thụ tế hoạt xúc.
cùng vui đùa với các Tiên nữ, nhận cảm xúc không thật nhỏ bằng hạt bụi.
會歸磨滅墮 三惡道 受無量苦。所樂無幾猶如幻化, 蓋不足言。
Hội quy ma diệt đọa Tam ác Đạo thụ vô lượng khổ . Sở lạc vô kỷ do như huyễn hóa , cái bất túc ngôn。
Hết Phúc trở về nhân gian, bị đoạ Ba đường dữ, nhận vô lượng khổ não. Vui thú không được bao nhiêu, giống như giấc mộng, nói sao hết được.
入 地獄 時大火洞然 , 百億萬劫受無量苦求脫叵得。
Nhập Địa ngục thời đại hỏa đỗng nhiên , bách ức vạn Kiếp thụ vô lượng khổ cầu thoát phả đắc .
Lúc vào Địa ngục, lửa to nung đốt trăm triệu vạn kiếp, nhận vô lượng khổ, cầu thoát sao được.
如此長夜苦厄難拔。今日遇佛宜勤精進。
Như thử trường dạ khổ ách nan bạt。Kim nhật ngộ Phật nghi cần Tinh Tiến.
Khó trừ tai ách khổ ải lâu dài trong tối như thế. Ngày nay gặp Phật, nên chuyên cần Tinh Tiến.
時儴佉王高聲唱言 :
Thời Tương- khư Vương cao thanh xướng ngôn :
Khi đó Vương Tương- khư cao giọng đọc rằng:
設復生 天樂 會亦歸磨滅
Thiết phục sinh Thiên lạc , hội diệc quy ma diệt
Sinh cõi Trời hưởng lạc, hết Phúc về Nhân gian.
不久墮 地獄 猶如猛火聚
Bất cửu đọa Địa ngục , do như mãnh hỏa tụ .
Không lâu đoạ Địa ngục, như đám lửa cháy mạnh.
我等宜時速 出家學 佛道
Ngã đẳng nghi thời tốc , xuất gia học Phật Đạo
Chúng ta cần nhanh chóng, xuất gia học Đạo Phật.
說是語已。時儴佉王 , 與八萬四千大臣恭敬圍繞 , 及 四天王 送轉 輪王 , 至花林園龍花樹下。
Thuyết thị ngữ dĩ . Thời Tương Khư Vương , dữ bát vạn tứ thiên Đại thần cung kính vây quanh , cập Tứ Thiên-vương tống Chuyển Luân Vương , chí Hoa- lâm viên Long- hoa thụ hạ 。
Khi nói xong lời đó Vương Tương- khư và 8 vạn 4 nghìn đại thần cung kính vây quanh cùng với 4 Thiên- vương, tiễn Chuyển luân vương tới vườn Hoa- lâm dưới cây Long- hoa.
詣 彌勒 佛求索出家 , 為佛作禮 , 未舉頭頃鬚髮自落袈裟著身, 便成 沙門 。
Nghệ Di Lặc Phật cầu tác xuất gia , vi Phật tác lễ , vị cử đầu khoảnh tu phát tự lạc Già sa trước thân , tiện thành Sa Môn .
Tới nơi Di Lặc Phật xin được xuất gia đỉnh lễ Phật, chưa kịp ngước đầu râu tóc tự nhiên biến mất mặc áo Già- sa, liền biến thành Sa môn.
時 彌勒 佛共儴佉王, 與八萬四千大臣諸 比丘 等恭敬圍繞 , 并與無數 天龍八部 ,入翅頭末城 , 足躡門閫。
Thời Di Lặc Phật cộng Tương Khư Vương , dữ bát vạn tứ thiên Đại thần chư Tì-kheo đẳng cung kính vây quanh , tịnh dữ vô số Thiên Long Bát Bộ , nhập Sí- đầu-mạt thành , túc niếp môn khổn.
Khi đó Di Lặc Phật cùng Vương Tương- khư và 8 vạn 4 nghìn Đại thần Tì- kheo Tăng cung kính vây quanh tất cả vô số Trời Rồng Bát bộ vào thành Sí-đầu-mạt qua các cổng thành.
娑婆世界 六種震動 , 閻浮提 地化為金色。
Sa- bà Thế giới lục chủng chấn động , Diêm-phù-đề địa hóa vi kim sắc .
Sa- bà Thế giới 6 loại chấn động, đất Diêm- phù- đề hoá thành màu vàng.
翅頭末大城中央其地金剛, 有過去諸佛所坐金剛寶座, 自然踊出眾寶行樹。
Sí- đầu- mạt đại thành trung ương kỳ địa Kim cương , hữu Quá khứ chư Phật sở tọa Kim cương bảo tọa tự nhiên dũng xuất chúng bảo hàng thụ 。
Nơi đất kim cương chính giữa thành lớn Sí- đầu- mạt , có toà kim cương báu được các Phật quá khứ ngồi, tự nhiên xuất hiện các hàng cây báu.
天於空中雨 大寶華 。 龍王 作眾伎樂 , 口中吐華毛孔雨華用供養佛。
Thiên ư không trung vú đại bảo hoa . Long-vương tác chúng kĩ nhạc , khẩu trung thổ hoa mao khổng vú hoa dụng cúng dường Phật 。
Trời trên không trung rắc các hoa báu lớn. Long-vương tạo thành các âm nhạc, miệng nhả ra hoa, lỗ chân lông tuôn hoa dùng để cúng dưỡng Phật.
佛於此座轉正 法輪 。謂是苦 苦聖諦 , 謂是集集聖諦 , 謂是滅滅聖諦 , 謂是道道聖諦。
Phật ư thử tòa Chuyển chính Pháp luân , vị thị Khổ Khổ Thánh đế , vị thị Tập Tập Thánh đế , vị thị Diệt Diệt Thánh đế , vị thị Đạo Đạo Thánh đế .
Phật ngồi trên toà đó thuyết Pháp. Như là khổ, khổ Thánh đế. Như là tập, tập Thánh đế. Như là diệt, diệt Thánh đế. Như là Đạo, Đạo Thánh đế .
并為演說三十七品助 菩提 法。
Tịnh vị diễn thuyết Tam thập thất phẩm trợ Bồ-đề Pháp.
Diễn thuyết tất cả 37 phẩm trợ Pháp Bồ- đề.
亦為宣說十 二因 緣 : 無明緣行 , 行緣識, 識緣名色 ,
Diệc vi tuyên thuyết thập nhị Nhân duyên : Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức , Thức duyên Danh sắc 。
Cũng tuyên thuyết mười hai Nhân duyên : Ngu tối theo Hành động, Hành động theo Nhận thức, Nhận thức theo Danh sắc (sắc thụ tưởng hành thức phụ thuộc vào Sắc thân)
名色緣 六入 , 六入緣觸 , 觸緣受, 受緣愛 , 愛緣取 ,
Danh sắc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Xúc , Xúc duyên Thụ , Thụ duyên Ái, Ái duyên Thủ ,
Danh sắc theo Sáu trần( sắc thanh hương vị xúc pháp) , Sáu trần theo Cảm xúc, Cảm xúc theo Thu nhận, Thu nhận theo Yêu thích, Yêu thích được Giữ lại,
取緣有 , 有緣生 , 生緣老死憂悲苦惱等。
Thủ duyên Hữu , Hữu duyên Sinh , Sinh duyên Lão Tử Ưu Bi Khổ Não đẳng .
Giữ lại thì Có, Có thì Sinh, Sinh thì Già Chết Lo âu Bi thương Khổ ải Phiền não
爾時大地 六種震動 。
Nhĩ thời Đại địa lục chủng chấn động .
Khi đó trái đất 6 loại chấn động.
如此音 聲聞 于 三千大千世界 。復過是數無量無邊。
Như thử âm Thanh văn vu Tam thiên Đại thiên Thế giới . Phục quá thị số vô lượng vô biên .
Âm thanh như thế nghe được ở Ba nghìn Đại thiên Thế giới. Lại cũng vượt qua tới vô lượng vô biên .
下至 阿鼻地獄 , 上至阿迦膩吒天。
Hạ chí A-tì Địa ngục , thượng chí A- ca- ni- tra Thiên 。
Xuống tới Địa ngục A tì, lên tới cõi Trời Hữu đỉnh ( đỉnhTrời).
時 四天王 各各將領無數鬼神 , 高聲唱言 : 佛日 出時降法雨露。
Thời Tứ Thiên-vương các các tướng lĩnh vô số Quỷ Thần , cao thanh xướng ngôn : Phật nhật xuất thời giáng Pháp vũ Lộ.
Khi đó 4 Thiên-vương vô số các tướng lĩnh, Quỷ Thần cao giọng đọc rằng: Ngày Phật xuất thế, giáng mưa Pháp Cam- lộ .
世間眼目今者始開。
Thế gian Nhãn mục kim giả thủy khai。
Pháp xuất thế gian đã lâu nay khai mở.
普令大地一切八部於佛有緣皆得聞知。三十三天 , 夜摩天 ,
Phổ linh Đại địa nhất thiết Bát- bộ ư Phật hữu duyên giai đắc văn tri . Tam thập tam thiên , Dạ Ma Thiên ,
Giúp khắp Thế gian, tất cả Bát bộ, có duyên với Phật, đều được nghe hiểu. 33 tầng Trời, Dạ- ma Thiên,
兜率陀天 , 化樂天, 他化自在天 , 乃至 大梵天 。
Đâu-xuất-đà Thiên , Hoá- lạc Thiên , Tha- hóa Tự- tại Thiên , nãi chí Đại Phạm Thiên 。
Cõi Trời Đâu-suất- đà , Hoá- lạc, Tha- hoá Tự- tại, thậm chí Đại Phạm.
各各於己所統領處高聲唱言。
Các các ư kỷ sở thống lĩnh xứ cao thanh xướng ngôn :
Các nơi do mình thống lãnh, cao giọng đọc rằng:
佛日出世降注甘露。 世間眼 目今者始開 , 有緣之者皆悉聞知。
Phật nhật Xuất thế giáng chú Cam lộ. Thế gian Nhãn mục kim giả thủy khai , hữu duyên chi giả giai tất văn tri.
Nay Phật xuất thế, giáng mưa Cam-lộ, Pháp xuất thế gian , đã lâu nay khai mở, có duyên với Phật, đều được nghe hiểu.
時諸 龍王 八部 , 山神樹神藥草神水神風神 ,
Thời chư Long-vương Bát- bộ, sơn Thần thụ Thần dược thảo Thần thủy Thần Phong Thần ,
Lúc đó các Long-vương Bát- bộ, Thần núi, Thần cây, Thần cây thuốc, Thần nước, Thần gió,
火神地神城池神屋宅神等。踊躍歡喜高聲唱言。
hỏa Thần địa Thần thành trì Thần ốc trạch Thần đẳng . Dũng dược hoan hỉ cao thanh xướng ngôn :
Thần lửa, Thần đất, Thần thành đầm, Thần nhà cửa đất cát. Vui mừng dũng mãnh, cao giọng đọc rằng:
復有八萬四千諸 婆羅門 , 聰明 大智 , 於 佛法 中亦隨 大王 出家學道。
Phục hữu bát vạn tứ thiên chư Bà-la-môn , thông minh đại Trí , ư Phật Pháp trung diệc tùy Đại vương xuất gia học Đạo.
Lại có 8 vạn 4 nghìn Bà- la- môn thông minh trí lớn ở trong Pháp Phật, theo Đại vương xuất gia học Đạo.
復有長者名須達那。今須達長者是 , 亦與八萬四千人俱共出家。
Phục hữu Trưởng-giả danh Tu- đạt- na . Kim Tu- đạt Trưởng-giả thị , diệc dữ bát vạn tứ thiên nhân câu cộng xuất gia .
Lại có Trưởng- giả tên là Tu- đạt- na, nay là Trưởng- giả Tu- đạt cũng cùng với 8 vạn 4 nghìn người, đều cùng xuất gia.
復有梨師 達多 , 富蘭那兄弟 , 亦與八萬四千人俱共出家。
Phục hữu Lê- sư- đạt- đa , Phú- lan- na huynh đệ , diệc dữ bát vạn tứ thiên nhân câu cộng xuất gia .
Lại có anh em Lê- sư- đạt- đa , Phú- lan- na, cũng cùng với 8 vạn 4 nghìn người, đều cùng xuất gia.
復有二大臣。一名梵檀末利二名 須曼那 。王所愛重。亦與八萬四千人俱。於 佛法 中出家學道。
Phục hữu nhị Đại thần : Nhất danh Phạm- đàn- mạt- lợi , Nhị danh Tu-man-na . Vương sở ái trọng , diệc dữ bát vạn tứ thiên nhân câu . Ư Phật Pháp trung xuất gia học Đạo 。
Cũng có hai Đại thần, một là Phạm- đàn-mạt- lợi, hai là Tu- man- na, được Vương yêu mến kính trọng, cũng cùng với 8 vạn 4 nghìn người, đều ở trong Pháp Phật, xuất gia học Đạo.
轉 輪王 寶女名舍彌婆帝 , 今之 毘舍佉母 是也。亦與八萬四千婇女俱共出家。
Chuyển luân Vương bảo nữ danh Xá-di-bà-đế , kim chi Tì-xá -khư mẫu thị dã , diệc dữ bát vạn tứ thiên cung nữ câu cộng xuất gia 。
Con gái quý của Chuyển luân vương tên là Xá- di- bà- đế, nay là mẹ của Tì- xá- khư, cũng cùng với 8 vạn 4 nghìn cung nữ, đều cùng xuất gia.
儴佉太子名天金色。今提婆婆那長者子是 , 亦與八萬四千人俱共出家。
Tương- khư Thái-Tử danh Thiên- kim- sắc , kim Đề-bà-bà -na Trưởng-giả Tử thị , diệc dữ bát vạn tứ thiên nhân câu cộng xuất gia.
Thái tử của Vương Tương- khư là Thiên- kim- sắc, nay là con trai của Trưởng giả Đề- bà- bà- na, cũng cùng 8 vạn 4 nghìn người đều cùng xuất gia.
彌勒佛親族 婆羅門 子名 須摩提 , 利根智慧 , 今欝多羅善賢 比丘尼 子是。
Di Lặc Phật thân tộc Bà-la-môn Tử danh Tu- ma-đề , lợi Căn Trí tuệ , kim Uất Ta-la- thiện- hiền Tì-kheo-ni Tử thị .
Con trai của Bà- la- môn là Tu- ma- đề thuộc dòng tộc của Di Lặc Phật, lợi Căn Trí tuệ, nay là con trai của nữ Tì- kheo Uất- đa- la- thiện- hiền.
亦與六萬人俱 , 於 佛法 中俱共出家。
Diệc dữ lục vạn nhân câu , ư Phật Pháp trung câu cộng xuất gia.
Cũng cùng với 6 vạn người, ở trong Pháp Phật, đều cùng xuất gia.
穰佉王千子唯留一人用嗣王位。
Tương- khư Vương thiên Tử duy lưu nhất nhân dụng tự Vương vị.
Nghìn con trai của vương Tương- khư, chỉ giữ lại một người kế tục Vương vị,
餘九百九十九人, 亦與八萬四千人, 於 佛法 中俱共出家。
dư cửu bách cửu thập cửu nhân , diệc dữ bát vạn tứ thiên nhân , ư Phật Pháp trung câu cộng xuất gia .
còn 999 người khác cũng cùng 8 vạn 4 nghìn người ở trong Pháp Phật, đều cùng xuất gia.
如是等無量億眾 , 見世苦惱五陰熾然。皆於 彌勒 佛法 中俱共出家。
Như thị đẳng vô lượng ức chúng , kiến Thế khổ não Ngũ uẩn sí nhiên , giai ư Di Lặc Phật Pháp trung câu cộng xuất gia .
Vô lượng triệu chúng sinh như thế thấy đời khổ não Ngũ uẩn quá thịnh đều trong Pháp của Phật Di Lặc , cùng nhau xuất gia.
爾時 彌勒 佛以大慈心語諸大眾言:
Nhĩ thời Di Lặc Phật dĩ Đại Từ tâm ngữ chư Đại chúng ngôn :
Khi đó Phật Di Lặc dùng tâm Đại Từ, bảo các chúng sinh rằng:
汝等今者不以生 天樂 故。
Nhữ đẳng kim giả bất dĩ sinh Thiên lạc cố.
Các Ngài ngày nay do không sinh lên cõi Trời hưởng lạc.
亦復不為今世樂故來至我所但為 涅槃 常樂 因緣 。
Diệc phục bất vi kim thế lạc cố lai chí Ngã sở đãn vị Niết-bàn thường lạc Nhân duyên .
Cũng lại do không vì hưởng thú vui ở đời, nay tới nơi ở của Ta, chỉ vì Niết- bàn Thường lạc Nhân duyên.
是諸人等皆於 佛法 中種諸善根。 釋迦牟尼佛 出 五濁 世。
Thị chư nhân đẳng giai ư Phật Pháp trung chúng chư thiện Căn . Thích Ca Mâu Ni Phật xuất Ngũ trọc Thế 。
Những người như thế đều ở trong Pháp của Ta trồng các Căn lành. Thích Ca Mâu Ni Phật xuất thế trong đời Ngũ trọc ác .
種種呵責為汝說法 , 無奈汝何教植來緣 , 今得見我。
Chủng chủng ha trách vị Nhữ thuyết Pháp , vô nại Nhữ hà giáo thực lai duyên , kim đắc kiến Ngã .
Gánh vác nhiều trọng trách vì các Ngài thuyết Pháp, dạy các Ngài không mệt mỏi, duyên trồng đã tới, nay được thấy Ta.
我今攝受是諸人等。或以讀誦分別決定 修多羅 毘尼 阿毘曇 。
Ngã kim nhiếp thụ thị chư nhân đẳng . Hoặc dĩ độc tụng phân biệt quyết định Tu-đa-la Tì- ni A-tì-đàm .
Ta nay thu nhận những người đó. Hoặc do đọc tụng phân biệt quyết định Kinh Viên Giác Tì- ni A -tì- đàm.
為他演說讚歎義味 , 不生嫉妬教於他人令得受持 , 修諸 功德 來生我所。
Vị tha diễn thuyết tán thán nghĩa vị , bất sinh tật đố giáo ư tha nhân linh đắc thụ trì, tu chư công đức lai sinh Ngã sở.
Vì người diễn thuyết, ca ngợi ý nghĩa, không sinh đố kị, dạy người khác giúp họ ghi nhớ, tu các công đức , nay tới sinh nơi Ta ở.
或以衣食施人持戒智慧 , 修此 功德 來生我所。
Hoặc dĩ y thực Thí nhân trì Giới Trí tuệ , tu thử công đức lai sinh Ngã sở .
Hoặc dùng quần áo thực phẩm bố Thí, người giữ Giới Trí tuệ tu công đức đó, nay tới sinh nơi Ta ở.
或以妓樂旛蓋華香燈明供養於佛 , 修此 功德 來生我所。
Hoặc dĩ kĩ nhạc phan cái hoa hương đăng minh cúng dưỡng ư Phật , tu thử công đức lai sinh Ngã sở .
Hoặc dùng âm nhạc phan cái hoa hương đốt đèn cúng dưỡng Phật, tu công đức đó, nay tới sinh nơi Ta ở.
或以施僧常食, 起立僧房 四事供養 , 持 八戒 齋修習慈心 , 行此 功德 來生我所。
Hoặc dĩ Thí Tăng thường thực , khởi lập Tăng phòng Tứ sự cúng dưỡng , trì Bát Giới trai tu tập Từ tâm , hành thử công đức lai sinh Ngã sở .
Hoặc thường dùng thực phẩm bố thí Tăng, xây dựng nơi Tăng ở, Tứ sự cúng dưỡng, giữ 8 trai Giới, tu tập tâm Từ Bi, thực hành các công đức đó, nay tới sinh nơi Ta ở.
或為苦惱眾生深生慈悲 , 以身代受令其得樂 , 修此 功德 來生我所。
Hoặc vị khổ não chúng sinh thâm sinh Từ Bi , dĩ thân đại thụ linh kỳ đắc lạc , tu thử công đức lai sinh Ngã sở.
Hoặc vì chúng sinh khổ não, sinh Từ Bi sâu nặng, dùng thân nhận thay khổ, giúp họ được vui, tu công đức đó, nay tới sinh nơi Ta ở.
或以持戒忍辱修淨慈心 , 以此 功德 來生我所。
Hoặc dĩ trì Giới Nhẫn nhục tu Tịnh Từ tâm , dĩ thử công đức lai sinh Ngã sở.
Hoặc dùng giữ Giới Nhẫn nhục, tu tâm Từ Bi Thanh tịnh, dùng công đức đó nay tới sinh nơi Ta ở.
或造僧祇四方無礙齋講設會供養飯食。修此 功德 來生我所。
Hoặc tạo Tăng kỳ tứ phương vô ngại trai giảng thiết hội cúng dưỡng phạn thực , tu thử công đức lai sinh Ngã sở .
Hoặc tạo lập hội giảng ‘Trai giới’ không quản ngại cúng dưỡng cơm canh Tăng 4 phương, tu công đức đó nay tới sinh nơi Ta ở.
或以持戒多聞 , 修行 禪定 無漏智 慧 , 以此 功德 來生我所。
Hoặc dĩ trì Giới đa văn , tu hành Thiền- định Vô- lậu Trí tuệ , dĩ thử công đức lai sinh Ngã sở .
Hoặc dùng giữ Giới nghe nhiều, tu hành Thiền- định, Trí tuệ không còn phiền não , dùng công đức đó, nay tới sinh nơi Ta ở.
或有起塔供養 舍利 念 佛法 身。以此 功德 來生我所。
Hoặc hữu khởi Tháp cúng dưỡng Xá-lợi niệm Phật Pháp thân , dĩ thử công đức lai sinh Ngã sở.
Hoặc xây dựng Tháp cúng dưỡng Xá-lợi, nhớ Pháp thân Phật (tu tĩnh lặng tịch diệt tướng), dùng công đức đó, nay tới sinh nơi Ta ở.
或有厄困貧窮孤獨繫屬於他。王法所加臨當刑戮。
Hoặc hữu ách khốn bần cùng cô độc hệ thuộc ư tha . Vương pháp sở gia lâm đương hình lục .
Hoặc bị khốn ách, bần cùng cô độc lệ thuộc người khác. Lại bị gia thêm Vương pháp sắp đang tử hình,
作 八難 業受大苦惱拔濟彼等令得解脫。修此 功德 來生我所。
tác bát nạn Nghiệp thụ đại khổ não bạt tế bỉ đẳng linh đắc Giải thoát , tu thử công đức lai sinh Ngã sở .
tạo nghiệp Bát nạn, nhận khổ não lớn, cứu giúp Giải thoát họ, tu công đức đó, nay tới sinh nơi Ta ở.
或有恩愛別離朋黨諍訟極大苦惱 , 以方便力令得和合 , 修此 功德 來生我所。
Hoặc hữu ân ái biệt ly bằng đảng tranh tụng cực đại khổ não , dĩ Phương- tiện Lực linh đắc hòa hợp , tu thử công đức lai sinh Ngã sở.
Hoặc có ân ái ly biệt, băng đảng đấu tố, rất là khổ não, dùng lực Phương- tiện, giúp được hoà hợp, nay tới sinh nơi Ta ở.
說是語已。稱讚 釋迦牟尼佛 。善哉善哉! 能於五 濁惡世 。
Thuyết thị ngữ dĩ . Xưng tán Thích Ca Mâu Ni Phật ! Thiện tai, thiện tai ! năng ư Ngũ trọc ác Thế .
Nói xong lời đó, xưng tên ca ngợi Thích Ca Mâu Ni Phật . Thiện thay, thiện thay! năng ở đời Ngũ trọc ác.
教化如是等百千萬億諸惡眾生。令修善本來生我所。
Giáo hóa như thị đẳng bách thiên vạn ức chư ác chúng sinh , linh tu thiện bản lai sinh Ngã sở.
Giáo hoá trăm nghìn vạn triệu các chúng sinh ác như thế, giúp tu bản thiện, nay tới sinh nơi Ta ở.
時 彌勒 佛如是三稱讚 釋迦牟尼佛 , 而說偈言:
Thời Di Lặc Phật như thị tam xưng tán Thích Ca Mâu Ni Phật , nhi thuyết kệ ngôn:
Khi đó Di Lặc Phật 3 lần ca ngợi Thích Ca Mâu Ni Phật và thuyết kệ rằng:
忍辱勇猛 大導師 能於 五濁 不善世
Nhẫn nhục dũng mãnh Đại Đạo sư , năng ư Ngũ trọc bất thiện thế .
Nhẫn nhục dũng mãnh Đại Đạo sư , năng ở đời ác Ngũ trọc uế.
教化成熟惡眾生 令彼修行得 見佛
Giáo hóa thành thục ác chúng sinh , linh bỉ tu hành đắc kiến Phật .
Giáo hoá thành thục chúng sinh ác, giúp họ tu hành được gặp Phật.
荷負眾生受大苦 今入常樂無為處
Hà phụ chúng sinh thụ đại khổ , kim nhập Thường- lạc Vô-vi xứ .
Gánh nhận khổ lớn của chúng sinh, nay nhập xứ Thường lạc Vô- vi.
教彼弟子來我所 我今為汝說 四諦
Giáo bỉ đệ-tử lai Ngã sở , Ngã kim vị Nhữ thuyết Tứ- đế
Dạy đệ tử đó tới chỗ Ta. Ta nay vì Ngài thuyết Tứ- đế.
亦說三十七 菩提 莊嚴 涅槃 十二緣
Diệc thuyết Tam thập thất Bồ-đề , trang nghiêm Niết-bàn Thập nhị duyên
Cũng thuyết 37 trợ phẩm Bồ- đề, trang nghiêm Niết- bàn 12 nhân duyên .
汝等宜當觀無為 入於 空寂 本無處
Nhữ đẳng nghi đương quan Vô-vi , nhập ư không tịch bản vô xứ .
Các Ngài tuỳ ý xem Vô- vi, nhập nơi ‘gốc không tĩnh lặng diệt’.
說此偈已 , 復更讚歎彼時眾生於苦惡世能為難事。
Thuyết thử kệ dĩ , phục cánh tán thán bỉ thời chúng sinh ư khổ ác thế năng vi nan sự.
Nói xong kệ đó lại càng tăng thêm ca ngợi chúng sinh thời đó trong đời khổ ác năng làm các việc khó.
貪欲瞋恚愚癡迷惑短命人中 , 能修持戒作諸 功德 , 甚為希有。
Tham dục sân khuể ngu si mê hoặc đoản mệnh nhân trung , năng tu trì Giới tác chư công đức , thậm vi hi hữu .
Tham dục, thù hận, ngu si, mê hoặc, đoản mệnh. Trong số các chúng sinh đó năng tu hành, giữ Giới, làm các công đức thật hiếm có.
爾時眾生不識父母 沙門 婆羅門 , 不知 道法 。
Nhĩ thời chúng sinh bất thức phụ mẫu Sa- môn Bà- la -môn , bất tri Đạo Pháp .
Chúng sinh thời đó không nhận thức cha mẹ, Sa- môn, Bà- la- môn, không biết Đạo Pháp.
互相惱害近刀兵劫 , 深著 五欲 嫉妬諂佞。
Hỗ tương não hại cận đao binh Kiếp , thâm trước Ngũ dục tật đố siểm nịnh .
Não hại lẫn nhau, cận kề kiếp đao binh, thâm chấp Năm dục, gen gét xiểm nịnh.
曲濁邪偽無憐愍心 , 更相殺害食肉飲血。
Khúc trược tà ngụy vô lân mẫn tâm , cánh tương sát hại thực nhục ẩm huyết .
Quanh co dối trá không có tâm xót thương, tăng thêm tàn sát lẫn nhau, ăn thịt uống máu.
不敬師長不識善友, 不知報恩。
Bất kính Sư- trưởng bất thức thiện hữu , bất tri báo ân.
Không kính Sư- trưởng, không biết bạn hiền, không biết báo ân.
生 五濁 世不知慚愧 , 晝夜六時相續作惡不知厭足。
Sinh Ngũ trược Thế bất tri tàm quí , trú dạ lục thời tương tục tác ác bất tri yếm túc .
Sinh đời Ngũ trọc ác, không biết xấu hổ, ngày đêm 6 thời khắc liên tục làm ác, không biết đủ chán gét.
純造不善 五逆 惡聚 , 魚鱗相次求不知厭。九親諸族不能相濟。
Thuần tạo bất thiện Ngũ nghịch ác tụ , ngư lân tương thứ cầu bất tri yếm . Cửu thân chư tộc bất năng tương tế .
Toàn làm việc ác tụ thành tội ác Ngũ nghịch, nhấm nháp vây cá, cầu không biết chán. Thân tộc 9 đời không năng tương trợ cứu giúp.
善哉善哉! 釋迦牟尼佛 , 以 大方便 深厚慈悲。能於苦惱眾生之中。
Thiện tai, thiện tai ! Thích Ca Mâu Ni Phật , dĩ đại Phương tiện thâm hậu Từ Bi , năng ư khổ não chúng sinh chi trung .
Thiện thay, thiện thay! Thích Ca Mâu Ni Phật , dùng Phương tiện lớn, Từ Bi thâm hậu, năng với chúng sinh khổ não.
和顏美色善 巧智慧 , 說誠實語示我當來度脫汝等。如是 導師 明利智慧。
Hòa nhan mỹ sắc thiện xảo Trí tuệ , thuyết thành thực ngữ thị Ngã Đương lai độ thoát Nhữ đẳng . Như thị Đạo sư minh lợi Trí tuệ .
Thân đẹp vui cười, Trí tuệ thiện xảo, lời nói thành thực, nói rõ Ta sắp tới độ thoát các Ngài. Đạo sư Trí tuệ sáng suốt như vậy .
世間希有甚為難遇 , 深心憐愍惡世眾生。
Thế gian hi hữu thậm vi nan ngộ , thâm tâm lân mẫn ác Thế chúng sinh .
Thế gian hiếm có, thật khó gặp được, tâm sâu rộng thương xót chúng sinh trong đời ác.
為拔苦惱令得安穩 , 入第一義甚深 法性 。
Vị bạt khổ não linh đắc an ổn , nhập Đệ nhất Nghĩa thậm thâm Pháp tính .
Vì trừ bỏ khổ não, giúp được an ổn, nhập thâm sâu vào Pháp tính Thực tướng.
釋迦 牟尼 三 阿僧祇 劫。為汝等故修行難行 苦行 , 以頭布施。
Thích Ca Mâu Ni tam A- tăng- kỳ Kiếp , vị Nhữ đẳng cố tu hành nan hành khổ hành , dĩ đầu bố Thí .
Thích Ca Mâu Ni Thích 3 A- tăng- kỳ Kiếp (3.1035 năm) cố vì các Ngài tu hành khó khăn gian khổ,dùng đầu bố Thí.
割截耳鼻手足胑體受諸苦惱。為 八聖 道平等解脫利汝等故。
Cát tiệt nhĩ tị thủ túc (胑)chỉ thể thụ chư khổ não .Vi Bát Thánh Đạo Bình đẳng Giải thoát lợi Nhữ đẳng cố .
Cắt tai mũi chân tay thân thể nhận các khổ não. Được Bát Chính Đạo Bình đẳng, Giải thoát lợi ích các Ngài.
時 彌勒 佛如是開導安慰無量諸眾生等。
Thời Di Lặc Phật như thị khai Đạo an uý vô lượng chư chúng sinh đẳng .
Thời đó Di Lặc Phật mở Đạo như thế, an ủi vô lượng chúng sinh.
令其歡喜。彼時眾生身純是法。心純是法。口常說法。
Linh kỳ hoan hỉ . Bỉ thời chúng sinh thân thuần thị Pháp , tâm thuần thị Pháp, khẩu thường thuyết Pháp .
Giúp họ vui mừng. Chúng sinh thời đó thân tâm thấm nhuần Pháp đó, miệng thường thuyết Pháp.
福德智慧之人充滿其中。天人恭敬信受渴仰。
Phúc đức Trí tuệ chi nhân sung mãn kỳ trung . Thiên Nhân cung kính tín thụ khát ngưỡng .
Người Phúc đức Trí tuệ có đầy ở trong đó. Trời Người cung kính tin nhận khao khát ngưỡng mộ Phật.