TUỆ QUANG 慧光 FOUNDATION http://www.daitangvietnam.com
Nguyên Tánh Trần Tiễn Khanh & Nguyên Hiển Trần Tiễn Huyến Phiên Âm và Lược Dịch
Phật Tử Bùi Đức Huề dịch tiếng Việt 2/2009.
============================================================

佛說 無量壽經 卷上
Phật thuyết Vô Lượng Thọ Kinh quyển thượng (Taisho No. 360)
Phật thuyết Kinh Vô Lượng Thọ Kinh quyển đầu.

曹魏 天竺 三藏 康僧鎧
Tào Ngụy Thiên-Trúc Tam Tạng Khang-tăng-khải dịch.
Tào Ngụy Thiên-Trúc Tam Tạng Khang-tăng-khải dịch.

我聞如是。一時佛住 王舍耆闍崛 山中。
Ngã văn như thị . Nhất thời Phật trú Vương-Xá thành Kì-xà-Quật sơn trung .
Tôi nghe như thế . Thời đó Phật ở tại thành Vương-Xá trong núi Kì-xà-Quật .

與大 比丘 眾萬二千人俱。
Dữ Đại Tỉ-kheo chúng vạn nhị thiên nhân câu.
Cùng các Đại Tỉ-kheo vạn hai nghìn người tham dự .

一切 大聖 神通 已達。
Nhất thiết Đại Thánh Thần thông dĩ đạt .
Tất cả các Đại Thánh đã thông tỏ Thần thông .

其名曰 : 尊者了本際.尊者正願.尊者 正語 .尊者大號.尊者仁賢.尊者離垢.尊者名聞.
Kỳ danh viết : Tôn-Giả Liễu-bản-tế . Tôn-Giả Chính-nguyện .Tôn-Giả Chính-ngữ . Tôn-Giả Đại -hiệu . Tôn-Giả Nhân-hiền . Tôn-Giả Ly-cấu . Tôn-Giả Danh-văn .
Tên họ là: Tôn Giả Liễu BảnTế . Tôn Giả Chính Nguyện . Tôn Giả Chính Ngữ . Tôn Giả Đại Hiệu . Tôn Giả Nhân Hiền . Tôn Giả Ly Cấu . Tôn Giả Danh Văn .

尊者善實.尊者具足.尊者牛王.尊者優樓頻蠡 迦葉
Tôn-Giả Thiện-thực .Tôn-Giả Cụ-túc . Tôn-Giả Ngưu-vương . Tôn-Giả Ưu-lâu-tần-lễ Ca-diệp.
Tôn Giả Thiện Thực .Tôn Giả Cụ Túc . Tôn Giả Ngưu Vương . Tôn Giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diệp.

尊者伽耶 迦葉 .尊者 那提迦葉 .尊者 摩訶迦葉 .尊者 舍利弗
Tôn-Giả Già-da Ca-diệp .Tôn-Giả Na-đề Ca-diệp.Tôn-Giả Ma-ha Ca-diệp. Tôn-Giả Xá-lợi-phất .
Tôn-Giả Già Da Ca Diệp. Tôn Giả Na Đề Ca Diệp. Tôn Giả Ma Ha Ca Diệp. Tôn Giả Xá Lợi Phất .

尊者大目揵連.尊者 劫賓那 .尊者大住.尊者大淨志.尊者摩 訶周那.
Tôn-Giả Đại Mục-kiền-liên . Tôn-Giả Kiếp-tân-na . Tôn-Giả Đại-trụ . Tôn-Giả Đại tịnh chí. Tôn-Giả Ma-ha Chu-na .
Tôn-Giả Đại Mục Kiền Liên . Tôn-Giả Kiếp Tân Na . Tôn-Giả Đại Trụ . Tôn-Giả Đại Tịnh Chí. Tôn-Giả Ma Ha Chu Na .

尊者滿願子.尊者離障閡.尊者流灌.尊者堅伏.尊者面王.尊者果乘.
Tôn-Giả Mãn-nguyện-tử . Tôn-Giả Ly -chướng-ngại . Tôn-Giả Lưu-quán . Tôn-Giả Kiên-phục Tôn-Giả Diện- vương . Tôn-Giả Quả-thừa .
Tôn-Giả Mãn Nguyện Tử . Tôn-Giả Ly Chướng Ngại . Tôn-Giả Lưu Quán . Tôn-Giả Kiên Phục Tôn-Giả Diện Vương . Tôn-Giả Quả Thừa .

尊 者仁性.尊者喜樂.尊者善來.尊者 羅云 .尊者 阿難 。皆如斯等上首者也。
Tôn-Giả Nhân tính. Tôn-Giả Thiện-lạc . Tôn-Giả Thiện-lai . Tôn-Giả La-vân . Tôn-Giả A-nan . Giai như tư đẳng thượng thủ giả dã.
Tôn-Giả Nhân Tính. Tôn-Giả Thiện Lạc . Tôn-Giả Thiện Lai . Tôn-Giả La Vân . Tôn-Giả A Nan . Đều là những người đứng hàng đầu.

又與 大乘菩薩 俱。 普賢菩薩 .妙德菩薩.慈氏菩薩等。
Hựu dữ Đại-Thừa chúng Bồ-tát câu . Phổ Hiền Bồ-tát . Diệu Đức Bồ-tát . Từ Thị Bồ- tát đẳng .
Lại cùng với các Đại-Thừa Bồ-tát đều tham dự . Phổ Hiền Bồ-tát . Diệu Đức Bồ-tát . Từ Thị Bồ-tát .

此賢劫中一切 菩薩 。又賢護等十六正士。
Thử Hiền Kiếp trung nhất thiết Bồ-tát . Hựu Hiền-hộ đẳng thập lục Chính sĩ .
Tất cả các Bồ-tát trong Kiếp Hiền . Lại có Hiền Hộ và 16 Chính sĩ .

善思議 菩薩 .信慧菩薩. 空無 菩薩. 神通 華菩薩.
Thiện-tư-nghị Bồ-tát . Tín-tuệ Bồ-tát . Không-vô Bồ-tát . Thần-thông-hoa Bồ-tát .
Thiện Tư Nghị Bồ-tát . Tín Tuệ Bồ-tát . Không Vô Bồ-tát . Thần Thông Hoa Bồ-tát .

光英 菩薩 .慧上菩薩.智幢菩薩.寂根菩薩.
Quang -anh Bồ-tát . Tuệ -thượng Bồ-tát . Trí-tràng Bồ-tát . Tịch-căn Bồ-tát .
Quang Anh Bồ-tát . Tuệ Thượng Bồ-tát . Trí Tràng Bồ-tát . Tịch Căn Bồ-tát .

願慧 菩薩 .香象菩薩.寶英菩薩.中住菩薩.
Nguyện-tuệ Bồ-tát . Hương-tượng Bồ-tát . Bảo-anh Bồ-tát . Trung-trụ Bồ-tát .
Nguyện Tuệ Bồ-tát . Hương Tượng Bồ-tát . Bảo Anh Bồ-tát . Trung Trụ Bồ-tát .

制行 菩薩 .解脫菩薩。皆遵 普賢 大士 之德。具諸菩薩無量行願。
Chế-hạnh Bồ-tát . Giải-thoát Bồ-tát . Giai tuân Phổ Hiền Đại-sĩ chi đức . Cụ chư Bồ-tát vô lượng hạnh nguyện .
Chế Hạnh Bồ-tát . Giải Thoát Bồ-tát . Đều tuân theo Đức của Phổ Hiền Đại-sĩ. Đầy đủ vô lượng hành nguyện của các Bồ-tát.

安住一切 功德 之法 , 遊步 十方 , 行 權方便
An trụ nhất thiết công đức chi Pháp, du bộ thập phương . hành Quyền Phương-tiện .
Sống yên ổn trong công đức của tất cả các Pháp, du hành tới mười phương, sử dụng Quyền Phương-tiện .

佛法藏 究竟彼岸, 於無量世界現成等覺。
Nhập Phật pháp tạng cứu cánh bỉ ngạn , ư vô lượng Thế giới hiện thành Đẳng-Giác.
Thâm nhập vào Phật Pháp Tạng cuối cùng tới được Niết-bàn , ở vô lượng Thế giới hiện thành Đẳng Giác.

兜率天 弘宣 正法 , 捨彼天宮降神母胎。
Xử Đâu-suất Thiên hoằng tuyên Chính-pháp , xả bỉ Thiên cung giáng Thần mẫu thai .
Ở cung Trời Đâu Suất ban bố rộng khắp Chính-pháp . Rời bỏ cung điện Trời đó giáng Thần trong thai mẹ.

從右脇生現行七步 , 光明顯曜 , 普照 十方 無量 佛土 , 六種振動 , 舉聲自稱 :
Tòng hữu hiếp sinh hiện hành thất bộ, quang minh hiển diệu, phổ chiếu thập phương vô lượng Phật thổ , lục chủng chấn động, cử thanh tự xưng :
Sinh ra từ sườn phải đi bộ bảy bước, quang minh sáng rực, chiếu rọi khắp mười phương vô lượng đất Phật, sáu loại chấn động, cất tiếng tự mình nói rằng :

吾當於世為 無上尊 , 釋梵 奉侍天人歸仰。
Ngô đương ư thế vi Vô-thượng tôn . Thích Phạm phụng thị Thiên Nhân quy ngưỡng .
Ta cần ở Đời làm Phật Thế Tôn . Thích Phạm phụng dưỡng trợ giúp Trời Người ngưỡng mộ đi theo.

示現算計文藝射御 , 博綜 道術 , 貫練群籍 , 遊於後園 ,
Thị hiện toán kế văn nghệ xạ ngự, bác tống đạo thuật , quán luyện quần tịch, du ư hậu viên ,
Thể hiện mưu lược văn chương nghệ thuật săn bắn chỉ huy, uyên bác đạo thuật , thông suốt mọi việc, tới công viên phía sau,

講武試藝 , 現處宮中色味之間。
giảng võ thí nghệ, hiện xử cung trung sắc vị chi gian.
giảng võ thi văn chương, hiện ở trong sắc vị trong cung điện.

見老病死悟世非常 , 棄國財位 , 入山學道。
Kiến lão bệnh tử ngộ thế phi thường, khí quốc tài vị, nhập sơn học đạo.
Thấy già bệnh chết hiểu đời khác thường, rời xa đất nước tài bảo Vương vị, vào núi học Đạo.

服乘白馬寶冠瓔珞 , 遣之令還。
Phục thừa bạch mã bảo quán anh lạc, khiển chi linh hoàn.
Mũ báu chuỗi ngọc chất lên ngựa trắng, sai mang trả lại.

捨珍妙衣而著 法服 , 剃除鬚髮 , 端坐樹下 , 勤苦六年。
Xả trân diệu y nhi trước Pháp phục, thế trừ tu phát, đoan tọa thụ hạ, cần khổ lục niên.
Tháo bỏ châu báu quần áo đẹp mà mặc áo Pháp, cắt bỏ râu tóc, ngồi ngay thẳng dưới cây, cần khổ sáu năm.

行如所應 , 現 五濁 剎隨順群生。
Hành như sở ưng, hiện ngũ trọc sát tùy thuận quần sinh.
Thực hành theo ý muốn, xuất hiện đời năm trọc ác thuận theo chúng sinh.

示有塵垢沐浴金流 , 天按樹枝 , 得攀出池。
Thị hữu trần cấu mộc dục kim lưu, thiên án thụ chi, đắc phàn xuất trì.
Hiện ra việc tẩy rửa bụi trần chuyển thành sắc vàng, ngày víu lấy cây cành cây, được kéo ra khỏi đầm.

靈禽翼從往詣 道場 , 吉祥感徵表章功祚。
Linh cầm dực tòng vãng nghệ Đạo-tràng, cát tường cảm trưng biểu chương công tộ.
Chim quý bay đến vãng tới Đạo tràng, cát tường cảm hóa biểu hiện công đức .

哀受施草敷 佛樹 下加趺而坐 , 奮大光明使魔知之。
Ai thụ thí thảo phu Phật thụ hạ gìa phu nhi tọa, phấn đại quang minh sử ma tri chi.
Lặng lẽ thu nhặt cỏ làm đệm Phật ngồi kết già dưới gốc cây, quang minh lớn khích lệ biết sai khiến ma.

魔率官屬而來逼試 , 制以智力皆令降伏。
Ma soái quan thuộc nhi lai bức thí, chế dĩ trí lực giai linh hàng phục.
Chúa Ma quan quân quyến thuộc lại tới bức bách thi thố, dùng lực Trí tuệ chế ngự hàng phục được tất cả.

得微妙法成 最正覺釋梵 祈勸 請轉法輪
Đắc vi diệu Pháp thành Tối-Chính-giác . Thích Phạm kỳ khuyến thỉnh chuyển Pháp luân .
Được vi Diệu Pháp thành Chính Đẳng Giác . Thích Phạm cầu mời Phật giảng thuyết chính Pháp.

以佛遊步 , 佛吼 而吼 , 扣 法鼓 , 吹法螺
Dĩ Phật du bộ, Phật hống nhi hống, khấu Pháp cổ, xuy Pháp loa ,
Phật đi bộ, Phật thuyết chính Pháp, gõ trống Pháp, thổi loa Pháp,

法劍 , 建法幢 , 震 法雷 , 曜法電 , 澍法雨。
chấp Pháp-kiếm, kiến Pháp-tràng, chấn Pháp-lôi, diệu Pháp-điện, chú Pháp-vũ.
cầm Pháp kiếm, dựng Pháp-tràng, đánh Pháp-lôi, sáng Pháp-điện, mưa Pháp-vũ.

法施 。常以 法音 覺諸世間.
diễn Pháp-thí. Thường dĩ Pháp âm giác chư Thế gian.
nói Pháp bố thí. Thường dùng chính Pháp giác ngộ các Thế gian.

光明普照無量 佛土 , 一切世界 六種震動
Quang minh phổ chiếu vô lượng Phật thổ , nhất thiết thế giới lục chủng chấn động .
Quang minh chiếu khắp vô lượng đất Phật, tất cả Thế giới sáu loại chấn động .

總攝魔界動魔宮殿 , 眾魔懾怖莫不歸伏。
Tổng nhiếp Ma giới động ma cung điện, chúng ma nhiếp bố mạc bất quy phục.
Thu giữ Thế giới Ma rung chuyển cung điện Ma, các Ma sợ hãi, đều quy phục đi theo.

摑裂邪網消滅諸見 , 散諸 塵勞 壞諸欲塹。
Quắc liệt tà võng tiêu diệt chư kiến, tán chư trần-lao hoại chư dục tiệm.
Xé rách lưới Tà tiêu diệt các ‘Thấy’, tan rời lao khổ trần thế phá tan các hào sâu dục vọng.

嚴護 法城 開闡 法門 , 洗濯垢污顯明清白。
Nghiêm hộ Pháp thành khai xiển Pháp môn , tẩy trạc cấu ô hiển minh thanh bạch.
Trang nghiêm hộ vệ thành Pháp khai mở môn Pháp, tấy rửa dơ bẩn hiện ra sáng tỏ trong sạch.

光融 佛法 宣流正化 , 入國分衛獲諸豐饍。
Quang dung Phật Pháp tuyên lưu chính hóa, nhập quốc phần vệ hoạch chư phong thiện.
Ánh sáng Phật Pháp bao dung ban bố chính Pháp giáo hóa, vào đất nước giữ tròn bổn phận thu được nhiều thiện lợi.

功德 , 示福田 , 欲宣法 , 現欣笑。
Trữ công đức , thị phúc điền, dục tuyên Pháp, hiện hân tiếu,
Tích luỹ công đức, hiện ra Phúc điền, muốn ban bố Pháp, vui cười xuất hiện.

以諸 法藥 救療 三苦 , 顯現 道意 無量 功德
Dĩ chư Pháp dược cứu liệu Tam-khổ, hiển hiện Đạo ý vô lượng công đức .
Dùng các Pháp làm thuốc cứu giúp Ba khổ (khổ, tập khổ, diệt khổ), hiện rõ ý Đạo vô lượng công đức .

菩薩成等正覺 , 示現滅度拯濟無極。
Thụ Bồ-tát ký thành Đẳng Chính-Giác, thị hiện diệt độ chửng tế vô cực.
Chuyển bậc Bồ-tát thành Đẳng Chính-giác, hiện ra thành Phật Bồ-đề cứu vớt tất cả.

消除諸漏植眾德本 , 具足 功德 微妙難量。
Tiêu trừ chư Lậu thực chúng đức bản, cụ túc công đức vi diệu nan lượng.
Tiêu trừ các phiền não trồng nhiều đức căn bản, đầy đủ công đức vi diệu khó lường.

遊諸 佛國 普現 道教 , 其所修行清淨無穢。
Du chư Phật quốc phổ hiện Đạo giáo, kỳ sở tu hành thanh tịnh vô uế.
Tới các nước Phật hiện Đạo giáo rộng khắp, tu hành thanh tịnh không ô uế.

譬如幻師現眾異像為男為女無所不變。
Thí như huyễn sư hiện chúng dị tượng vi nam vi nữ vô sở bất biến.
Ví như Thầy biến hiện ra các hình tượng khác lạ, là trai là gái không thay đổi không có.

本學明了在意所為。 此諸 菩薩 亦復如是。
Bản học minh liễu tại ý sở vi. Thử chư Bồ-tát diệc phục như thị,
Gốc của sự học là sáng tỏ theo ý mà làm. Các Bồ-tát đó cũng lại như thế.

一切法 , 貫綜縷練 , 所住安諦 , 靡不感化。
Học nhất thiết Pháp, quán tổng lũ luyện, sở trụ an đế , mị bất cảm hóa.
Học tất cả Pháp, tổng quát các Pháp luyện tập xuyên suốt, sống yên ổn trong chính Pháp, không uổng công cảm hoá.

無數 佛土 , 皆悉普現 , 未曾慢恣愍傷眾生。
Vô số Phật thổ , giai tất phổ hiện , vị tằng mạn tứ mẫn thương chúng sinh.
Vô số đất Phật, đều hiện ra khắp tất cả, chưa từng kiêu mạn phóng túng xót thương chúng sinh.

如是之法一切具足。 菩薩 經典究暢要妙。名稱普至導御 十方
Như thị chi Pháp nhất thiết cụ túc. Bồ-tát Kinh điển cứu sướng yếu diệu . Danh xưng phổ chí đạo ngự thập phương .
Đầy đủ tất cả các Pháp như thế . Kinh điển Bồ-tát thông suốt tới cùng cốt lõi của sự vi diệu. Nói tên rộng khắp tới lãnh đạo mười phương.

無量諸佛咸共護念。佛所住者皆已得住。
Vô lượng chư Phật hàm cộng hộ niệm . Phật sở trụ giả giai dĩ đắc trụ.
Vô lượng các Phật tất cả cùng hộ niệm. Sống được làm Phật đều đã được.

大聖所立而皆已立。 如來 導化各能宣布。
Đại Thánh sở lập nhi giai dĩ lập. Như Lai đạo hóa các năng tuyên bố.
Điều cần được Đại Thánh lập ra đều đã thành lập. Những điều Như Lai chỉ đạo giáo hoá đều có thể tuyên bố.

為諸 菩薩 而作 大師 , 以甚深禪慧開導眾人。
Vị chư Bồ-tát nhi tác Đại sư , dĩ thậm thâm Thiền Tuệ khai đạo chúng nhân.
Vì các Bồ-tát mà làm Đại sư , dùng Thiền Tuệ thâm sâu khai mở chỉ đạo mọi người.

通諸 法性 達眾生相 , 明了諸國供養諸佛。
Thông chư Pháp tính đạt chúng sinh tướng, minh liễu chư quốc cúng dưỡng chư Phật.
Hiểu các tính Pháp biết tướng mạo chúng sinh, thông hiểu các nước cúng dưỡng các Phật.

化現其身猶如電光。善學無畏曉了幻法。
Hóa hiện kỳ thân do như điện quang. Thiện học vô úy hiểu liễu huyễn Pháp.
Thân Phật biến hoá hiện ra giống như ánh điện. Dễ học được sự không sợ hãi hiểu rõ Pháp không có thực.

壞裂魔網 , 解諸纏縛 , 超越 聲聞 緣覺之地。
Hoại liệt Ma võng, giải chư triền phược, siêu việt Thanh-văn Duyên- giác chi địa.
Phá tan lưới Ma, tháo bỏ dây trói buộc, vượt hơn bậc Thanh văn Duyên giác.

空無 相無願 三昧 , 善立方便 , 顯示 三乘
Đắc không vô tướng Vô-nguyện Tam-muội , thiện lập Phương-tiện , hiển thị Tam- thừa.
Được ‘Không’ ‘Vô-tướng’ ‘Vô-nguyện Tam-muội ’, dễ tạo thành Phương-tiện, hiện ra giáo ba bậc.

於此中下而現滅度 , 亦無所作亦 無所有
Ư thử trung hạ nhi hiện diệt độ, diệc vô sở tác diệc vô sở hữu .
Ở trong cảnh đó sinh xuống và hiện thành Phật Bồ-đề , cũng ‘làm’ được ‘không có’ cũng ‘có’ được ‘không có’.

不起不滅得 平等法 , 具足成就無量 總持 百千 三昧
Bất khởi bất diệt đắc Bình-đẳng Pháp, cụ túc thành tựu vô lượng tổng trì bách thiên Tam-muội .
Không sinh không diệt được Pháp Bình-đẳng, đầy đủ thành công vô lượng tổng trì trăm nghìn Tam-muội .

諸根智慧廣普寂定 , 深入 菩薩 法藏
Chư Căn trí tuệ quảng phổ tịch Định, thâm nhập Bồ-tát Pháp tạng .
Các Căn trí tuệ rộng lớn Tĩnh lặng Định, thâm nhập Pháp tạng Bồ-tát .

得佛 華嚴三昧 , 宣揚演說 一切經 典。
Đắc Phật Hoa Nghiêm Tam-muội , tuyên dương diễn thuyết nhất thiết Kinh điển.
Được Phật Hoa Nghiêm Tam-muội , tuyên bố diễn thuyết tất cả các Kinh điển.

住深定門 , 悉覩現在無量諸佛。
Trụ thâm Định môn, tất đổ hiện tại vô lượng chư Phật.
Sống ở trong môn Định thâm sâu, thấy hết cả vô lượng các Phật hiện tại.

一念之頃無不周遍 , 濟諸劇難 諸閑不閑
Nhất niệm chi khoảnh vô bất chu biến, tế chư kịch nan chư nhàn bất nhàn .
Chỉ khoảnh khắc một niệm biến khắp thế giới, giúp các bi kịch không thể khoanh tay.

分別顯示真實之際 , 得諸 如來 辯才之智 , 入眾言音。
Phân biệt hiển thị chân thực chi tế, đắc chư Như Lai biện tài chi Trí, nhập chúng ngôn âm.
Phân biệt hiển thị sự chân thực, được các Trí tuệ hùng biện của Như Lai , lời nói thâm nhập vào các chúng sinh.

開化一切 , 超過世間諸所有法。
Khai hóa nhất thiết, siêu quá thế gian chư sở hữu Pháp.
Dạy bảo tất cả, vượt hơn các Pháp ‘Có’ của Thế gian .

心常諦住度世之道 , 於 一切萬 物隨意自在。
Tâm thường đế trụ độ thế chi đạo, ư nhất thiết vạn vật tùy ý tự tại.
Tâm thường thực sự sống ở trong Đạo cứu vớt Thế gian, với tất cả vạn vật tự do tự tại.

為眾生類作不請之友 , 荷負群生為之重任。
Vị chúng sinh loại tác bất thỉnh chi hữu, hà phụ quần sinh vi chi trọng nhâm.
Vì các loại chúng sinh làm việc không cần sự qua lại, gánh vác trọng trách vì chúng sinh.

受持 如來 甚深 法藏 , 護 佛種 性常使不絕。
Thụ trì Như Lai thậm thâm Pháp tạng , hộ Phật chủng tính thường sử bất tuyệt.
Ghi nhớ Pháp tạng thâm sâu của Như Lai , giúp đỡ các loại Tính Phật thường không để cho đoạn tuyệt.

大悲 愍眾生 , 演慈辯授 法眼
Hưng Đại Bi mẫn chúng sinh, diễn Từ biện thụ Pháp nhãn.
Hưng khởi Đại Bi xót thương chúng sinh, diễn thuyết nhân từ lời nói hùng biện, truyền thụ Pháp Bồ-tát .

杜三趣開善門 , 以不請之法 , 施諸黎庶。
Đỗ Tam-thú khai thiện môn, dĩ bất thỉnh chi Pháp, thí chư lê thứ.
Dừng Ba đường ác mở Pháp thiện, dùng cách Pháp không cầu, bố thí dân nghèo hèn.

猶如孝子愛敬父母 , 於諸眾生視之若己。
Do như hiếu tử ái kính phụ mẫu, ư chư chúng sinh thị chi nhược kỷ.
Giống như con hiếu yêu kính cha mẹ, với các chúng sinh coi như bản thân mình.

一切善本皆度彼岸 , 悉獲諸佛無量 功德
Nhất thiết thiện bản giai độ Bỉ-ngạn, tất hoạch chư Phật vô lượng công đức .
Tất cả bản thiện đều tới được Niết-bàn , thu hoạch được tất cả vô lượng công đức của các Phật.

智慧聖明 不可思議 。如是 菩薩 無量 大士 , 不可稱計一時來會。
Trí tuệ Thánh minh bất khả tư nghị . Như thị Bồ-tát vô lượng Đại-sĩ, bất khả xưng kế nhất thời lai hội.
Trí tuệ sáng suốt của các Thánh không thể nghĩ bàn. Bồ-tát như thế là vô lượng Đại sĩ, không thể tính đếm cùng lúc tới dự hội.

爾時 世尊 諸根悅豫 , 姿色清淨 , 光顏巍巍。
Nhĩ thời Thế Tôn chư Căn duyệt dự, tư sắc thanh tịnh, quang nhan nguy nguy.
Khi đó Thế Tôn thân tâm vui vẻ, sắc thái thanh khiết, quang minh rộng sáng.

尊者 阿難 承佛聖旨 , 即從座起 , 偏袒右肩。
Tôn-Giả A-nan thừa Phật thánh chỉ, tức tòng toà khởi, thiên đản hữu kiên.
Tôn Giả A-nan theo Thánh chỉ của Phật, tức thì từ chổ ngồi đứng dậy, vai phải áo lệch.

長跪合掌而白佛言 : 今日 世尊 , 諸根悅豫 ,
Trường quỵ hợp chưởng nhi bạch Phật ngôn : Kim nhật Thế Tôn , chư căn duyệt dự,
Quỳ lâu chắp tay tay mà bạch Phật rằng : Hôm nay Thế-Tôn thân tâm vui vẻ,

姿色清淨 , 光顏巍巍 , 如明鏡淨影暢表裏。
tư sắc thanh tịnh, quang nhan nguy nguy, như minh kính tịnh ảnh sướng biểu lý,
sắc thái thanh khiết, quang minh rộng sáng, như gương trong sạch sáng soi rõ hình ảnh sung sướng thoải mái,

威容顯耀超絕無量 , 未曾瞻覩殊妙如今。
uy dung hiển diệu siêu tuyệt vô lượng, vị tằng chiêm đổ thù diệu như kim.
dung mạo uy nghi rọi sáng sự siêu tuyệt diệu vô lượng, chưa từng trông thấy sự tuyệt diệu đặc biệt như hôm nay.

唯然 大聖 ! 我心念言 : 今日 世尊 住奇特法。
Duy nhiên Đại Thánh ! Ngã tâm niệm ngôn : Kim nhật Thế Tôn trụ kì đặc Pháp.
Tuy nhiên Đại Thánh ! Tâm con nghĩ là : Hôn nay Thế-Tôn ở trong Pháp cực kỳ đặc biệt.

今日世雄住佛所住。今日世眼住 導師 行。
Kim nhật Thế-hùng trụ Phật sở trụ. Kim nhật Thế-nhãn trụ Đạo sư hành.
Hôm nay Thế hùng ở tại cảnh giới Phật. Hôm nay Thế nhãn ở tại cảnh hành của Đạo sư .

今日世英住最勝道。今日天尊行 如來 德。
Kim nhật Thế-anh trụ tối thắng đạo. Kim nhật Thiên-tôn hành Như Lai đức.
Hôm nay Thế anh ở tại Đạo tối cao. Ngày nay Thiên tôn hành đức của Như Lai .

去來現在佛佛相念 , 得無今佛念諸佛耶 ?
Khứ lai Hiện tại Phật Phật tương niệm, đắc vô kim Phật niệm chư Phật da ?
Phật Quá khứ Hiện tại tương lai cùng nhớ tới Phật, được sự niệm Phật của các Phật không phải của thời nay chăng ?

何故威神光光乃爾。於是 世尊阿難 曰 :
Hà cố uy thần quang quang nãi nhĩ . Ư thị Thế Tôn cáo A-nan viết :
Vì sao uy thần sáng mãi như thế. Khi đó Thế-Tôn bảo A-nan rằng :

云何 阿難 ! 諸天教汝來問佛耶 ?
Vân hà A-nan ! Chư Thiên giáo Nhữ lai vấn Phật da ?
Thế nào A-nan ! Các Trời nói Ngài hỏi Phật việc này sao ?

自以慧見問威顏乎 ? 阿難 白佛。
Tự dĩ tuệ kiến vấn uy nhan hồ ? A-nan bạch Phật.
Tự sử dụng kiến thức tuệ hỏi uy nghi nhan sắc này chăng ? A-nan bạch Phật.

無有諸天來教我者 , 自以所見問斯義耳。佛言 : 善哉 ! 阿難 !
Vô hữu chư Thiên lai giáo Ngã giả, tự dĩ sở kiến vấn tư nghĩa nhĩ. Phật ngôn : Thiện tai ! A-nan !
Không có các Trời tới nói con, con tự sử dụng sự thấy của mình hỏi việc đó thôi. Phật nói rằng : Thiện thay ! A-nan !

所問甚快 , 發深智慧真妙辯才。
Sở vấn thậm khoái, phát thâm Trí tuệ chân diệu biện tài.
Câu hỏi rất hay, phát ra từ Trí tuệ hùng biện thực sự vi diệu thâm sâu.

愍念眾生問斯慧義。 如來 以無盡 大悲 矜哀三界。
Mẫn niệm chúng sinh vấn tư Tuệ nghĩa. Như Lai dĩ vô tận Đại Bi căng ai Tam-giới. Thương xót chúng sinh hỏi nghĩa Trí tuệ này. Như Lai dùng vô tận Đại Bi xót thương Ba cõi giới : Dục giới Sắc giới Vô sắc giới
所以出興於世 , 光闡 道教

Sở dĩ xuất hưng ư thế, quang xiển Đạo giáo.
Sở dĩ xuất hiện ở đời, khai sáng Đạo giáo.
普令群萌獲真 法利 , 無量億劫難值難見。

Phổ linh quần manh hoạch chân Pháp lợi, vô lượng ức Kiếp nan trực nan kiến.
Phổ độ khắp các chúng sinh có được lợi Pháp chân chính, vô lượng ức Kiếp khó trực tiếp gặp khó trông thấy.
猶靈瑞華時時乃出。今所問者多所饒益。

Do Linh-thụy hoa thời thời nãi xuất. Kim sở vấn giả đa sở nhiêu ích.
Như hoa Linh thuỵ hoa lâu lâu mới xuất hiện. Nay hỏi việc này được nhiều lợi ích.
開化一切諸天人民。 阿難 !

Khai hóa nhất thiết chư Thiên Nhân dân. A-nan !
Mở đạo giáo hoá tất cả nhân dân cõi Trời. A-nan !
當知 如來 正覺 其智難量多所導御 , 慧見無礙無能遏絕。

Đương tri Như Lai Chính-giác kỳ Trí nan lượng đa sở Đạo ngự, Tuệ kiến vô ngại vô năng át tuyệt.
Nên biết Trí tuệ của Như Lai Chính-giác khó đo lường phần nhiều là dẫn dắt lãnh đạo, Trí tuệ thấy không có trở ngại không thể ngăn cấm đứt đoạn.
以一喰之力能住壽命 , 億百千劫無數無量 , 復過於此。

nhất thực chi lực năng trụ thọ mệnh, ức bách thiên Kiếp vô số vô lượng, phục quá ư thử.
Chỉ dùng sức trong chốc lát như một bữa ăn có được thọ mệnh, vô lượng vô số triệu trăm nghìn Kiếp, lại có thể nhiều hơn.
諸根悅豫不以毀損 , 姿色不變光顏無異。

Chư căn duyệt dự bất dĩ hủy tổn, tư sắc bất biến quang nhan vô dị.
Thân tâm vui vẻ chẳng thể hủy bớt, dung mạo nhan sắc không thay đổi quang sáng không khác.
所以者何 ? 如來 定慧究暢無極。

Sở dĩ giả hà ? Như Lai Định Tuệ cứu sướng vô cực.
Vì sao như thế ? Trí tuệ Thiền định của Như Lai đã tới tột cùng.
一切法 而得自在。 阿難 諦聽 ! 今為汝說。

Ư nhất thiết Pháp nhi đắc Tự-tại. A-nan đế thính ! Kim vị Nhữ thuyết.
Với tất cả Pháp được sự thoải mái tự do. A-nan nghe Tuệ ! Nay vì Ngài thuyết.
對曰 : 唯然願樂欲聞。佛告 阿難 :

Đối viết : Duy nhiên nguyện nhạo dục văn. Phật cáo A-nan :
Đáp lại rằng : Vâng con ham thích được nghe. Phật bảo A-nan :
乃往過去久遠無量 不可思議 無央數劫 。錠光 如來 興出於世。

Nãi vãng Quá khứ cửu viễn vô lượng bất khả tư nghị vô ương sổ Kiếp. Đĩnh Quang Như Lai hưng xuất ư thế.
Trở lại Quá khứ xa xưa không thể nghĩ bàn vô lượng vô biên Kiếp. Đĩnh Quang Như Lai xuất hiện ở đời.
教化度脫無量眾生 , 皆令得道乃取滅度。

Giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sinh, giai linh đắc Đạo nãi thủ diệt độ.
Giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sinh, đều giúp cho được Đạo và sau nhập Niết-bàn .
次有 如來 名曰光遠 , 次名月光 , 次名栴檀香,

Thứ hữu Như Lai danh viết Quang Viễn, thứ danh Nguyệt Quang, thứ danh Chiên Đàn Hương.
Tiếp sau có Như Lai tên là Quang Viễn, tiếp sau là Nguyệt Quang, tiếp sau là Chiên Đàn Hương,
次名善山王 , 次名 須彌 天冠 , 次名須彌等曜 ,

thứ danh Thiện Sơn Vương , thứ danh Tu Di Thiên Quan, thứ danh Tu Di Đẳng Diệu.
tiếp sau là Thiện Sơn Vương, tiếp sau là Tu Di Thiên Quan, tiếp sau là Tu Di Đẳng Diệu,
次名月色 , 次名 正念 , 次名離垢 , 次名 無著 ,

thứ danh Nguyệt Sắc, thứ danh Chính Niệm, thứ danh Ly Cấu, thứ danh Vô Trước .
tiếp sau là Nguyệt Sắc, tiếp sau là Chính Niệm, tiếp sau là Ly Cấu, tiếp sau là Vô Trước .
次名龍天 , 次名夜光 , 次名安明頂 ,

thứ danh Long Thiên, thứ danh Dạ Quang, thứ danh An Minh Đỉnh,
tiếp sau là Long Thiên, tiếp sau là Dạ Quang, tiếp sau là An Minh Đỉnh,
次名 不動地 , 次名琉璃妙華 , 次名琉璃金色 ,

thứ danh Bất Động Địa, thứ danh Lưu Ly Hương Khí, thứ danh Lưu Ly Kim Sắc,
tiếp sau Bất Động Địa, tiếp sau Lưu Ly Hương Khí, tiếp theo là Lưu Ly Kim Sắc.
次名金藏 , 次名炎光 , 次名炎根 , 次名地種 ,

thứ danh Kim Tạng, thứ danh Viêm Quang, thứ danh Viêm Căn, thứ danh Địa Chủng,
tiếp sau là Kim Tạng, tiếp sau là Viêm Quang, tiếp sau là Viêm Căn, tiếp sau là Địa Chủng,
次名月像 , 次名日音 , 次名解脫華 ,

thứ danh Nguyệt Tượng, thứ danh Nhật Âm, thứ danh Giải Thoát Hoa,
tiếp sau là Nguyệt Tượng, tiếp sau là Nhật Âm, tiếp sau là Giải Thoát Hoa,
次名莊嚴光明 , 次名海覺 神通 , 次名水光 ,

thứ danh Trang Nghiêm Quang Minh, thứ danh Hải Giác Thần Thông, thứ danh Thủy Quang,
tiếp sau là Trang Nghiêm Quang Minh, tiếp sau là Hải Giác Thần Thông, tiếp sau là Thuỷ Quang,
次名大香 , 次名離塵垢 , 次名捨厭意 , 次名寶炎 ,

thứ danh Đại Hương, thứ danh Ly Trần Cấu, thứ danh Xả Yếm Ý , thứ danh Bảo Viêm.
tiếp sau là Đại Hương, tiếp sau là Ly Trần Cấu, tiếp sau là Xả Yếm Ý, tiếp sau là Bảo Viêm,
次名妙頂 , 次名勇立 , 次名 功德 持慧 ,

thứ danh Diệu Đỉnh, thứ danh Dũng Lập, thứ danh Công Đức Trì Tuệ,
tiếp sau là Diệu Đỉnh, tiếp sau là Dũng Lập, tiếp sau là Công Đức Trì Tuệ,
次名蔽日月光 , 次名日月琉璃光 ,

thứ danh Tế Nhật Nguyệt Quang, thứ danh Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang,
tiếp sau là Tế Nhật Nguyệt Quang, tiếp sau là Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang,
次名無上琉璃光 , 次名最上首 , 次名 菩提 華 ,

thứ danh Vô Thượng Lưu Ly Quang, thứ danh Tối Thượng Thủ, thứ danh Bồ Đề Hoa,
tiếp sau là Vô Thượng Lưu Ly Quang, tiếp sau là Tối Thượng Đầu, tiếp sau Bồ Đề Hoa,
次名月明 , 次名日光 , 次名華色王 , 次名水月光 ,

thứ danh Nguyệt Minh, thứ danh Nhật Quang, thứ danh Hoa Sắc Vương, thứ danh Thủy Nguyệt Quang,
tiếp sau là Nguyệt Minh, tiếp sau là Nhật Quang, tiếp sau là Hoa Sắc Vương, tiếp sau là Thuỷ Nguyệt Quang,
次名除癡冥 , 次名度蓋行 , 次名淨信 ,

thứ danh Trừ Si Minh, thứ danh Độ Cái Hành, thứ danh Tịnh Tín,
tiếp sau là Trừ Si Minh, tiếp sâu là Độ Cái Hành, tiếp sau là Tịnh Tín,
次名善宿 , 次名威神 , 次名法慧 , 次名鸞音 ,

thứ danh Thiện Tú, thứ danh Uy Thần, thứ danh Pháp Tuệ, thứ danh Loan Âm,
tiếp sau là Thiện Tú, tiếp sau là Uy Thần, tiếp sau là Pháp Tuệ, tiếp sau là Loan Âm,
次名 師子音 , 次名龍音 , 次名處世 ,

thứ danh Sư Tử Âm, thứ danh Long Âm, thứ danh Xử Thế.
tiếp sau là Sư Tử Âm, tiếp sau là Long Âm, tiếp sau là Xử Thế.
如此諸佛皆悉已過。爾時次有佛。

Như thử chư Phật gia i tất dĩ quá. Nhĩ thời thứ hữu Phật.
Như thế các Phật này tất cả đều đã thành Phật Quá khứ. Lúc đó lại có Phật.
世自在王 如來 應供 等正覺 明行足 善逝 世間解 無上士 調御丈夫 天人師 佛世尊

Danh Thế Tự Tại Vương Như Lai Ứng-Cúng Đẳng Chính giác Minh hạnh Túc Thiện Thệ Thế-gian-giải Vô-thượng-Sĩ điều ngự trượng phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn .
Tên là Thế Tự Tại Vương Như Lai Ứng-Cúng Đẳng Chính-Giác Minh-Hạnh-Túc Thiện-Thệ Thế-gian-giải Vô-thượng-Sĩ điều ngự trượng phu Trời người Sư Phật Thế Tôn .
時有國王 , 聞佛說法心懷悅豫尋發無上正真 道意

Thời hữu Quốc Vương, văn Phật thuyết Pháp tâm hoài duyệt dự tầm phát Vô-thượng chính chân Đạo ý.
Khi đó có Quốc-vương, nghe Phật thuyết Pháp tâm vui mừng mong cầu liền phát ý tìm Đạo chân chính Bình đẳng.
棄國捐王行作 沙門 , 號曰 法藏 , 高才勇哲與世超異。

Khí quốc quyên Vương hành tác Sa-môn, hiệu viết Pháp-tạng, cao tài dũng triết dữ thế siêu dị.
Bỏ ngôi Vua rời xa đất nước làm Sa Môn , tên hiệu là Pháp-tạng, tài cao trí dũng khác biệt hơn đời.
世自在王 如來 所 , 稽首佛足右遶三匝 , 長跪合掌以頌讚曰 :

Nghệ Thế Tự Tại Vương Như Lai sở, khể thủ Phật túc hữu nhiễu tam tạp, trường quỵ hợp chưởng dĩ tụng tán viết :
Đến nơi Thế Tự Tại Vương Như Lai ở, Phục đỉnh lễ Phật hoàn tất vòng bên phải ba vòng, quỳ lâu chắp tay dùng bài tụng khen ngợi rằng :
光顏巍巍  威神無極  如是炎明

Quang nhan nguy nguy. Uy thần vô cực. Như thị viêm minh.
Quang nhan rất cao lớn. Uy thần tối cao nhất. Quang sáng rực như thế.
無與等者  日月 摩尼   珠光炎耀

Vô dữ đẳng giả. Nhật Nguyệt Ma-ni. Châu quang viêm diệu.
Không gì so sánh bằng. Nhật Nguyệt ngọc Như ý. Ánh châu sáng vi diệu.
皆悉隱蔽  猶如聚墨   如來 容顏

Giai tất ẩn tế. Do như tụ mặc. Như Lai dung nhan
Đều bị che khuất hết. Giống như đám bụi đen. Dung mạo của Như Lai
超世無倫   正覺 大音  響流 十方

Siêu thế vô luân. Chính-giác Đại âm. Hưởng lưu thập phương
Khác thường vượt Tam-thế. Chính giác âm hưởng lớn. Lưu truyền khắp mười phương.
戒聞精進   三昧 智慧  威德無侶

Giới văn Tinh tiến. Tam-muội Trí tuệ. Uy đức vô lữ.
Giữ Giới Tinh tiến nghe. Trí tuệ và Tam-muội . Uy đức không ai bằng.
殊勝希有  深諦善念  諸 佛法

Thù thắng hi hữu. Thâm đế thiện niệm. Chư Phật Pháp hải.
Đặc biệt rất hiếm có. Suy nghĩ sâu chân Pháp. Pháp Phật nhiều như biển.
窮深盡奧  究其崖底  無明欲怒

Cùng thâm tận áo. Cứu kỳ nhai để. Vô minh dục nộ
Tới cùng sự thâm ảo. Đến đáy của vực sâu. Giận dữ thành ngu tối.
世尊永無   人雄師子   神德無量

Thế Tôn vĩnh vô. Nhân hùng sư tử. Thần đức vô lượng
Phật vĩnh viễn bỏ hết. Người hùng thuyết chính Pháp. Uy thần đức vô lượng
功德廣大  智慧深妙  光明威相

Công đức quảng đại. Trí tuệ thâm diệu. Quang minh uy tướng.
Công đức cũng rộng lớn. Trí tuệ sâu vi diệu. Uy thần tướng quang minh.
震動大千  願我作佛  齊聖 法王

Chấn động Đại thiên. Nguyện Ngã tác Phật. Tề Thánh Pháp-vương.
Chấn động Đại thiên giới. Con nguyện sẽ làm Phật. Ngang bằng Thánh Pháp vương.
過度生死  靡不解脫  布施調意

Quá độ sinh tử. Mị bất giải thoát. Bố thí điều ý.
Vượt qua dòng sinh tử. Giải thoát cho tất cả. Bố thí điều phục ý.
戒忍精進  如是 三昧   智慧為上

Giới Nhẫn Tinh tiến. Như thị Tam-muội . Trí tuệ vi thượng.
Giữ Giới Nhẫn Tinh tiến. Các Tam-muội như thế. Trí tuệ là cao nhất.
吾誓得佛  普行此願  一切恐懼

Ngô thệ đắc Phật. Phổ hành thử nguyện. Nhất thiết khủng cụ.
Con nguyện được thành Phật. Rộng hành thệ nguyện này. Tất cả các sợ hãi.
為作大安  假令有佛  百千億萬

Vi tác đại an. Giả linh hữu Phật. Bách thiên ức vạn.
Làm thành yên ổn lớn. Nếu giúp được làm Phật. Số trăm nghìn triệu vạn.
無量 大聖   數如恒沙  供養一切

Vô lượng Đại Thánh. Số như Hằng sa. Cúng dưỡng nhất thiết
Đại Thánh nhiều vô lượng. Số như cát sông Hằng. Cúng dưỡng tất cả Phật.
斯等諸佛  不如求道  堅正不却

Tư đẳng chư Phật. Bất như cầu đạo. Kiên chính bất khước.
Họ cùng với các Phật. Không giống như cầu đạo. Kiên chính không lùi bước.   
譬如恒沙  諸 佛世界   復不可計

Thí như Hằng sa. Chư Phật thế giới . Phục bất khả kế
Ví như cát sông Hằng. Thế giới của các Phật. Lại không thể tính được.
無數剎土  光明悉照  遍此諸國

Vô số sát thổ. Quang minh tất chiếu. Biến thử chư quốc.
Vô số đất Phật tịnh. Quang minh chiếu soi hết. Chiếu khắp các nước đó
如是精進  威神難量  令我作佛

Như thị Tinh tiến. Uy thần nan lượng. Linh Ngã tác Phật.
Cần Tinh tiến như thế. Uy thần khó đo lường. Giúp con được thành Phật.
國土第一  其眾奇妙   道場 超絕

Quốc thổ đệ nhất. Kỳ chúng kỳ diệu. Đạo-tràng siêu tuyệt.
Đất Phật tịnh đệ nhất. Các loại đặc kỳ diệu. Đạo tràng siêu thoát hết.
國如泥洹  而無等雙  我當愍哀

Quốc như Nê-hoàn. Nhi vô đẳng song. Ngã đương mẫn ai.
Nước như đất Phật tịnh. Mà không gì sánh bằng. Con đang xót thương chúng.   
度脫一切   十方 來生  心悅清淨

Độ thoát nhất thiết. Thập phương lai sinh. Tâm duyệt thanh tịnh.
Độ thoát mọi chúng sinh. Sẽ sinh mười phương Phật. Tâm thanh tịnh vui mừng.   
已到我國  快樂安隱  幸佛信明

Dĩ đáo Ngã quốc. Khoái lạc an ẩn. Hạnh Phật tín minh.
Đã đến Nước của con. Được vui vẻ yên ổn. Hạnh phúc tin tuệ Phật.
是我真證  發願於彼  力精所欲

Thị Ngã chân chứng. Phát nguyện ư bỉ. Lực tinh sở dục.
Con chứng được chân Pháp. Phát nguyện với Như Lai . Muốn được lực Tinh tiến.   
十方 世尊   智慧無礙  常令此尊

Thập phương Thế Tôn . Trí tuệ vô ngại. Thường linh thử Tôn.
Thế Tôn ở mười phương. Trí tuệ không trở ngại. Thường giúp tôn quý này.
知我心行  假令身止  諸苦毒中

Tri Ngã tâm hành. Giả linh thân chỉ. Chư khổ độc trung.
Biết tâm hành của con. Nếu giúp thân dừng lại. Trong các khổ ác độc.  
我行精進  忍終不悔

Ngã hành Tinh tiến. Nhẫn chung bất hối.
Con cần hành Tinh tiến. Nhẫn hết không hối hận.
佛告 阿難 : 法藏 比丘 說此頌已 , 而白佛言 :

Phật cáo A-nan : Pháp tạng Tỉ-kheo thuyết thử tụng dĩ, nhi bạch Phật ngôn :
Phật bảo A-nan : Pháp tạng Tỉ-kheo nói xong bài tụng đó và bạch Phật rằng :
唯然 世尊 ! 我發無上 正覺 之心 , 願佛為我廣宣經法。

Duy nhiên Thế Tôn ! Ngã phát Vô-thượng Chính- giác chi tâm, nguyện Phật vị Ngã quảng tuyên Kinh Pháp.
Mong muốn Thế Tôn ! Con phát tâm Bình đẳng Chính giác, nguyện Phật vì con nói hết các Kinh Pháp.
我當修行攝取 佛國 清淨莊嚴無量妙土 , 令我於世速成 正覺

Ngã đương tu hành nhiếp thủ Phật quốc thanh tịnh trang nghiêm vô lượng diệu thổ, linh Ngã ư thế tốc thành Chính-giác.
Con cần phải tu hành thu giữ vô lượng đất Phật thanh tịnh trang nghiêm vi diệu, giúp con ở đời nhanh chóng thành Chính-giác.
拔諸生死勤苦之本。 佛語 阿難 : 時 世自在王 佛 ,

Bạt chư sinh tử cần khổ chi bản. Phật ngữ A-nan : Thời Thế Tự Tại Vương Phật,
Rút hết gốc của sinh tử lao khổ. Phật bảo A-nan : Khi đó Thế Tự Tại Vương Phật,
法藏 比丘 。如所修行莊嚴 佛土

cáo Pháp tạng Tỉ-kheo. Như sở tu hành trang nghiêm Phật thổ .
bảo Pháp tạng Tỉ kheo. Tu hành được đất Phật trang nghiêm như thế.
汝自當知 , 比丘 白佛 : 斯義弘深非我境界。

Nhữ tự đương tri, Tỉ-kheo bạch Phật : Tư nghĩa hoằng thâm phi Ngã cảnh giới.
Ngài nên tự biết, Tỉ-kheo bạch Phật : Nghĩa đó rộng lớn sâu xa chưa phải cảnh giới của con.
唯願 世尊 廣為敷演諸佛 如來 淨土 之行。

Duy nguyện Thế Tôn quảng vị phu diễn chư Phật Như Lai tịnh thổ chi hành.
Mong muốn Thế Tôn vì dạy rộng khắp nói các hành và các đất tịnh của các Phật Như Lai .
我聞此已 , 當如說修行成滿所願。

Ngã văn thử dĩ, đương như thuyết tu hành thành mãn sở nguyện.
Con nghe việc đó xong, sẽ tu hành như Phật thuyết nguyện được thành công mỹ mãn.
爾時 世自在王 佛 , 知其高明志願深廣。

Nhĩ thời Thế Tự Tại Vương Phật, tri kỳ cao minh chí nguyện thâm quảng.
Khi đó Thế Tự Tại Vương Phật, biết người này trí sáng cao siêu nguyện vọng sâu rộng.
即為 法藏 比丘 而說經言 : 譬如大海 , 一人斗量經歷劫數。

Tức vị Pháp tạng Tỉ-kheo nhi thuyết Kinh ngôn : Thí như đại hải, nhất nhân đẩu lượng kinh lịch Kiếp số.
Tức thì vì Pháp tạng Tỉ kheo mà thuyết Kinh rằng : Ví như biển lớn, một người tát múc nước đo lường trải qua số Kiếp,
尚可窮底得其妙寶。人有至心精進求道不止會當剋果。

thượng khả cùng để đắc kỳ diệu bảo. Nhân hữu chí tâm tinh tiến cầu đạo bất chỉ hội đương khắc quả.
liệu có thể tới đáy biển lấy được báu vật đó. Người có thành tâm tinh tiến cầu đạo không dừng lại cần phải hạn chế quả báo .
何願不得 , 於是 世自在王 佛。

Hà nguyện bất đắc, ư thị Thế Tự Tại Vương Phật.
Sao nguyện không được, khi đó Thế Tự Tại Vương Phật.
即為廣說二百一十億諸佛剎土天人之善惡 國土 之粗妙。

Tức vị quảng thuyết nhị bách nhất thập ức chư Phật sát thổ Thiên Nhân chi thiện ác quốc thổ chi thô diệu.
Tức thì nói hết hai trăm mười triệu các đất Phật, Trời Người thiện ác đất nước thô diệu.
應其心願悉現與之。

ưng kỳ tâm nguyện tất hiện dữ chi.
tuỳ theo tâm nguyện tất cả hiện cùng lúc.
時彼 比丘 聞佛所說嚴 淨國 土 , 皆悉覩見超發無上殊勝之願。

Thời bỉ Tỉ-kheo văn Phật sở thuyết nghiêm tịnh quốc thổ, giai tất đổ kiến siêu phát Vô-thượng thù thắng chi nguyện.
Khi đó Pháp tạng Tỉ-kheo được nghe Phật thuyết các đất Phật nghiêm tịnh, đều nhìn thấy hết phát nguyện cao siêu Bình đẳng đặc biệt.
其心寂靜志 無所著 , 一切世間無能及者。

Kỳ tâm tịch tĩnh chí vô sở trước , nhất thiết thế gian vô năng cập giả.
Tâm đó lặng yên tĩnh chí không mê đắm, tất cả thế gian không thể theo kịp.
具足五劫 , 思惟攝取莊嚴 佛國 清淨之行。

Cụ túc ngũ Kiếp, tư duy nhiếp thủ trang nghiêm Phật quốc thanh tịnh chi hành.
Đầy đủ năm Kiếp, tư duy thu giữ hành thanh tịnh của các đất Phật trang nghiêm.
阿難白佛 : 彼 佛國土 壽量幾何 ? 佛言 :

A-nan bạch Phật : Bỉ Phật quốc thổ thọ lượng kỷ hà ? Phật ngôn :
A-nan bạch Phật : Đất Phật đó thọ lượng bao nhiêu ? Phật nói rằng :
佛壽 命四十二劫。時 法藏 比丘

Kỳ Phật thọ mệnh tứ thập nhị Kiếp. Thời Pháp tạng Tỉ-kheo.
Phật đó thọ mệnh bốn mươi hai Kiếp. Khi đó Pháp tạng Tỉ-kheo.
攝取二百一十億諸佛妙土清淨之行 , 如是修已詣彼佛所。

Nhiếp thủ nhị bách nhất thập ức chư Phật diệu thổ thanh tịnh chi hành, như thị tu dĩ nghệ bỉ Phật sở.
Thu giữ hành thanh tịnh của hai trăm mười triệu đất Phật vi diệu, tu hành như thế xong, đến nơi Đức Phật đó ở.
稽首禮足遶佛三匝合掌而住 , 白言 : 世尊 !

Khể thủ lễ túc nhiễu Phật tam tạp hợp chưởng nhi trụ, bạch ngôn : Thế Tôn !
Phục đỉnh lễ hoàn tất đi quanh Phật ba vòng chắp tay đứng nghiêm, bạch rằng : Thế Tôn !
我已攝取莊嚴 佛土 清淨之行。佛告 比丘

Ngã dĩ nhiếp thủ trang nghiêm Phật thổ thanh tịnh chi hành. Phật cáo Tỉ-kheo.
Con đã thu giữ hành thanh tịnh của các đất Phật trang nghiêm. Phật bảo Tỉ-kheo.
汝今可說宜知是時發起悅可一切大眾。

Nhữ kim khả thuyết nghi tri thị thời phát khởi duyệt khả nhất thiết Đại chúng.
Ngài nay có thể nói thoải mái sự hiểu biết, bấy giờ mới có thể vui vẻ phát khởi cho tất cả Đại chúng.
菩薩聞已修行此法 , 緣致滿足無量 大願比丘 白佛 :

Bồ-tát văn dĩ tu hành thử Pháp, duyên trí mãn túc vô lượng đại nguyện . Tỉ-kheo bạch Phật :
Pháp này Bồ-tát nghe tu hành đã xong, mang tới đầy đủ mỹ mãn vô lượng Đại nguyện. Tỉ-kheo bạch Phật :
唯垂聽察 , 如我所願當具說之。

Duy thùy thính sát, như Ngã sở nguyện đương cụ thuyết chi.
Xin rủ lòng xem xét lắng nghe, như nguyện của con cần nói cụ thể chi tiết.
設我得佛 , 國有 地獄 餓鬼 畜生者。不取 正覺

Thiết Ngã đắc Phật, quốc hữu Địa ngục Ngạ quỷ Súc sinh giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, đất nước có Địa ngục Quỷ đói Súc sinh. Không nhận thành Chính giác.
設我得佛 , 國中人天 , 壽終之後 , 復更 三惡道 者。不取 正覺

Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên thọ chung chi hậu, phục cánh Tam-ác đạo giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời Người sau khi hết thọ, lại mắc vào Ba đường dữ. Không nhận thành Chính giác.
設我得佛 , 國中人天不悉真金色者。不取 正覺

Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên bất tất chân kim sắc giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người không được đầy đủ thân sắc vàng mười. Không nhận thành Chính giác.
設我得佛 , 國中人天形色不同有好醜者。不取 正覺

Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên hình sắc bất đồng hữu hảo xú giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người hình thể màu sắc khác nhau có người đẹp xấu. Không nhận thành Chính giác.
設我得佛 , 國中人天 不悉識宿命。下至知百千億 那由他 諸劫事者。不取 正覺

Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên bất tất thức túc mệnh. Hạ chí tri bách thiên ức Na-do-tha chư Kiếp sự giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người không biết được Kiếp trước. Về sau biết việc của trăm nghìn triệu Na-do-tha Kiếp. Không nhận thành Chính giác.
設我得佛 , 國中人天不得 天眼 。下至見百千億 那由他佛國 者。不取 正覺

Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên bất đắc Thiên-nhãn. Hạ chí kiến bách thiên ức Na-do-tha chư Phật quốc giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người không được Thiên nhãn . Về sau nhìn thấy trăm nghìn triệu Na-do-tha các đất nước Phật. Không nhận thành Chính giác.
設我得佛 , 國中人天不得天耳。下至聞百千億 那由他 諸佛所說 , 不悉受持者。不取 正覺

Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên bất đắc Thiên-nhĩ. Hạ chí văn bách thiên ức Na-do-tha chư Phật sở thuyết, bất tất thụ trì giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người không được Thiên nhĩ. Về sau nghe được trăm nghìn triệu Na-do-tha các Phật thuyết Pháp, không ghi nhớ được tất cả. Không nhận thành Chính giác.
設我得佛 , 國中人天不得見 他心智 。下至知百千億 那由他佛國 中眾生心念者。不取 正覺

Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên bất đắc kiến tha tâm Trí. Hạ chí tri bách thiên ức Na-do-tha chư Phật quốc trung chúng sinh tâm niệm giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người không hiểu được tâm trí người khác. Về sau biết được suy nghĩ trong tâm của chúng sinh trong trăm nghìn triệu Na-do-tha các đất nước Phật. Không nhận thành Chính giác.
設我得佛 , 國中人天不得 神足 。於一念頃下至不能超過百千億 那由他佛國 者。不取 正覺

Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên bất đắc Thần túc. Ư nhất niệm khoảnh hạ chí bất năng siêu quá bách thiên ức Na-do-tha chư Phật quốc giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người không được Thần thông, chỉ trong khoảnh khắc không thể vượt qua trăm nghìn triệu Na-do-tha các đất nước Phật. Không nhận thành Chính giác.
設我得佛 , 國中人天 , 若起想念貪計身者。不取 正覺

Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên, nhược khởi tưởng niệm tham kế thân giả.
Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người nếu phát sinh suy nghĩ tham lam tính toán cho bản thân. Không nhận thành Chính giác.

設我得佛 , 國中人天不住定聚。必至滅度者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên bất trụ Định tụ tất chí diệt độ giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người không ở trong các Định, nhất định thành Phật Bồ-đề . Không nhận thành Chính giác.

設我得佛 , 光明有能限量。下至不照百千億 那由他佛國 者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quang minh hữu năng hạn lượng. Hạ chí bất chiếu bách thiên ức Na-do-tha chư Phật quốc giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, số lượng Quang minh có thể có hạn. Về sau không chiếu soi được trăm nghìn triệu Na-do-tha các đất nước Phật. Không nhận thành Chính giác.

設我得佛 , 壽命有能限量。下至百千億 那由他 劫者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, thọ mạng hữu năng hạn lượng. Hạ chí bách thiên ức Na-do-tha Kiếp giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, thời lượng thọ mệnh có thể có hạn. Về sau trăm nghìn triệu Na-do-tha Kiếp. Không nhận thành Chính giác.

設我得佛 , 國中 聲聞 有能計量。乃至 三千大千世界 眾生緣覺 ,
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung Thanh-văn hữu năng kế lượng. Nãi chí Tam thiên Đại thiên Thế giới chúng sinh Duyên-giác,
Nếu con được thành Phật, trong nước lượng Thanh-văn có thể tính toán được. Thậm chí chúng sinh Duyên-giác của Ba nghìn Đại thiên Thế giới,

於百千劫悉共計挍知其數者。不取 正覺
ư bách thiên Kiếp tất cộng kế hiệu tri kỳ số giả. Bất thủ Chính giác.
ở trong trăm nghìn Kiếp cùng nhau tính toán biết được tất cả số lượng. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中人天壽命無能限量。除其本願脩短自在 , 若不爾者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên thọ mệnh vô năng hạn lượng. Trừ kỳ bản Nguyện tu đoản tự tại, nhược bất nhĩ giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, thời lượng thọ mệnh của Trời người trong nước không có hạn, tự do tu ngắn ngoài bản nguyện này, nếu không được như thế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中人天 , 乃至聞有不善名者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên, nãi chí văn hữu bất thiện danh giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người, thậm chí nghe thấy tên không thiện. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 十方 世界無量諸佛 , 不悉諮嗟稱我名者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, thập phương thế giới vô lượng chư Phật, bất tất tư ta xưng Ngã danh giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, vô lượng các Phật của mười phương Thế giới, không thăm hỏi gọi tên con. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 十方 眾生至心信樂 , 欲生我國乃至 十念 , 若不生者。不取 正覺 。唯除 五逆 誹謗正法
Thiết Ngã đắc Phật, thập phương chúng sinh chí tâm tín nhạo, dục sinh Ngã quốc nãi chí thập niệm , nhược bất sinh giả. Bất thủ Chính giác. Duy trừ ngũ-nghịch phỉ báng Chính pháp.
Nếu con được thành Phật, chúng sinh mười phương thành tâm tin yêu, muốn sinh đất nước con thậm chí suy nghĩ đọc 10 lần tên hiệu của con. Nếu không được sinh. Không nhận thành Chính-giác. Chỉ trừ tội ngũ nghịch báng bổ Chính pháp.

設我得佛 , 十方 眾生 發菩提心 修諸 功德 , 至心發願欲生我國。臨壽終時 , 假令不與大眾圍遶現其人前者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, thập phương chúng sinh phát Bồ-đề tâm tu chư công đức , chí tâm phát nguyện dục sinh Ngã quốc. Lâm thọ chung thời, giả linh bất dữ Đại chúng vi nhiễu hiện kỳ nhân tiền giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, chúng sinh mười phương phát tâm Bồ-đề tu các công đức , thành tâm phát nguyện muốn sinh ở nước con. Lúc sắp sửa ra đi, giả như không khiến Đại chúng hiện tới vây quanh trước người đó. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 十方 眾生聞我名號係念我國植諸德本 , 至心迴向欲生我國 , 不果遂者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, thập phương chúng sinh văn Ngã danh hiệu hệ niệm Ngã quốc thực chư đức bản, chí tâm hồi hướng dục sinh Ngã quốc, bất quả toại giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, chúng sinh mười phương nghe tên hiệu của con, suy nghĩ về đất nước của con trồng các đức căn bản, thành tâm hồi hướng muốn sinh ở đất nước của con, không được toại nguyện. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中人天 , 不悉成滿三十二大人相者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên, bất tất thành mãn tam thập nhị Đại nhân tướng giả. Bất thủ Chính giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người, không thành đạt đầy đủ 32 tướng của người vĩ đại. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 他方 佛土菩薩 眾來生我國 , 究竟必至 一生補處 。除其本願自在所化。
Thiết Ngã đắc Phật, tha phương Phật thổ chư Bồ-tát chúng lai sinh Ngã quốc, cứu cánh tất chí Nhất-sinh-bổ-xứ, trừ kỳ bản nguyện tự tại sở hóa.
Nếu con được thành Phật, các chúng Bồ-tát của đất Phật khác tới sinh ở đất nước con, cuối cùng tất cả thành công tới bậc một lần sinh thành Phật, trừ bản nguyện của họ được tự do hoá sinh.

為眾生故被弘誓鎧 , 積累德本度脫一切。遊諸 佛國菩薩 行 , 供養 十方 諸佛 如來
Vị chúng sinh cố phi hoằng thệ khải, tích lũy đức bản độ thoát nhất thiết. Du chư Phật quốc tu Bồ-tát hành, cúng dưỡng thập phương chư Phật Như Lai
Cố vì chúng sinh mặc áo giáp thệ nguyện hành Pháp lớn, tích luỹ đức căn bản độ thoát tất cả, qua lại các đất Phật tu hành đạo Bồ-tát , cúng dưỡng các Phật Như Lai mười phương.

開化恒沙無量眾生 , 使立無上正真之道。超出常倫 , 諸地之行。
Khai hóa Hằng sa vô lượng chúng sinh, sử lập Vô-thượng Chính chân chi Đạo. Siêu xuất thường luân, chư địa chi hành.
Dạy bảo vô số vô lượng chúng sinh, tạo lập thành Đạo chân chính Bình đẳng, vượt qua luân thường đạo lý , tu hành các Trí tuệ.

現前修習 普賢 之德 , 若不爾者。不取 正覺
Hiện tiền tu tập Phổ Hiền chi đức, nhược bất nhĩ giả. Bất thủ Chính-giác.
Trước tiên tu tập đức của Phổ Hiền Bồ-tát , nếu không được như thế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中 菩薩 , 承佛神力供養諸佛。 一食 之頃不能遍至無量無數億 那由他佛國 者不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung Bồ-tát , thừa Phật thần lực cúng dưỡng chư Phật. Nhất thực chi khoảnh bất năng biến chí vô lượng vô số ức Na-do-tha chư Phật quốc giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, Bồ-tát trong nước, dựa vào Thần lực của Phật cúng dưỡng các Phật. Chỉ trong khoảnh khắc 1 bữa ăn không thể tới khắp vô lượng vô số triệu Na-do-tha các đất nước Phật. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中 菩薩 , 在諸佛前現其德本 , 諸所求欲供養之具 , 若不如意者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung Bồ-tát , tại chư Phật tiền hiện kỳ đức bản, chư sở cầu dục cúng dưỡng chi cụ, nhược bất như ý giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, Bồ-tát trong nước, ở trước các Phật hiện các đức căn bản, muốn cầu đồ dùng cúng dưỡng, nếu không được như ý. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中 菩薩 不能演說 一切智 者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung Bồ-tát bất năng diễn thuyết nhất thiết trí giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, Bồ-tát trong nước không thể diễn thuyết tất cả các Trí tuệ. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中 菩薩 不得金剛 那羅延 身者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung Bồ-tát bất đắc Kim cương Na-la-diên thân giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, Bồ-tát trong nước không được thân Kim cương bất hoại . Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中人天 , 一切萬 物嚴淨光麗。形色殊特窮微極妙無能稱量。
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân Thiên, nhất thiết vạn vật nghiêm tịnh quang lệ. Hình sắc thù đặc cùng vi cực diệu vô năng xưng lượng.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người, tất cả vạn vật trang nghiêm thanh tịnh sắc quang đẹp. Hình sắc đặc biệt vô cùng vi diệu không thể tả được.

其諸眾生 , 乃至逮得 天眼 , 有能明了辨其名數者。不取 正覺
Kỳ chư chúng sinh, nãi chí đãi đắc Thiên nhãn , hữu năng minh liễu biện kỳ danh số giả. Bất thủ Chính-giác.
Các chúng sinh đó, thậm chí đã được Thiên nhãn , có thể phân biệt biết rõ tên số lượng của họ. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中 菩薩 , 乃至少 功德 者 , 不能知見其 道場樹 無量光 色高四百萬里者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung Bồ-tát , nãi chí thiểu công đức giả, bất năng tri kiến kỳ đạo tràng thụ Vô Lượng Quang sắc cao tứ bách vạn lý giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Bồ-tát , thậm chí người ít công đức , không thể thấy biết thân sắc của cây Vô Lượng Quangđạo tràng đó cao 2 triệu km. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中 菩薩 , 若受讀經法諷誦持說 , 而不得辯才智慧者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung Bồ-tát , nhược thụ độc Kinh pháp phúng tụng trì thuyết, nhi bất đắc biện tài Trí tuệ giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Bồ-tát , nếu nhận đọc Kinh pháp phúng tụng ghi nhớ thuyết giảng, mà không được Trí tuệ hùng biện. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中 菩薩 , 智慧辯才若可限量者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung Bồ-tát , trí tuệ biện tài nhược khả hạn lượng giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Bồ-tát , hùng biện Trí tuệ nếu lượng có thể có hạn. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國土 清淨 , 皆悉照見 十方 一切無量無數 不可思議佛世界 。猶如明鏡覩其面像 , 若不爾者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc thổ thanh tịnh, giai tất chiếu kiến thập phương nhất thiết vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới . Do như minh kính đổ kỳ diện tượng, nhược bất nhĩ giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, đất nước thanh tịnh, đều nhìn thấy được tất cả vô lượng vô số không thể suy bàn các thế giới Phật mười phương. Giống như gương sáng nhìn rõ khuôn mặt, nếu không được như thế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 自地以上至于虛空 , 宮殿樓觀池流華樹。 國土 所有 一切萬 物。
Thiết Ngã đắc Phật, tự địa dĩ thượng chí vu hư không, cung điện lâu quán trì lưu hoa thụ, quốc thổ sở hữu nhất thiết vạn vật.
Nếu con được thành Phật, từ đất trở lên tới tận hư không, cung điện lầu quán ao đầm cây hoa, tất cả vạn vật của đất nước.

皆以無量雜寶百千種香而共合成 , 嚴飾奇妙超諸人天。其香普薰 十方 世界。
Giai dĩ vô lượng tạp bảo bách thiên chủng hương nhi cộng hợp thành, nghiêm sức kỳ diệu siêu chư nhân thiên. Kỳ hương phổ huân thập phương Thế giới,
Đều dùng rất nhiều vô lượng trăm nghìn loại hương quý mà hờa hợp thành, nghiêm sức kỳ diệu vượt hơn Trời người . Hương này thơm khắp mười phương Thế giới,

菩薩聞者皆修佛行 , 若不爾者。不取 正覺
Bồ-tát văn giả giai tu Phật hành, nhược bất nhĩ giả. Bất thủ Chính-giác.
Bồ-tát ngửi hương đều tu hành Đạo Phật, nếu không được như thế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 十方 無量 不可思議佛世界 眾生之類 , 蒙我光明觸其體者。
Thiết Ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chúng sinh chi loại, mông Ngã quang minh xúc kỳ thể giả.
Nếu con được thành Phật, các loại chúng sinh của mười phương vô lượng không thể suy bàn các thế giới Phật, được quang minh của con chiếu vào thân thể.

身心柔軟超過人天 , 若不爾者。不取 正覺
Thân tâm nhu nhuyễn siêu quá nhân thiên, nhược bất nhĩ giả. Bất thủ Chính-giác.
Thân tâm êm dịu vượt hơn Trời người, nếu không được như thế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 十方 無量 不可思議佛世界 眾生之類 , 聞我名字 ,
Thiết Ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chúng sinh chi loại, văn Ngã danh tự,
Nếu con được thành Phật, các loại chúng sinh của mười phương vô lượng không thể suy bàn các thế giới Phật, nghe tên hiệu của con,

不得 菩薩 無生法忍 諸深 總持 者。不取 正覺
bất đắc Bồ-tát Vô-sinh Pháp-nhẫn chư thâm tổng trì giả. Bất thủ Chính-giác.
không được Bồ-tát Vô-sinh Pháp-nhẫn các Pháp tổng trì thâm sâu. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 十方 無量 不可思議佛世界 , 其有女人聞我名字。
Thiết Ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới , kỳ hữu nữ nhân văn Ngã danh tự.
Nếu con được thành Phật, vô lượng không thể suy bàn các thế giới Phật mười phương, nếu có người nữ nghe tên hiệu con.

歡喜信樂 發菩提心 厭惡女身 , 壽終之後復為女像者。不取 正覺
Hoan hỉ tín nhạo phát Bồ-đề tâm yếm ố nữ thân, thọ chung chi hậu phục vi nữ tượng giả. Bất thủ Chính-giác.
Vui mừng tin yêu phát tâm Bồ-đề chán thân phụ nữ, sau khi xả thân lại được hình thân nữ. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 十方 無量 不可思議佛世界菩薩 眾 , 聞我名字。
Thiết Ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chư Bồ-tát chúng, văn Ngã danh tự.
Nếu con được thành Phật, các chúng Bồ-tát của mười phương vô lượng không thể suy bàn các thế giới Phật, nghe tên hiệu con.

壽終之後常修 梵行 至成 佛道 , 若不爾者。不取 正覺
Thọ chung chi hậu thường tu Phạm hạnh chí thành Phật đạo , nhược bất nhĩ giả. Bất thủ Chính-giác.
Sau khi bỏ thân thường tu Phạm hạnh tới thành đạo Phật, nếu không được như thế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 十方 無量 不可思議佛世界 諸天人民 , 聞我名字 , 五體投地 稽首作禮。
Thiết Ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chư Thiên Nhân dân, văn Ngã danh tự, ngũ thể đầu địa khể thủ tác lễ.
Nếu con được thành Phật, nhân dân cõi Trời của mười phương vô lượng không thể suy bàn các thế giới Phật, nghe tên hiệu con, phủ phục sát đất hành lễ.

歡喜信樂修 菩薩 行 , 諸天世人莫不致敬 , 若不爾者。不取 正覺
Hoan hỉ tín nhạo tu Bồ-tát hành, chư Thiên thế nhân mạc bất trí kính. Bất thủ Chính-giác
Vui mừng tin yêu tu hành đạo Bồ-tát , người đời cõi Trời gửi tới sự kính trọng, nếu không được như thế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中人天 , 欲得衣服隨念即至。如佛所讚應法妙服自然在身 , 若有裁縫染治浣濯者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, dục đắc y phục tùy niệm tức chí. Như Phật sở tán ưng pháp diệu phục tự nhiên tại thân, nhược hữu tài phùng nhiễm trị hoán trạc giả. Bất thủ Chính-giác
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người muốn có quần áo tuỳ theo ý nguyện tức thì có được. Như Phật có nói thuận theo Pháp quần áo vi diệu tự nhiên trên thân, nếu có may vá giặt là trừ nhiễm ô uế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中人天 , 所受快樂 , 不如漏盡 比丘 者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung nhân thiên, sở thụ khoái lạc, bất như Lậu tận Tỉ-kheo giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Trời người, nhận được vui vẻ, không bằng Tỉ kheo đã hết phiền não . Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中 菩薩 , 隨意欲見 十方 無量嚴淨 佛土 , 應時如願。
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung Bồ-tát , tùy ý dục kiến thập phương vô lượng nghiêm tịnh Phật độ, ưng thời như nguyện.
Nếu con được thành Phật, trong nước Bồ-tát tuỳ theo ý muốn nhìn thấy mười phương vô lượng đất Phật thanh tịnh trang nghiêm, khi cần theo ý nguyện.

於寶樹中皆悉照見 , 猶如明鏡覩其面像 , 若不爾者。不取 正覺
Ư bảo thụ trung giai tất chiếu kiến, do như minh kính đổ kỳ diện tượng, nhược bất nhĩ giả. Bất thủ Chính-giác.
Ở trong Cây báu đều nhìn thấy tất cả, giống như gương sáng nhìn rõ khuôn mặt, nếu không được như thế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 他方 國土菩薩 眾 , 聞我名字至于得佛 , 諸根缺陋不具足者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, tha phương quốc thổ chư Bồ-tát chúng, văn Ngã danh tự chí vu đắc Phật, chư căn khuyết lậu bất cụ túc giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, các chúng Bồ-tát của đất Phật khác, nghe tên hiệu con tới khi được thành Phật. Các Căn khiếm khuyết không được đầy đủ. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 他方 國土菩薩 眾 , 聞我名字 , 皆悉逮得清淨解脫 三昧 , 住是三昧一發意頃。
Thiết Ngã đắc Phật, tha phương quốc thổ chư Bồ-tát chúng, văn Ngã danh tự, giai tất đãi đắc thanh tịnh giải thoát Tam-muội , trụ thị Tam-muội nhất phát ý khoảnh.
Nếu con được thành Phật, các chúng Bồ-tát của đất Phật khác, nghe tên hiệu con, tất cả đều nhanh được thanh tịnh Giải thoát Tam-muội , sống trong Tam-muội đó giây phút phát ý.

供養無量 不可思議佛世尊 , 而不失定意 , 若不爾者。不取 正覺
Cúng dưỡng vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế tôn , nhi bất thất Định ý, nhược bất nhĩ giả. Bất thủ Chính-giác.
Cúng dưỡng vô lượng không thể suy bàn các Phật Thế Tôn , mà không mất ý Định, nếu không được như thế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 他方 國土菩薩 眾 , 聞我名字 , 壽終之後生尊貴家 , 若不爾者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, tha phương quốc thổ chư Bồ-tát chúng, văn Ngã danh tự, thọ chung chi hậu sinh tôn quý gia, nhược bất nhĩ giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, các chúng Bồ-tát của đất Phật khác, nghe tên hiệu con, sau khi hết thọ mệnh tới sinh vào gia đình tôn quý, nếu không được như thế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 他方 國土菩薩 眾 , 聞我名字歡喜踊躍 , 修 菩薩行 具足德本 , 若不爾者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, tha phương quốc thổ chư Bồ-tát chúng, văn Ngã danh tự, hoan hỉ dũng dược, tu Bồ-tát hành cụ túc đức bản, nhược bất nhĩ giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, các chúng Bồ-tát của đất Phật khác, nghe tên hiệu con vui mừng phấn chấn. Tu hành đạo Bồ-tát đầy đủ đức căn bản, nếu không được như thế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 他方 國土菩薩 眾 , 聞我名字 , 皆悉逮得普等 三昧
Thiết Ngã đắc Phật, tha phương quốc thổ chư Bồ-tát chúng, văn Ngã danh tự, giai tất đãi đắc phổ đẳng Tam-muội .
Nếu con được thành Phật, các chúng Bồ-tát của đất Phật khác, nghe tên hiệu con, tất cả đều nhanh được Bình đẳng Tam-muội .

住是 三昧 至于成佛 , 常見無量 不可思議 一切 如來 , 若不爾者。不取 正覺
Trụ thị Tam-muội chí vu thành Phật, thường kiến vô lượng bất khả tư nghị nhất thiết Như Lai , nhược bất nhĩ giả. Bất thủ Chính-giác.
Sống trong Tam-muội này tới khi thành Phật, thường gặp vô lượng không thể suy bàn tất cả các Như Lai , nếu không được như thế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 國中 菩薩 , 隨其志願所欲聞法自然得聞 , 若不爾者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, quốc trung Bồ-tát , tùy kỳ chí nguyện sở dục văn Pháp tự nhiên đắc văn, nhược bất nhĩ giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, trong nước Bồ-tát , tùy theo tâm nguyện muốn được nghe Pháp tự nhiên được nghe, nếu không được như thế. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 他方 國土菩薩 眾 , 聞我名字 , 不即得至 不退轉 者。不取 正覺
Thiết Ngã đắc Phật, tha phương quốc thổ chư Bồ-tát chúng, văn Ngã danh tự, bất tức đắc chí Bất-thoái-chuyển giả. Bất thủ Chính-giác.
Nếu con được thành Phật, các chúng Bồ-tát của đất Phật khác, nghe tên hiệu con, không tức thì được Bất thoái chuyển. Không nhận thành Chính-giác.

設我得佛 , 他方 國土菩薩 眾 , 聞我名字 , 不即得至第一第二第 三法 忍。
Thiết Ngã đắc Phật, tha phương quốc thổ chư Bồ-tát chúng, văn Ngã danh tự, bất tức đắc chí đệ nhất đệ nhị đệ tam Pháp nhẫn .
Nếu con được thành Phật, các chúng Bồ-tát của đất Phật khác, nghe tên hiệu con, không tức thì được Pháp nhẫn bậc một bậc hai bậc ba(Âm-hưởng nhẫn, Nhu-thuận nhẫn, Vô-sinh Pháp nhẫn).

於諸 佛法 不能即得 不退轉 者。不取 正覺
Ư chư Phật Pháp bất năng tức đắc Bất-thoái-chuyển giả. Bất thủ Chính-giác.
với các Pháp Phật không thể tức thời được Bất-thoái-chuyển . Không nhận thành Chính-giác.

佛告 阿難 ! 爾時 法藏 比丘 , 說此願已而說頌曰。
Phật cáo A-nan . Nhĩ thời Pháp tạng Tỉ- kheo, thuyết thử nguyện dĩ nhi thuyết tụng viết:
Phật bảo A-nan . Khi đó Pháp tạng Tỉ- kheo nói nguyện đó xong lại dùng bài tụng nói rằng :

我建超世願  必至 無上道
Ngã kiến siêu thế nguyện. Tất chí Vô-thượng đạo
Con nguyện xây siêu Thế giới. Nhất định thành Đạo Bình-đẳng.

斯願不滿足  誓不成等覺
Tư nguyện bất mãn túc. Thệ bất thành Đẳng-giác
Nguyện này không đầy đủ. Thề không thành Chính-giác

我於 無量劫   不為大施主
Ngã ư vô lượng Kiếp. Bất vi Đại-thí-chủ .
Con ở trong vô lượng Kiếp. Không làm được Đại thí chủ .

普濟諸貧苦  誓不成等覺
Phổ tế chư bần khổ. Thệ bất thành Đẳng-giác.
Cứu độ khắp các bần khổ. Thề không được thành Chính-giác.

我至成 佛道   名聲超 十方
Ngã chí thành Phật đạo . Danh thanh siêu thập phương .
Con quyết thành được Đạo Phật. Danh hiệu vượt hơn mười phương.

究竟靡不聞  誓不成等覺
Cứu cánh mị bất văn. Thệ bất thành Đẳng giác.
Không nghe rốt cục thành uổng phí. Thề không được thành Chính- giác.

離欲深 正念   淨慧修 梵行
Ly dục thâm Chính niệm. Tịnh tuệ tu Phạm hạnh.
Lánh dục vọng Chính niệm sâu. Thanh tịnh Tuệ tu Phạm hạnh.

志求 無上道   為諸 天人師
Chí cầu Vô-thượng đạo. Vi chư Thiên Nhân Sư .
Chí nguyện cầu Đạo Bình đẳng. Là Thầy của cả Trời người.  

神力演大光  普照無際土
Thần lực diễn đại quang. Phổ chiếu vô tế thổ.
Thần lực phóng quang minh lớn. Chiếu soi khắp các đất Phật.

消除三垢冥  明濟眾厄難
Tiêu trừ Tam-cấu minh. Minh tế chúng ách nạn.
Tiêu trừ Ba cấu chốn u minh. Soi sáng cứu các ách nạn.

開彼智慧眼  滅此昏盲闇
Khai bỉ Trí tuệ-nhãn. Diệt thử hôn manh ám .
Khai mở môn Trí tuệ-nhãn. Diệt tăm tối mê muội đó.

閉塞諸惡道  通達善趣門
Bế tắc chư ác đạo. Thông đạt thiện thú môn.
Lấp chặt kín các đường dữ. Thông suốt hướng về Đạo thiện.

功祚成滿足  威曜朗 十方
Công tộ thành mãn túc. Uy diệu lãng thập phương .
Công đức được thành đầy đủ. Uy đức chiếu sáng mười phương.

日月戢重暉  天光隱不現
Nhật nguyệt tập trọng huy. Thiên quang ẩn bất hiện.
Ánh Nhật nguyệt không toả sáng. Ánh quang Trời ẩn không hiện.

為眾開 法藏   廣施 功德
Vị chúng khai Pháp tạng . Quảng thí công đức bảo.
Vì chúng sinh mở Pháp tạng . Bố thí rộng công đức quý.

常於大眾中  說法 師子吼
Thường ư Đại chúng trung. Thuyết Pháp Sư tử hống.
Thường ở trong các Đại chúng. Diễn thuyết Đạo pháp chân chính.

供養一切佛  具足眾德本
Cúng dưỡng nhất thiết Phật. Cụ túc chúng đức bản.
Cúng dưỡng tất cả các Phật. Đầy đủ các đức căn bản.

願慧悉成滿  得為三界雄
Nguyện tuệ tất thành mãn. Đắc vi Tam-giới hùng.
Nguyện được đủ các loại trí. Là người hùng của Tam giới.

如佛無量智  通達靡不遍
Như Phật vô lượng trí. Thông đạt mị bất biến.
Như Phật Trí tuệ vô lượng. Thông suốt không có trở ngại.

願我 功德 力  等此 最勝尊
Nguyện Ngã công đức lực. Đẳng thử Tối thắng tôn .
Nguyện lực công đức của con. Được thành tôn quý bậc nhất.

斯願若剋果  大千應感動
Tư nguyện nhược khắc quả. Đại thiên ưng cảm động.
Nguyện này nếu được thành quả. Đại Thiên giới cần cảm động.

虛空諸天人  當雨珍妙華
Hư không chư Thiên nhân. Đương vú trân diệu hoa.
Người Trời ở trong hư không. Cần rắc hoa báu vi diệu.

佛語 阿難 : 法藏 比丘 說此頌已。
Phật ngữ A-nan : Pháp tạng Tỉ- kheo thuyết thử tụng dĩ.
Phật bảo A-nan : Pháp tạng Tỉ- kheo nói xong bài tụng đó.

應時普地 六種震動 , 天雨妙華以散其上。
Ưng thời phổ địa lục chủng chấn động . Thiên vú hương khí dĩ tán kỳ thượng.
Khi đó khắp các đất nước sáu loại chấn động. Trời rải hương thơm dùng rắc lên thân.

自然音樂空中讚言。決定必成無上 正覺
Tự nhiên âm nhạc không trung tán ngôn: Quyết định tất thành Vô-thượng Chính-giác.
Tự khắc âm nhạc trong không trung khen ngợi rằng : Nhất định sẽ thành Bình đẳng Chính- giác.

於是 法藏 比丘 , 具足修滿如是 大願
Ư thị Pháp tạng Tỉ-kheo, cụ túc tu mãn như thị Đại nguyện.
Khi đó Pháp tạng Tỉ-kheo, tu đầy đủ Đại nguyện như thế .

誠諦不虛超 出世間 深樂寂滅。 阿難
Thành đế bất hư siêu xuất thế gian thâm nhạo tịch diệt. A-nan !
Chân thực không sai vượt hơn cả Pháp xuất thế gian ham thích thâm sâu lặng diệt. A-nan !

法藏 比丘 於彼佛所 , 諸天魔梵龍神八部大眾之中。
Pháp tạng Tỉ-kheo ư bỉ Phật sở, chư Thiên ma Phạm Long Thần Bát bộ Đại chúng chi trung.
Pháp tạng Tỉ-kheo ở nơi Đức Phật đó, trong các ma Trời Phạm Rồng Thần Tám bộ Đại chúng.

發斯弘誓建此願已 , 一向專志莊嚴妙土。
Phát tư hoằng thệ kiến thử nguyện dĩ, nhất hướng chuyên chí trang nghiêm diệu thổ.
Phát thệ nguyện lớn đó, tạo được nguyện đó xong, một lòng chuyên tâm hướng về đất Phật trang nghiêm vi diệu.

所修 佛國 開廓廣大超勝獨妙 , 建立常然無衰無變。
Sở tu Phật quốc khai khuếch quảng đại siêu thắng độc diệu, kiến lập thường nhiên vô suy vô biến.
Tu được đất Phật rộng lớn vượt lên thành đất Phật thù diệu bậc nhất, xây dựng khác thường với tự nhiên không suy vong không thay đổi.

不可思議 兆載永劫
ư bất khả tư nghị triệu tải vĩnh Kiếp.
trải qua vĩnh viễn không thể nghĩ bàn nghìn tỉ Kiếp.

積殖 菩薩 無量德行 , 不生欲覺瞋覺害覺。
Tích thực Bồ-tát vô lượng đức hành, bất sinh dục giác sân giác hại giác.
Tích lũy trồng vô lượng công đức hành đạo Bồ-tát , không sinh ý mong cầu thù hận tàn hại.

不起欲想瞋想害想 , 不著色聲香味觸之法。
Bất khởi dục tưởng sân tưởng hại tưởng, bất trước sắc thanh hương vị xúc chi pháp.
Không phát khởi ý tưởng mong cầu thù hận tàn hại, không chấp trước sắc thanh hương vị xúc pháp.

忍力成就不計眾苦 , 少欲知足無染恚癡。
Nhẫn lực thành tựu bất kế chúng khổ, thiểu dục tri túc vô nhiễm khuể si .
Thành công lực Nhẫn không mưu tính các khổ, mong muốn ít biết đủ không nhiễm tức giận ngu si.

三昧常寂智慧無礙 , 無有虛偽諂曲之心和顏軟語先意承問。
Tam-muội thường tịch trí tuệ vô ngại, vô hữu hư ngụy siểm khúc chi tâm hòa nhan nhuyễn ngữ tiên ý thừa vấn.
Tam muội thường tĩnh lặng trí tuệ không trở ngại, không có tâm dối trá lươn lẹo vui vẻ hòa đồng lời nói uyển chuyển hỏi theo ý kiến trước.

勇猛精進志願無惓 , 專求清白之法。
Dũng mãnh tinh tiến chí nguyện vô quyện, chuyên cầu thanh bạch chi Pháp.
Dũng mãnh tinh tiến chí nguyện không mệt mỏi, chuyên cầu Pháp rõ ràng trong sạch.

以慧利群生 , 恭敬 三寶 奉事師長。
Dĩ tuệ lợi quần sinh, cung kính Tam-bảo phụng sự sư trưởng.
Dùng trí tuệ lợi ích chúng sinh, cung kính Tam Bảo phụng sự Sư trưởng.

大莊嚴 具足眾行 , 令諸眾生 功德 成就。
đại trang nghiêm cụ túc chúng hành, linh chư chúng sinh công đức thành tựu.
Dùng trang nghiêm lớn đầy đủ các hành, giúp các chúng sinh thành đạt công đức.

空無 相無願之法 , 無作無起觀法如化。
Trụ Không Vô-tướng Vô-nguyện chi Pháp, Vô-tác Vô-khởi quan Pháp như hóa.
Sống ở trong Pháp‘ Không, Không có tướng, Không có nguyện’, ‘Không làm, Không phát khởi’ xem Pháp như ảo hóa.

遠離麁言自害害彼彼此俱害。
Viễn ly thô ngôn tự hại hại bỉ bỉ thử câu hại.
Xa lìa lời thô tục tự hại hại người tất cả đều cùng hại.

修習善語自利利人彼我兼利 , 棄國捐王絕去財色。
Tu tập thiện ngữ tự lợi lợi nhân bỉ Ngã kiêm lợi, khí quốc quyên Vương tuyệt khứ tài sắc.
Tu tập lời nói hay tự lợi lợi người Ta và người kiêm lợi, quên nước bỏ Vương vị đoạn tuyệt tài sắc.

自行 六波羅蜜 , 教人令行。
Tự hành Lục Ba-la-mật , giáo nhân linh hành.
Tự tu hành Đạo Bồ-tát , dạy người giúp tu hành.

無央數劫積功累德 , 隨其生處在意所欲。
Vô ương sổ Kiếp tích công lũy đức, tùy kỳ sinh xứ tại ý sở dục.
Qua vô số Kiếp tích công luỹ đức, nơi được sinh tùy theo ý muốn.

無量寶藏自然發應 , 教化安立無數眾生。
Vô lượng bảo tạng tự nhiên phát ưng, giáo hóa an lập vô số chúng sinh.
Vô lượng kho báu tự khắc phát hiện theo ý, giáo hoá an lập vô số chúng sinh.

住於無上正真之道 , 或為長者居士豪姓尊貴。
Trụ ư Vô-thượng chính chân chi đạo, hoặc vi Trưởng-giả Cư-sĩ hào tính tôn quý.
Sống ở trong Đạo Bình đẳng chân chính, hoặc là Trưởng-giả Cư-sĩ hào tộc tôn quý.

或為剎利國君轉輪聖帝 , 或為 六欲天 主乃至 梵王
Hoặc vi Sát lợi quốc quân chuyển luân Thánh đế, hoặc vi Lục dục Thiên chủ nãi chí Phạm-vương.
Hoặc là Sát-lợi quốc vương quân thần Chuyển luân Thánh vương, hoặc là Chúa của 6 tầng Trời cõi Dục thậm chí là Phạm-vương.

常以 四事供養 恭敬一切諸佛。
Thường dĩ Tứ sự cúng dưỡng cung kính nhất thiết chư Phật.
Thường dùng bốn việc cúng dưỡng cung kính tất cả các Phật.

如是 功德 不可稱說 , 口氣香潔如 優鉢羅 華。
Như thị công đức bất khả xưng thuyết, khẩu khí hương khiết như Ưu-bát-la hoa.
Công đức như thế không thể nói hết, hơi thở thơm sạch như hương hoa Ưu-bát-la.

身諸毛孔出栴檀香 , 其香普熏無量世界。
Thân chư mao khổng xuất Chiên-đàn hương, kỳ hương phổ huân vô lượng thế giới.
Các lỗ chân lông trên thân xuất ra hương Chiên-đàn, hương đó tỏa thơm khắp cả vô lượng thế giới.

容色端正相好殊妙 , 其手常出無盡之寶。
Dung sắc đoan chính Tướng-Hảo thù diệu, kỳ thủ thường xuất vô tận chi bảo.
Dung mạo nhan sắc đoan chính 32 tướng 80 tùy hình đặc biệt vi diệu, tay đó thường xuất hiện vô số vật báu.

衣服飲食珍妙華香 , 諸蓋幢旛莊嚴之具。
Y phục ẩm thực trân hương khí hương, chư cái tràng phan trang nghiêm chi cụ.
Quần áo đồ ăn thức uống báu vật hương hoa vi diệu, tăng cái tràng phan đầy đủ trang nghiêm.

如是等事超諸人天 , 於 一切法 而得自在。 阿難 白佛。
Như thị đẳng sự siêu chư nhân Thiên, ư nhất thiết Pháp nhi đắc Tự-tại. A-nan bạch Phật :
Những việc như thế vượt hơn hẳn Trời người, với tất cả Pháp được thoải mái Tự tại. A-nan bạch Phật :

法藏 菩薩 , 為已成佛而取滅度 , 為未成佛。
Pháp Tạng Bồ-tát , vi dĩ thành Phật nhi thủ diệt độ, vi vị thành Phật.
Pháp Tạng Bồ-tát , đã được thành Phật và tiếp thu quả Phật Bồ-đề , cho là chưa thành Phật.

為今現在。佛告 阿難 : 法藏 菩薩
Vi kim hiện tại. Phật cáo A-nan : Pháp-tạng Bồ-tát ,
Coi như nay còn tại thế. Phật bảo A-nan : Pháp tạng Bồ-tát ,

今已成佛現在 西方 , 去此十萬億剎。
Kim dĩ thành Phật hiện tại Tây phương , khứ thử thập vạn ức sát.
Nay đã thành Phật hiện ở Tây phương , đi tới nơi đó qua mười vạn triệu đất Phật.

佛世界 名曰安樂。 阿難 又問 , 其佛成道已來為經幾時 ?
Kỳ Phật thế giới danh viết An-lạc. A-nan hựu vấn, kỳ Phật thành đạo dĩ lai vi kinh kỷ thời ?
Tên thế giới của Phật đó là An lạc. A-nan lại hỏi, Phật đó thành Đạo đến nay qua bao nhiêu thời gian ?

佛言 : 成佛已來凡歷 十劫 , 其 佛國土 自然 七寶
Phật ngôn : Thành Phật dĩ lai phàm lịch thập Kiếp, kỳ Phật quốc thổ tự nhiên thất bảo .
Phật bảo rằng : Thành Phật đến nay theo lịch phàm trải qua mười Kiếp (13,44 tỷ năm), đất Phật tất nhiên bằng bảy báu.

金銀琉璃 珊瑚 琥珀 硨磲 瑪瑙合成為地 , 恢廓曠蕩不可限極。
Kim ngân lưu ly san hô hổ phách xa cừ mã não hợp thành vi địa, khôi khuếch khoáng đãng bất khả hạn cực.
Vàng bạc lưu ly san hô hổ phách xa cừ mã não hợp thành đất Phật, to lớn sáng sủa mông mênh không có giới hạn.

悉相雜廁轉相入間 , 光赫焜耀微妙奇麗。
Tất tương tạp xí chuyển tương nhập gian, quang hách hỗn diệu vi diệu kỳ lệ.
Tất cả lẫn lộn tạp nham chuyển nhập vào giữa, ánh sáng đỏ ửng rực rỡ rọi sáng vi diệu kỳ lạ tuyệt đẹp.

清淨莊嚴超踰 十方 一切世界 , 眾寶中精 , 其寶猶如第六天寶。
Thanh tịnh trang nghiêm siêu du thập phương nhất thiết thế giới, chúng bảo trung tinh, kỳ bảo do như đệ lục Thiên bảo.
Thanh tịnh trang nghiêm vượt hẳn mười phương tất cả Thế giới, tinh xảo trong các loại vật báu, báu vật đó giống như vật báu của cõi Trời tầng thứ 6.

又其 國土須彌山 及金剛圍一切諸山 , 亦無大海小海溪渠井谷。
Hựu kỳ quốc thổ vô Tu-di sơn cập Kim cương vi nhất thiết chư sơn, diệc vô đại hải tiểu hải khê cừ tỉnh cốc.
Lại nữa đất nước đó không có núi Tu-di và núi Kim cương núi bao quanh các núi, cũng không có biển lớn biển nhỏ suối khe giếng hang động.

佛神力故欲見則見 , 亦無 地獄 餓鬼 畜生諸難之趣。
Phật thần lực cố dục kiến tức kiến, diệc vô Địa ngục Ngạ quỷ Súc sinh chư nạn chi thú.
Do Thần lực của Phật muốn nhìn thấy tức thời nhìn thấy, cũng không có Địa ngục Quỷ đói Súc sinh hướng về các nạn.

亦無四時春秋冬夏 , 不寒不熱常和調適。
Diệc vô tứ thời xuân thu đông hạ, bất hàn bất nhiệt thường hòa điều thích.
Cũng không có bốn mùa xuân hạ thu đông, không lạnh không nóng thường điều hoà thích ứng.

爾時 阿難 白佛言 : 世尊 ! 若彼 國土須彌山
Nhĩ thời A-nan bạch Phật ngôn : Thế Tôn ! Nhược bỉ quốc thổ vô Tu-di sơn .
Lúc đó A-nan bạch Phật rằng : Thế-Tôn ! Nếu đất nước đó không có núi Tu-di .

四天王忉利天 , 依何而住。 佛語 阿難 :
Kỳ Tứ Thiên Vương cập Đao Lợi Thiên , y hà nhi trụ. Phật ngữ A-nan :
Tứ Thiên Vương đó và cung Trời Đao Lợi , dựa vào chỗ nào mà ở . Phật bảo A-nan :

第三炎天 , 乃至 色究竟天 , 皆依何住。 阿難 白佛。
Đệ tam Viêm Thiên, nãi chí Sắc cứu cánh Thiên, giai y hà trụ. A-nan bạch Phật :
Tầng Trời thứ 3 Viêm Thiên, thậm chí tầng Trời Sắc cứu cánh Thiên, đều sống dựa vào đâu. A-nan bạch Phật :

行業 果報 不可思議佛語 阿難 :
Hành nghiệp quả báo bất khả tư nghị . Phật ngữ A-nan :
Nghiệp hành quả báo không thể nghĩ bàn. Phật bảo A-nan :

行業 果報 不可思議 , 諸 佛世界 亦不可思議。
Hành nghiệp quả báo bất khả tư nghị , chư Phật thế giới diệc bất khả tư nghị.
Nghiệp hành quả báo không thể nghĩ bàn, các thế giới Phật cũng không thể nghĩ bàn.

其諸眾生 功德 善力 , 住行業之地 , 故能爾耳。 阿難 白佛 :
Kỳ chư chúng sinh công đức thiện lực, trụ hành nghiệp chi địa, cố năng nhĩ nhĩ. A-nan bạch Phật :
Công đức lực thiện của các chúng sinh đó, sống ở tại nơi Nghiệp hành, cho nên có thể như thế. A-nan bạch Phật :

我不疑此法 , 但為將來眾生 , 欲除其 疑惑
Ngã bất nghi thử Pháp, đãn vị tương lai chúng sinh, dục trừ kỳ nghi hoặc .
Con không nghi Pháp này, chỉ vì chúng sinh thời Tương lai, muốn trừ hết nghi hoặc của họ.

故問斯義 , 佛告 阿難 :
Cố vấn tư nghĩa. Phật cáo A-nan :
Vì thế hỏi rõ nghĩa này. Phật bảo A-nan :

無量壽佛威神光明最尊第一 , 諸 佛光 明所不能及。
Vô Lượng Thọ Phật uy thần quang minh tối tôn đệ nhất, chư Phật quang minh sở bất năng cập.
Uy thần quang minh của Vô Lượng Thọ Phật là tôn quý cao nhất, quang minh của các Phật không thể so bằng được.

或有 佛光 照百 佛世界 , 或千佛世界 , 取要言之。
Hoặc hữu Phật quang chiếu bách Phật thế giới , hoặc thiên Phật thế giới, thủ yếu ngôn chi,
Hoặc có quang Phật soi sáng trăm Thế giới Phật, hoặc nghìn thế giới Phật, chủ yếu nói là,

乃照東方恒沙佛剎。
nãi chiếu Đông phương Hằng sa Phật sát .
thậm chí soi sáng phương Đông vô số đất Phật nhiều như cát sông Hằng.

南西北方四維上下亦復如是 , 或有 佛光 照于七尺。
Nam Tây Bắc phương tứ duy thượng hạ diệc phục như thị, hoặc hữu Phật quang chiếu vu thất xích.
Phương Nam Tây Bắc, bốn hướng trên dưới cũng lại như thế, lại có quang Phật soi sáng bảy thước.

或照一 由旬 二三四五由旬 , 如是轉倍乃至照一佛剎。
Hoặc chiếu nhất Do-tuần nhị tam tứ ngũ Do-tuần, như thị chuyển bội nãi chí chiếu nhất Phật sát .
Hoặc soi sáng 20km- 40km- 60km-80km-100km, như thế chuyển gấp nhiều lần, thậm chí soi sáng một đất Phật.

是故 無量壽佛無量光佛 , 無邊光佛 ,
Thị cố Vô Lượng Thọ Phật hiệu Vô Lượng Quang Phật , Vô Biên Quang Phật,
Vì thế Vô Lượng Thọ Phật có tên hiệu Vô Lượng Quang Phật , Vô Biên Quang Phật.

無礙光佛 , 無對光佛 , 炎王光佛 , 清淨光佛 ,
Vô Ngại Quang Phật, Vô Đối Quang Phật, Viêm Vương Quang Phật, Thanh Tịnh Quang Phật.
Vô Ngại Quang Phật, Vô Đối Quang Phật, Viêm Vương Quang Phật, Thanh Tịnh Quang Phật.

歡喜光佛 , 智慧光佛 , 不斷光 佛 , 難思光佛 ,
Hoan Hỉ Quang Phật, Trí Tuệ Quang Phật, Bất Đoạn Quang Phật, Nan Tư Quang Phật.
Hoan Hỉ Quang Phật, Trí Tuệ Quang Phật, Bất Đoạn Quang Phật, Nan Tư Quang Phật.

無稱光佛 , 超日月光佛 .
Vô Xưng Quang Phật, Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật.
Vô Xưng Quang Phật, Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật.

其有眾生遇斯光者三垢消滅身意柔軟 , 歡喜踊躍善心生焉。
Kỳ hữu chúng sinh ngộ tư quang giả Tam-cấu tiêu diệt thân ý nhu nhuyễn, hoan hỉ dũng dược thiện tâm sinh yên.
Nếu có chúng sinh gặp được ánh quang đó tiêu diệt được Tham Sân Si thân ý nhu hòa thoải mái, vui mừng dũng mãnh tâm thiện yên ổn.

若在三塗勤苦之處 , 見此光明皆得休息無復苦惱 , 壽終之後皆蒙解脫。
Nhược tại Tam-đồ cần khổ chi xứ, kiến thử quang minh giai đắc hưu tức vô phục khổ não, thọ chung chi hậu giai mông giải thoát.
Nếu ở trong Ba đường dữ chịu khổ, gặp được quang minh này đều dừng nghỉ không còn khổ não, sau khi hết thọ mệnh đều được giải thoát.

無量壽 佛光 明顯赫照曜 十方佛國土 , 莫不聞知。
Vô Lượng Thọ Phật quang minh hiển hách chiếu diệu thập phương chư Phật quốc thổ, mạc bất văn tri.
Quang minh của Vô Lượng Thọ Phật rực rỡ chiếu mười phương các đất Phật, tất cả đều nghe biết.

不但我今稱其光明 , 一切諸佛 聲聞 緣覺諸 菩薩 眾。
Bất đãn Ngã kim xưng kỳ quang minh, nhất thiết chư Phật Thanh-văn Duyên-giác chư Bồ-tát chúng.
Không chỉ mình Ta nay nói quang minh đó, tất cả các Phật Thanh-văn Duyên-giác các chúng Bồ-tát .

咸共歎譽亦復如是。若有眾生。
Hàm cộng thán dự diệc phục như thị. Nhược hữu chúng sinh.
Tất cả cùng nhau ngợi khen cũng lại như thế. Nếu có chúng sinh.

聞其光明威神 功德 , 日夜稱說至心不斷。
Văn kỳ quang minh uy thần công đức , nhật dạ xưng thuyết chí tâm bất đoạn.
Nghe được Uy thần công đức của quang minh đó, ngày đêm nói chí tâm không đoạn mất.

隨意所願得生其國 , 為諸 菩薩 聲聞 大眾。
Tùy ý sở nguyện đắc sinh kỳ quốc, vi chư Bồ-tát Thanh-văn Đại chúng.
Tuỳ ý nguyện được sinh đất nước đó, được các Bồ-tát Thanh-văn Đại chúng.

所共歎譽稱其 功德 , 至其然後得 佛道 時 .
Sở cộng thán dự xưng kỳ công đức , chí kỳ nhiên hậu đắc Phật đạo thời.
Cùng nhau ngợi khen nói công đức đó, đến lúc thành đạo Phật đương nhiên sau đó.

普為 十方 諸佛 菩薩 , 歎其光明亦如今也。佛言 :
Phổ vị thập phương chư Phật Bồ-tát , thán kỳ quang minh diệc như kim dã. Phật ngôn :
Vì khắp mười phương các Phật Bồ-tát, ngợi khen quang minh đó, cũng như ngày nay. Phật nói rằng :

我說 無量壽佛 光明威神巍巍殊妙 , 晝夜一劫尚不能盡。
Ngã thuyết Vô Lượng Thọ Phật quang minh uy thần nguy nguy thù diệu, trú dạ nhất Kiếp thượng bất năng tận.
Ta nói quang minh uy thần cao lớn đặc diệu của Vô Lượng Thọ Phật , cả ngày đêm trong một Kiếp còn chưa thể hết.

佛語 阿難 : 無量壽佛 , 久不可稱計, 汝寧知乎
Phật ngữ A-nan : Vô Lượng Thọ Phật , thọ mệnh trường cửu bất khả xưng kế, Nhữ ninh tri hồ.
Phật bảo A-nan : Vô Lượng Thọ Phật , thọ mệnh lâu dài không thể đo tính được, Ngài tin chắc như thế.

假使 十方 世界無量眾生皆得人身。悉令成就 聲聞 緣覺。
Giả sử thập phương thế giới vô lượng chúng sinh giai đắc nhân thân, tất linh thành tựu Thanh-văn Duyên-giác.
Giả sử mười phương thế giới vô lượng chúng sinh đều được thân người, giúp cho tất cả thành đạt Thanh văn Duyên giác.

都共集會禪思一心竭其智力 , 於百千萬劫悉共推算。
Đô cộng tập hội thiền tư nhất tâm kiệt kỳ trí lực, ư bách thiên vạn Kiếp tất cộng thôi toán.
Đều cùng tập hợp ngồi yên tư duy một lòng dốc hết trí lực, trong trăm nghìn vạn Kiếp cùng nhau tính toán.

計其壽命長遠劫數 , 不能窮盡知其限極。
Kế kỳ thọ mệnh trường viễn Kiếp số, bất năng cùng tận tri kỳ hạn cực.
Tính toán thọ mệnh Kiếp số lâu dài, không thể biết được tận cùng giới hạn.

聲聞 菩薩 天人之眾 , 壽命長短亦復如是。
Thanh-văn Bồ-tát Thiên Nhân chi chúng, thọ mệnh trường đoản diệc phục như thị.
Các chúng Thanh văn Bồ-tát Trời người, thọ mệnh dài ngắn cũng lại như thế.

非算數譬喻所能知也。又 聲聞 菩薩
Phi toán số thí dụ sở năng tri dã. Hựu Thanh-văn Bồ-tát .
Không thể tính số thí dụ có thể biết được. Lại nữa Thanh văn Bồ-tát .

其數難量不可稱說 , 神智洞達威力自在。
Kỳ số nan lượng bất khả xưng thuyết, Thần trí đỗng đạt uy lực Tự-tại.
Số lượng khó đo lường nói không thể hết được, Thần trí thông suốt Uy lực Tự tại.

能於掌中持一切世界。 佛語 阿難 : 彼佛初會。
Năng ư chưởng trung trì nhất thiết thế giới. Phật ngữ A-nan : Bỉ Phật sơ hội,
Có thể giữ tất cả thế giới trong lòng bàn tay. Phật bảo A-nan : Hội đầu tiên của Phật đó,

聲聞眾數不可稱計 , 菩薩 亦然 , 能如大目揵連 ,
Thanh-văn chúng số bất khả xưng kế, Bồ-tát diệc nhiên, năng như Đại Mục-kiền-liên ,
Các chúng Thanh văn số lượng không thể đo tính, Bồ-tát cũng như thế, có khả năng như Đại Mục-kiền-liên ,

百千萬億無量無數 , 於 阿僧祇 那由他 劫。
bách thiên vạn ức vô lượng vô số, ư A-tăng-kỳ Na-do-tha Kiếp.
trăm nghìn vạn triệu vô lượng vô số, trong A-tăng-kỳ Na-do-tha Kiếp.

乃至滅度 , 悉共計挍 , 不能究了多少之數。
Nãi chí diệt độ, tất cộng kế hiệu, bất năng cứu liễu đa thiểu chi số.
Thậm chí cho đến lúc thành Phật Bồ-đề , cùng nhau tính đếm, không thể biết số lượng cuối cùng là bao nhiêu.

譬如大海深廣無量 , 假使有人 , 析其一毛以為百分 , 以一分毛沾取一渧。
Thí như đại hải thâm quảng vô lượng, giả sử hữu nhân, tích kỳ nhất mao dĩ vi bách phần, dĩ nhất phần mao triêm thủ nhất đế.
Ví như biển lớn sâu rộng vô lượng, giả sử có người, lấy một sợ lông chia thành trăm phần, dùng một đoạn lông nhúng thấm nước.

於意云何 ? 其所渧者於彼大海。何所為多 ? 阿難 白佛 :
Ư ý vân hà ? Kỳ sở đế giả ư bỉ đại hải. Hà sở vi đa ? A-nan bạch Phật:
Ý là thế nào ? Giọt nước đó so với biển lớn, có được là bao ? A-nan bạch Phật.

彼所渧水比於大海 , 多少之量非巧歷算數言辭譬類所能知也。
Bỉ sở đế thủy bỉ ư đại hải, đa thiểu chi lượng phi xảo lịch toán số ngôn từ thí loại sở năng tri dã.
Nước được thấm đó so với nước của biển lớn, số lượng bao nhiêu không thể dùng ngôn từ tính toán thí dụ các loại xảo kế mà có thể biết được.

佛語 阿難 : 如 目連 等 , 於百千萬億 那由他 劫。
Phật ngữ A-nan : Như Mục-liên đẳng, ư bách thiên vạn ức Na-do-tha Kiếp.
Phật bảo A-nan : Như Mục Kiền Liên ở trong trăm nghìn vạn triệu Na-do-tha Kiếp.

計彼初會 聲聞 菩薩 。所知數者猶如一渧。其所不知如大海水。
Kế bỉ sơ hội Thanh-văn Bồ-tát , sở tri số giả do như nhất đế, kỳ sở bất tri như đại hải thủy.
Tính toán số lượng Thanh-văn Bồ-tát trong hội đầu tiên giống như nước thấm đoạn lông, không thể biết được số lượng giống như nước của biển lớn.

又其 國土 , 七寶 諸樹周滿世界 , 金樹 , 銀樹 ,
Hựu kỳ quốc thổ, thất bảo chư thụ châu mãn thế giới, kim thụ ngân thụ,
Mới lại đất Phật đó, các cây bằng bảy báu bao khắp thế giới, cây bằng vàng cây bằng bạc,

琉璃樹 , 玻 璃樹 , 珊瑚 樹 , 瑪瑙樹 , 硨磲 樹。
lưu ly thụ pha lê thụ san hô thụ mã não thụ xa cừ thụ.
Cây bằng lưu ly cây bằng pha lê cây bằng san hô cây bằng mã não cây bằng xa cừ .

或有二寶 三寶 乃至 七寶 轉共合成。或有金樹 , 銀葉華果。
Hoặc hữu nhị bảo tam bảo nãi chí thất bảo chuyển cộng hợp thành. Hoặc hữu kim thụ ngân diệp hoa quả.
Hoặc do hai vật báu ba vật báu thậm chí bảy vật báu luân chuyển hợp thành. Hoặc có cây bằng vàng lá hoa quả bằng bạc .

或有銀樹 , 金葉華果。或琉璃樹 , 玻璃為葉華果亦然。
Hoặc hữu ngân thụ, kim diệp hoa quả. Hoặc lưu ly thụ, pha lê vi diệp hoa quả diệc nhiên.
Hoặc có cây bằng bạc, lá hoa quả bằng vàng. Hoặc có cây bằng lưu ly , pha lê là lá hoa quả đương nhiên cũng như thế.

或水精樹 , 琉璃為葉華果亦然。或 珊瑚 樹 , 瑪瑙為葉華果亦然。
Hoặc thuỷ tinh thụ, lưu ly vi diệp hoa quả diệc nhiên. Hoặc san hô thụ, mã não vi diệp hoa quả diệc nhiên.
Hoặc cây bằng thủy tinh, lưu ly là lá hoa quả đương nhiên cũng như thế. Hoặc cây bằng san hô , mã não là lá hoa quả đương nhiên cũng như thế.

或瑪瑙樹 , 琉璃為葉華果亦然。或 硨磲 樹 , 眾寶為葉華果亦然。
Hoặc mã não thụ, lưu ly vi diệp hoa quả diệc nhiên. Hoặc xa cừ thụ, chúng bảo vi diệp hoa quả diệc nhiên.
Hoặc cây bằng mã não, lưu ly là lá hoa quả đương nhiên cũng như thế. Hoặc cây bằng xa cừ , các vật báu là lá hoa quả đương nhiên cũng như thế.

或有寶樹 , 紫金為本 , 白銀為莖 , 琉璃為枝 , 水精為條 , 珊瑚 為葉 , 瑪瑙為華 , 硨磲 為實。
Hoặc hữu bảo thụ, tử kim vi bản, bạch ngân vi hành, lưu ly vi chi, thủy tinh vi điều, san hô vi diệp, mã não vi hoa, xa cừ vi thực.
Hoặc có cây báu, vàng sắc tía là gốc, bạc trắng là thân, lưu ly là cành, thuỷ tinh là nhánh, san hô là lá, mã não là hoa, xa cừ là quả.

或有寶樹 , 白銀為本 , 琉璃為莖 , 水精為枝 , 珊瑚 為條 , 瑪瑙為葉 , 硨磲 為華 , 紫金為實。
Hoặc hữu bảo thụ, bạch ngân vi bản, lưu ly vi hành, thủy tinh vi chi, san hô vi điều, mã não vi diệp, xa cừ hoa, tử kim vi thực.
Hoặc có cây báu, bạc trắng là gốc, lưu ly là thân, thuỷ tinh là cành, san hô là nhánh, mã não là lá, xa cừ là hoa, vàng sắc tía là quả.

或有寶樹 , 琉璃為本 , 水精為莖 , 珊瑚 為枝 , 瑪瑙為條 , 硨磲 為葉 , 紫金為華 , 白銀為實。
Hoặc hữu bảo thụ, lưu ly vi bản, thủy tinh vi hành, san hô vi chi, mã não vi điều, xa cừ vi diệp, tử kim vi hoa, bạch ngân vi thực.
Hoặc có cây báu, lưu ly là gốc, thuỷ tinh là thân, san hô là cành, mã não là nhánh, xa cừ là lá, vàng sắc tía là hoa, bạc trắng là quả.

或有寶樹 , 水精為本 , 珊瑚 為莖 , 瑪瑙為枝 , 硨磲 為條 , 紫金為葉 , 白銀為華 , 琉璃為實。
Hoặc hữu bảo thụ, thủy tinh vi bản, san hô vi hành, mã não vi chi, xa cừ vi điều, tử kim vi diệp, bạch ngân vi hoa, lưu ly vi thực.
Hoặc có cây báu, thuỷ tinh là gốc, san hô là thân, mã não là cành, xa cừ là nhánh, vàng sắc tía là lá, bạc trắng là hoa, lưu ly là quả.

或有寶樹 , 珊瑚 為本 , 瑪瑙為莖 , 硨磲 為枝 , 紫金為條 , 白銀為葉 , 琉璃為華 , 水精為實。
Hoặc hữu bảo thụ, san hô vi bản, mã não vi hành, xa cừ vi chi, tử kim vi điều, bạch ngân vi diệp, lưu ly vi hoa, thủy tinh vi thực.
Hoặc có cây báu, san hô là gốc, mã não là thân, xa cừ là cành, vàng sắc tía là nhánh, bạc trắng là lá, lưu ly là hoa, thuỷ tinh là quả.

或有寶樹 , 瑪瑙為本 , 硨磲 為莖 , 紫金為枝 , 白銀為條 , 琉璃為葉 , 水精為華 , 珊瑚 為實。
Hoặc hữu bảo thụ, mã não vi bản, xa cừ vi hành, tử kim vi chi, bạch ngân vi điều, lưu ly vi diệp, thủy tinh vi hoa, san hô vi thực.
Hoặc có cây báu, mã não là gốc, xa cừ là thân, vàng sắc tía là cành, bạc trắng là nhánh, lưu ly là lá, thuỷ tinh là hoa, san hô là quả.

或有寶樹 , 硨磲 為本 , 紫金為莖 , 白銀為枝 , 琉璃為條 , 水精為葉 , 珊瑚 為華 , 瑪瑙為實。
Hoặc hữu bảo thụ, xa cừ vi bản, tử kim vi hành, bạch ngân vi chi, lưu ly vi điều, thủy tinh vi diệp, san hô vi hoa, mã não vi thực.
Hoặc có cây báu, xa cừ là gốc, vàng sắc tía là thân, bạc trắng là cành, lưu ly là nhánh, thuỷ tinh là lá, san hô là hoa, mã não là quả.

行行相值 , 莖莖相望 , 枝枝相準 , 葉葉相向 , 華華相順 , 實實相當。
Hàng hàng tương trực, hành hành tương vọng, chi chi tương chuẩn, diệp diệp tương hướng, hoa hoa tương thuận, thực thực tương đương.
Hàng hàng liên tiếp, thân thân như nhau, cành cành giống nhau, lá lá hướng về nhau, hoa hoa hợp nhau, quả quả bằng nhau.

榮色光曜不可勝視 , 清風時發出 五音 聲 , 微妙宮商自然相和。
Vinh sắc quang diệu bất khả thắng thị, thanh phong thời phát xuất ngũ âm thanh, vi diệu cung thương tự nhiên tương hòa.
Sắc tươi tốt quang sáng rực nhìn không chán mắt, gió mát thổi tới thời phát ra năm điệu âm thanh, cung thương vi diệu tự nhiên hòa hợp.

無量壽佛 , 其 道場樹 高四百萬里 , 其本周圍五千 由旬 , 枝葉四布二十萬里。
Hựu Vô Lượng Thọ Phật , kỳ Đạo tràng Thụ cao tứ bách vạn lý, kỳ bản châu vi ngũ thiên Do-tuần, chi diệp tứ bố nhị thập vạn lý.
Mới lại Vô Lượng Thọ Phật , cây Đạo tràng của Phật cao 2 triệu km, chu vi gốc cây 100 nghìn km, cành lá vươn bốn phía 100 nghìn km.

一切眾寶自然合成 , 以月光 摩尼 持海 輪寶 眾寶之王 , 而莊嚴之。
Nhất thiết chúng bảo tự nhiên hợp thành, dĩ Nguyệt quang ma-ni trì hải luân bảo chúng bảo chi Vương, nhi trang nghiêm chi.
Tất cả các vật báu tự nhiên hợp thành, do dùng ngọc Như ý Nguyệt quang giữ báu vật Hải luân là vua của các vật báu, mà trang nghiêm.

周匝條間垂寶瓔珞 , 百千萬色種種異變 , 無量光 炎照曜無極。
Châu táp điều gian thùy bảo anh lạc, bách thiên vạn sắc chủng chủng dị biến, vô lượng quang viêm chiếu diệu vô cực.
Xung quanh giữa các nhánh treo rủ xuống chuỗi ngọc anh lạc, trăm nghìn vạn sắc biến đổi khác lạ, vô lượng ánh quang chiếu sáng vô cùng rực rỡ.

珍妙寶網羅覆其上 , 一切莊嚴隨應而現。
Trân diệu bảo võng la phúc kỳ thượng, nhất thiết trang nghiêm tùy ưng nhi hiện.
Võng lưới bằng châu báu vi diệu che phủ lên trên, tất cả trang nghiêm tùy theo ý muốn mà xuất hiện.

微風徐動出妙 法音 , 普流 十方 一切 佛國
Vi phong từ động xuất diệu Pháp-âm, phổ lưu thập phương nhất thiết Phật quốc .
Gió nhẹ rung động phát ra Pháp-âm vi diệu, lưu truyền khắp mười phương tất cả các đất nước Phật.

其聞音者得 深法忍 , 住 不退轉 , 至成 佛道 , 不遭苦患。
Kỳ văn âm giả đắc thâm Pháp-nhẫn, trụ Bất-thoái-chuyển , chí thành Phật đạo , bất tao khổ hoạn.
Nghe được âm thanh đó có được Pháp nhẫn thâm sâu, ở trong Bất-thoái-chuyển , đến khi thành đạo Phật, không gặp khổ đau hoạn nạn.

目覩其色 , 耳聞其音鼻知其香舌甞其味 , 身觸其光 , 心以 法緣
Mục đổ kỳ sắc, nhĩ văn kỳ âm tị tri kỳ hương thiệt thường kỳ vị, thân xúc kỳ quang, tâm dĩ Pháp duyên .
Mắt nhìn thấy sắc đó, tai nghe âm thanh đó, mũi biết hương đó, lưỡi thưởng thức mùi đó, thân tiếp xúc ánh sáng đó, tâm sử dụng Pháp duyên.

一切皆得甚 深法忍 , 住 不退轉 至成 佛道 , 六根 清徹無諸惱患。
Nhất thiết giai đắc thậm thâm Pháp-nhẫn, trụ Bất-thoái-chuyển chí thành Phật đạo , lục Căn thanh triệt vô chư não hoạn.
Đều được tất cả Pháp nhẫn thâm sâu, ở trong Bất-thoái-chuyển đến khi thành đạo Phật, sáu Căn sáng sạch không có các phiền não hoạn nạn.

阿難 ! 若彼國人天 , 見此樹者得 三法 忍。一者 音響忍 。二者 柔順忍 。三者 無生法忍
A-nan ! Nhược bỉ quốc nhân thiên, kiến thử thụ giả đắc Tam Pháp-nhẫn. Nhất giả Âm- hưởng nhẫn, nhị giả Nhu-thuận nhẫn, tam giả Vô-sinh Pháp nhẫn .
A-nan ! Nếu Trời người nước đó, nhìn thấy cây Đạo này được ba Pháp nhẫn. Một là Âm-hưởng nhẫn, hai là Nhu-thuận nhẫn, ba là Vô-sinh Pháp nhẫn.

此皆 無量壽佛 威神力 故 , 本願力故 , 滿足願故 , 明了願故 , 堅固願故 , 究竟願故。
Thử giai Vô Lượng Thọ Phật uy thần lực cố, bản nguyện lực cố, mãn túc nguyện cố, minh liễu nguyện cố, kiên cố nguyện cố, cứu cánh nguyện cố.
Đều là do Uy thần lực, bản nguyện lực, nguyện thành công đầy đủ, nguyện trí tuệ sáng tỏ, nguyện kiên cố, nguyện thành công tất cả của Vô Lượng Thọ Phật .

佛告 阿難 : 世間帝王有百千音樂。
Phật cáo A-nan : Thế gian Đế-vương hữu bách thiên âm nhạc.
Phật bảo A-nan : Đế-vương của Thế gian có trăm nghìn âm nhạc.

轉輪聖王 , 乃至第六 天上 伎樂音聲。
Tự Chuyển luân Thánh-vương, nãi chí đệ lục Thiên thượng kĩ nhạc âm thanh.
Kỹ nhạc âm thanh từ Chuyển luân Thánh Vương , thậm chí cho đến kỹ nhạc âm thanh của tầng Trời thứ sáu.

展轉相勝千億萬倍 , 第六 天上 萬種樂音。
Triển chuyển tương thắng thiên ức vạn bội, đệ lục Thiên thượng vạn chủng nhạc âm.
Triển chuyển vượt hơn gấp nghìn triệu vạn lần, vạn loại âm nhạc của tầng Trời thứ sáu.

不如 無量壽 國諸 七寶 樹一種音聲 , 千億倍也。
Bất như Vô Lượng Thọ quốc chư thất bảo thụ nhất chủng âm thanh, thiên ức bội dã.
Không bằng một loại âm thanh do các cây bảy báu của nước Vô Lượng Thọ, tăng gấp nghìn triệu lần.

亦有自然萬種伎樂 , 又其樂聲無非 法音
Diệc hữu tự nhiên vạn chủng kĩ nhạc, hựu kỳ nhạc thanh vô phi Pháp-âm.
Cũng có vạn loại kĩ nhạc của tự nhiên, mới lại tiếng nhạc đó chẳng qua chỉ là Pháp âm.

清暢哀亮微妙和雅 , 十方 世界音聲之中最為第一。
Thanh sướng ai lượng vi diệu hòa nhã, thập phương thế giới âm thanh chi trung tối vi đệ nhất.
Trong vắt bi ai sang sảng vi diệu hoà nhã, trong âm thanh của mười phương thế giới là tối cao nhất.

又講堂 精舍 宮殿樓觀皆 七寶 莊嚴自然化成。復以珍珠明月 摩尼 眾寶。
Hựu giảng đường Tịnh xá cung điện lâu quán giai thất bảo trang nghiêm tự nhiên hóa thành, phục dĩ trân châu minh nguyệt ma-ni chúng bảo.
Mới lại giảng đường nơi ở cung điện lầu quán đều do bảy báu trang nghiêm tự khắc hóa thành, lại dùng các loại châu báu ngọc Như ý Minh nguyệt.

以為交露覆蓋其上 , 內外左右有諸浴池。或十 由旬 ,
Dĩ vi giao lộ phúc cái kỳ thượng, nội ngoại tả hữu hữu chư dục trì, hoặc thập Do-tuần.
Do được sương tụ lại phủ úp lên trên, trong ngoài bên trái bên phải có các ao tắm. Hoặc 200km,

或二十三十 , 乃至百千 由旬 , 縱廣深淺各皆一等。
hoặc nhị thập tam thập , nãi chí bách thiên Do-tuần, túng quảng thâm thiển các giai nhất đẳng.
hoặc 400km- 600 km, thậm chí dài tới 20 nghìn km, chiều rộng nông sâu từng loại đều như nhau.

功德水 湛然盈滿。清淨香潔味如甘露。黃金池者底白銀沙。
Bát công đức thủy trạm nhiên doanh mãn, thanh tịnh hương khiết vị như Cam-lộ . Hoàng kim trì giả để bạch ngân sa,
Ao nước tám công đức trong mát tự nhiên tràn đầy, thanh tịnh hương khiết mùi như Cam lộ. Ao bằng vàng mười đáy cát bằng bạc trắng,

白銀池者底黃金沙。水精池者底琉璃沙。琉璃池者底水精沙。
Bạch ngân trì giả để hoàng kim sa. Thủy tinh trì giả để lưu ly sa. Lưu ly trì giả để thủy tinh sa.
Ao bằng bạc trắng đáy cát vàng mười. Ao bằng thủy tinh đáy cát bằng lưu ly . Ao bằng lưu ly đáy cát bằng thủy tinh.

珊瑚池者底琥珀沙。琥珀池者底珊瑚沙。 硨磲 池者底瑪瑙沙。
san hô trì giả để hổ phách sa. Hổ phách trì giả để san hô sa. Xa cừ trì giả để mã não sa.
Ao bằng san hô đáy cát bằng hổ phách . Ao bằng hổ phách đáy cát bằng san hô. Ao bằng xa cừ đáy cát bằng mã não.

瑪瑙池者底 硨磲 沙。白玉池者底紫金沙。紫金池者底白玉沙。
Mã não trì giả để xa cừ sa. Bạch ngọc trì giả để tử kim sa. Tử kim trì giả để bạch ngọc sa.
Ao bằng mã não đáy cát bằng xa cừ . Ao bằng ngọc trắng đáy cát bằng vàng sắc tía. Ao bằng vàng sắc tía đáy cát bằng ngọc trắng.

或二寶 三寶 , 乃至 七寶 轉共合成。
Hoặc nhị bảo tam bảo, nãi chí thất bảo chuyển cộng hợp thành.
Hoặc do hai báu vật ba báu vật, thậm chí do bảy báu vật luân chuyển cùng hợp thành.

其池岸上有栴檀樹 , 華葉垂布香氣普熏 , 天 優鉢羅 華 ,
Kỳ trì ngạn thượng hữu Chiên-đàn thụ, hoa diệp thùy bố hương khí phổ huân. Thiên Ưu-bát-la hoa,
Trên bờ ao có cây Chiên-đàn, hoa lá rủ xuống hương khí thơm xông khắp nơi . Hoa Trời Ưu-bát-la,

鉢曇摩華 , 拘物頭 華 , 分陀利 華 , 雜色光茂彌覆水上。
Bát-đàm-ma hoa, Câu-vật-đầu hoa, Phân-đà-lợi hoa, tạp sắc quang mậu di phúc thủy thượng.
Hoa Bát đàm ma, hoa Câu-vật-đầu, hoa Phân-đà-lợi, nhiều sắc nhiều quang che phủ lên mặt nước.

彼諸 菩薩聲聞 眾 , 若入寶池 , 意欲令水沒足 , 水即沒足 , 欲令至膝 ,
Bỉ chư Bồ-tát cập Thanh-văn chúng, nhược nhập bảo trì , ý dục linh thủy một túc thủy tức một túc, dục linh chí tất,
Các Bồ-tát và các Thanh văn , nếu vào ao báu, ý muốn nước ngập tới chân nước tức thì ngập tới chân, ý muốn ngập đến đầu gối,

即至于膝。欲令至腰 , 水即至腰。欲令至頸 , 水即至頸。
tức chí vu tất. Dục linh chí yêu, thủy tức chí yêu. Dục linh chí cảnh, thủy tức chí cảnh.
tức thì đến đầu gối. Muốn đến lưng, nước tức thời đến lưng. Muốn tới cổ nước tức thì nước tới cổ.

欲令灌身 , 自然灌身。欲令還復 , 水輒還復。
Dục linh quán thân, tự nhiên quán thân . Dục linh hoàn phục, thủy triếp hoàn phục.
Muốn tưới lên thân, tự nhiên tưới lên thân. Muốn cho trở lại, nước liền trở lại như cũ.

調和冷煖自然隨意。開神悅體蕩除心垢 , 清明澄潔淨若無形。
Điều hoà lãnh noãn tự nhiên tùy ý. Khai Thần duyệt thể đãng trừ tâm cấu, thanh minh trừng khiết tịnh nhược vô hình.
Điều hoà lạnh ấm tự nhiên tuỳ ý. Thần trí khai sáng thân thể vui vẻ tẩy trừ tâm ô uế, trong sáng thanh khiết sạch sẽ như không có hình.

寶沙映徹無深不照。微瀾迴流轉相灌注。
Bảo sa ánh triệt vô thâm bất chiếu. Vi lan hồi lưu chuyển tương quán chú.
Cát báu phản chiếu ánh sáng không sâu không soi sáng. Sóng to nhỏ lưu chuyển trở lại gần như tưới nước.

安詳徐逝不遲不疾。波揚無量自然妙聲。
An tường từ thệ bất trì bất tật, ba dương vô lượng tự nhiên diệu thanh.
An tường từ từ ra đi không trở lại không chậm không nhanh, rất nhiều sóng vỗ tự khắc thành âm thanh vi diệu.

隨其所應莫不聞者 , 或聞佛聲 , 或聞法聲 , 或聞僧聲 ,
Tùy kỳ sở ưng mạc bất văn giả, hoặc văn Phật thanh, hoặc văn Pháp thanh, hoặc văn Tăng thanh,
Tùy theo ý muốn nghe được tất cả, hoặc nghe âm Phật, hoặc nghe âm Pháp, hoặc nghe âm Tăng,

或寂靜聲 , 空 無我 聲 , 大慈悲聲 , 波羅蜜 聲 , 或十 力無畏
hoặc tịch tĩnh thanh, Không Vô-ngã thanh, đại Từ bi thanh, Ba-la-mật thanh, hoặc thập lực vô úy ,
hoặc âm tĩnh lặng, âm Không Vô ngã, âm đại Từ bi, âm Đạo Bồ-tát , âm mười lực không sợ hãi,

不共法聲 , 諸通慧聲 , 無所作聲 , 不起滅聲 , 無生忍 聲 ,
bất cộng pháp thanh, chư thông tuệ thanh , vô sở tác thanh, bất khởi diệt thanh, Vô- sinh nhẫn thanh.
âm Bất cộng Pháp, âm các thông tuệ, âm không làm, âm không khởi diệt, âm Vô-sinh nhẫn.

乃至甘露灌頂眾妙法聲。如是等聲,
nãi chí Cam-lộ quán đỉnh chúng diệu Pháp thanh. Như thị đẳng thanh,
thậm chí âm tưới nước Cam lộ lên đỉnh, âm các diệu Pháp. Các loại âm thanh như thế,

稱其所聞歡喜無量。隨順清淨離欲寂滅真實之義。
xưng kỳ sở văn hoan hỉ vô lượng. Tùy thuận thanh tịnh ly dục tịch diệt chân thực chi nghĩa.
Nghe được âm thanh đó phát ra vui mừng vô hạn. Tùy theo nghĩa thanh tịnh ly dục tịch diệt chân thực.

隨順 三寶 力無所畏不共之法。隨順通慧 菩薩 聲聞 所行之道。
Tùy thuận Tam-bảo lực vô sở úy bất cộng chi Pháp. Tùy thuận thông tuệ Bồ-tát Thanh-văn sở hành chi đạo.
Thuận theo Tam Bảo lực không sợ hãi bất cộng Pháp. Tùy thuận hành Đạo Bồ-tát thông tuệ hành Đạo Thanh-văn .

無有三塗苦難之名 , 但有自然快樂之音 , 是故其國名曰 極樂
Vô hữu Tam-đồ khổ nạn chi danh, đãn hữu tự nhiên khoái lạc chi âm, thị cố kỳ quốc danh viết Cực-lạc.
Không có tên Ba đường dữ khổ đau hoạn nạn, chỉ có âm tự nhiên vui vẻ, vì thế nước đó có tên Cực Lạc

阿難 ! 彼 佛國土往生 者 , 具足如是清淨色身。
A-nan ! Bỉ Phật quốc thổ chư vãng sinh giả, cụ túc như thị thanh tịnh sắc thân .
A-nan ! Những người vãng sinh đất nước Phật đó, đầy đủ sắc thân thanh tịnh như thế .

諸妙音聲 神通 功德 , 所處宮殿衣服飲食。
Chư diệu âm thanh thần thông công đức , sở xử cung điện y phục ẩm thực,
Các âm vi diệu thần thông công đức, nơi ở cung điện áo quần đồ ăn thức uống,

眾妙華香莊嚴之具 , 猶第六天自然之物。
chúng hương khí hương trang nghiêm chi cụ, do đệ lục Thiên tự nhiên chi vật.
các loại hương khí thơm đồ vật trang nghiêm, như các vật tự nhiên của tầng Trời thứ sáu.

若欲食時 , 七寶 應器自然在前。
Nhược dục thực thời, thất bảo ưng khí tự nhiên tại tiền.
Nếu đến giờ muốn ăn, vật dụng theo ý bằng bảy báu tự khắc hiện ra trước mắt.

金銀琉璃 硨磲 瑪瑙 珊瑚 虎珀 明月珍珠。
Kim ngân lưu ly xa cừ mã não san hô hổ phách minh nguyệt trân châu,
Vàng bạc lưu ly xa cừ mã não san hô hổ phách châu báu minh nguyệt,

如是眾鉢隨意而至 , 百味飲食自然盈滿。
như thị chúng bát tùy ý nhi chí, bách vị ẩm thực tự nhiên doanh mãn.
Các loại bát tùy theo ý muốn như thế tự đến, trăm vị đồ ăn thức uống tự nhiên đầy đủ.

雖有此食實無食者 , 但見色聞香 , 意以為食 , 自然飽足。
Tuy hữu thử thực thực vô thực giả, đãn kiến sắc văn hương, ý dĩ vi thực, tự nhiên bão túc.
Tuy có thức ăn thật nhưng không ăn, chỉ nhìn thấy màu sắc hình dáng ngửi mùi hương, ý tưởng muốn ăn, tự khắc no đủ.

身心柔軟無所味著 , 事已化去時至復現。
Thân tâm nhu nhuyễn vô sở vị trước, sự dĩ hóa khứ thời chí phục hiện 。
Thân tâm mềm mỏng không mê chấp mùi vị, việc ăn xong tự biến đi tới thời hiện lại.

佛國土 清淨安穩微妙快樂。次於無為泥洹之道。
Bỉ Phật quốc thổ thanh tịnh an ổn vi diệu khoái lạc. Thứ ư Vô-vi Nê-hoàn chi đạo.
Đất Phật đó thanh tịnh an ổn vi diệu khoái lạc. Sau đó ở trong Đạo Vô-vi Thanh tịnh Niết-bàn .

其諸 聲聞 菩薩 人天 , 智慧高明 神通 洞達 , 咸同一類形無異狀。
Kỳ chư Thanh-văn Bồ-tát nhân Thiên, trí tuệ cao minh thần thông đỗng đạt, hàm đồng nhất loại hình vô dị trạng.
Các Thanh-văn Bồ-tát Trời người của nước đó, trí tuệ cao minh thần thông thấu suốt, tất cả như nhau cùng một loại hình không có dáng khác.

但因順餘方故有人天之名 , 顏貌端正超世希有。
Đãn nhân thuận dư phương cố hữu nhân Thiên chi danh, nhan mạo đoan chính siêu thế hi hữu.
Nhân do chỉ thuận theo phương khác có tên Trời người, nhan sắc diện mạo xinh đẹp hiếm có trên đời.

容色微妙非天非人 , 皆受自然虛無之身 無極之體
Dung sắc vi diệu phi thiên phi nhân, giai thụ tự nhiên hư vô chi thân vô cực chi thể .
Thân hình tuyệt diệu không như Trời người, đều tự khắc nhận lấy thân cõi hư vô hình thể vô cực.

佛告 阿難 : 譬如世間貧窮乞人在帝王邊。
Phật cáo A-nan : Thí như thế gian bần cùng khất nhân tại Đế -vương biên.
Phật bảo A-nan : Ví như ở thế gian người nghèo túng bần cùng xin ăn đứng bên cạnh ông vua vậy.

形貌容狀寧可類乎。 阿難 白佛。
Hình mạo dung trạng ninh khả loại hồ. A-nan bạch Phật :
Hình dung tướng mạo dáng vẻ chắn chắn như thế. A-nan bạch Phật :

假令此人在帝王邊 , 羸陋醜惡無以為喻。
Giả linh thử nhân tại Đế-vương biên, luy lậu xú ác vô dĩ vi dụ.
Nếu sai người đó ở bên cạnh ông vua, gầy gò xấu xí ác độc không dùng làm thí dụ.

百千萬億不可計倍 , 所以然者 , 貧窮乞人底極廝下。
Bách thiên vạn ức bất khả kế bội, sở dĩ nhiên giả, bần cùng khất nhân để cực tư hạ.
Gấp trăm nghìn vạn triệu lần không thể so tính, dĩ nhiên như thế, người nghèo khổ ăn xin dưới đáy của sự cùng cực.

衣不蔽形食趣支命, 飢寒困苦人理殆盡。
Y bất tế hình thực thú chi mệnh, cơ hàn khốn khổ nhân lý đãi tận.
Áo không đủ che thân cơm không đủ muôi miệng, đói rét khốn khổ đời người sắp hết.

皆坐前世不殖德本 , 積財不施富有益慳 , 但欲唐得貪求無厭。
Giai tọa tiền thế bất thực đức bản, tích tài bất thí phú hữu ích xan, đãn dục đường đắc tham cầu vô yếm.
Đều do đời trước không trồng công đức bản thiện, tích của không bố thí giàu còn tham tiếc, chỉ muốn được nhiều cầu không biết chán.

不信修善犯惡山積 , 如是壽終財寶消散。
Bất tín tu thiện phạm ác sơn tích, như thị thọ chung tài bảo tiêu tán.
Không tin tu thiện phạm tội ác chất như núi, như thế sau khi chết báu vật tiêu tan.

苦身積聚為之憂惱 , 於己無益徒為他有。
Khổ thân tích tụ vi chi ưu não, ư kỷ vô ích đồ vi tha hữu.
Khổ thân tích cóp được sự lo âu phiền não , với mình vô ích kẻ khác có được.

無善可怙無德可恃 , 是故死墮 惡趣 受此長苦。
Vô thiện khả hỗ vô đức khả thị, thị cố tử đọa Ác-thú thụ thử trường khổ.
Không có tâm thiện cậy nhờ không có đức để dựa đỡ, vì thế chết đi rơi xuống Ba đường dữ nhận lấy khổ cực lâu dài.

罪畢得出生為下賤 , 愚鄙斯極示同人類。
Tội tất đắc xuất sinh vi hạ tiện, ngu bỉ tư cực thị đồng nhân loại.
Tội hết được sinh ra là người bần cùng đê tiện, ngu dốt cực độ đồng loại kỳ thị.

所以世間帝王人中獨尊 , 皆由宿世積德所致。
Sở dĩ thế gian Đế-vương nhân trung độc tôn, giai do túc thế tích đức sở trí.
Sở dĩ là người tôn quý duy nhất trong số Trời người Đế-vương của thế gian, đều do Kiếp trước tích Đức mà chuyển tới.

慈惠博施仁愛兼濟 , 履信修善無所違諍。
Từ huệ bác thí nhân ái kiêm tế, lý tín tu thiện vô sở vi tránh.
Từ bi thí ân huệ bác ái nhân từ thân ái kiêm giúp đỡ, tin tu thiện không vi phạm cạnh tranh.

是以壽終福應得昇善道 , 上生 天上 享茲福樂。
Thị dĩ thọ chung phúc ưng đắc thăng thiện đạo, thượng sinh Thiên thượng hưởng tư phúc lạc.
Vì thế tùy phúc sau khi hết mệnh được sinh lên Đạo thiện, sinh lên cõi Trời vui thú hưởng phúc đó.

積善餘慶今得為人 , 遇生王家自然尊貴 , 儀容端正眾所敬事。
Tích thiện dư khánh kim đắc vi nhân, ngộ sinh Vương-gia tự nhiên tôn quý, nghi dung đoan chính chúng sở kính sự.
Tích thiện thừa vui vẻ nay được làm người, sinh vào gia đình vương tộc tự khắc được tôn quý, y nghi dung mạo đoan chính được nhiều sự kính trọng.

妙衣珍膳隨心服御 , 宿福所追故能致此。
Diệu y trân thiện tùy tâm phục ngự, túc phúc sở truy cố năng trí thử.
Áo quý giá cỗ tiệc thịnh soạn thay đổi phục vụ tuỳ tâm, mang tới điều đó do phúc Kiếp trước.

佛告 阿難 : 汝言是也 , 計如帝王 , 雖 人中尊 貴形色端正。
Phật cáo A-nan : Nhữ ngôn thị dã, kế như Đế-vương, tuy nhân trung tôn quý hình sắc đoan chính.
Phật bảo A-nan : Ngài nói lời này, nếu như vị Vua, tuy hình sắc tôn quý đoan chính trong loài người.

比之 轉輪聖王 。甚為鄙陋。猶彼乞人在帝王邊。
Tỉ chi Chuyển luân Thánh-vương, thậm vi bỉ lậu, do bỉ khất nhân tại Đế-vương biên.
So với Chuyển luân Thánh-vương, rất là thô bỉ xấu xí, giống như người ăn xin bên cạnh Đế- vương vậy.

轉輪聖王威相殊妙天下第一。比 忉利天 王。又復醜惡不得相喻。
Chuyển luân Thánh-vương uy tướng thù diệu thiên hạ đệ nhất, tỉ Đao Lợi Thiên -vương, hựu phục xú ác bất đắc tương dụ.
Chuyển luân Thánh-vương uy tướng đặc diệu bậc nhất Thiên hạ, so với Vua của cung Trời Đao Lợi , lại xấu ác không được tương đương như thí dụ.

萬億倍也 , 假令天帝比第六 天王 , 百千億倍不相類也。
vạn ức bội dã, giả linh Thiên-đế tỉ đệ lục Thiên-vương, bách thiên ức bội bất tương loại dã,
gấp vạn triệu lần, ví như Thiên đế so với Thiên-vương tầng Trời thứ 6, gấp trăm nghìn triệu lần không tương đồng chủng loại.

設第六 天王 。比 無量壽佛菩薩 聲聞 。光顏容色不相及逮。
Thiết đệ lục Thiên-vương, tỉ Vô Lượng Thọ Phật quốc Bồ-tát Thanh-văn , quang nhan dung sắc bất tương cập đãi.
Giả sử Thiên-vương tầng thứ 6, so với Bồ-tát Thanh-văn trong nước của Vô Lượng Thọ Phật , quang minh nhan sắc dung mạo không thể sánh kịp,

百千萬億不可計倍。佛告 阿難 : 無量壽 國其諸天人。
bách thiên vạn ức bất khả kế bội. Phật cáo A-nan : Vô-Lượng-Thọ quốc kỳ chư Thiên Nhân.
gấp trăm nghìn vạn triệu lần không thể tính được. Phật bảo A-nan : Những người Trời đó của nước Vô-Lượng-Thọ .

衣服飲食華香瓔珞 , 諸蓋幢旛微妙音聲。
Y phục ẩm thực hoa hương anh lạc, chư cái tràng phan vi diệu âm thanh,
Áo quần đồ ăn thức uống hương hoa chuỗi ngọc, các phan cái tràng phan âm thanh vi diệu.

所居舍宅宮殿樓閣 , 稱其形色高下大小 , 或一寶二寶 ,
Sở cư xá trạch cung điện lầu các, xưng kỳ hình sắc cao hạ đại tiểu, hoặc nhất bảo nhị bảo.
Nhà cửa nơi ở cung điện lầu các, hình sắc cao thấp lớn nhỏ coi như, hoặc do một vật báu hai vật báu,

乃至無量眾寶 , 隨意所欲應念即至。
nãi chí vô lượng chúng bảo, tùy ý sở dục ưng niệm tức chí.
thậm chí vô lượng vật báu, tuỳ theo ý muốn nghĩ tới tức thời đến.

又以眾寶妙衣遍布其地 , 一切人天踐之而行。
Hựu dĩ chúng bảo diệu y biến bố kỳ địa, nhất thiết nhân Thiên tiễn chi nhi hành.
Lại dùng các áo báu vi diệu trải lên đất đó, tất cả Trời người bước lên mà đi.

無量寶網彌覆佛上 , 皆以金縷珍珠百千雜寶奇妙珍異。
Vô lượng bảo võng di phúc Phật thượng, giai dĩ kim lũ trân châu bách thiên tạp bảo kì diệu trân dị.
Vô lượng võng báu khắp che khắp lên trên Phật, đều dùng vàng dát thành sợi tơ châu báu trăm nghìn loại vật báu kỳ diệu khác lạ.

莊嚴絞飾周匝四面 , 垂以寶鈴 , 光色晃曜盡極嚴麗。
Trang nghiêm giảo sức châu táp tứ diện, thùy dĩ bảo linh, quang sắc hoảng diệu tận cực nghiêm lệ.
Bày biện trang nghiêm bao quanh bốn mặt, rủ xuống chuông báu, quang sắc sáng lòa vô cùng đẹp đẽ trang nghiêm.

自然德風徐起微動 , 其風調和不寒不暑。
Tự nhiên đức phong từ khởi vi động, kỳ phong điều hoà bất hàn bất thử.
Tự nhiên gió đức từ từ lay động, gió đó điều hoà không lạnh không nóng.

溫涼柔軟不遲不疾 , 吹諸羅網及眾寶樹。
Ôn lương nhu nhuyễn bất trì bất tật, xuy chư la võng cập chúng bảo thụ.
Vừa phải êm dịu không chậm không nhanh, thổi tới các võng lưới và các cây báu.

演發無量微妙 法音 , 流布萬種溫雅德香。
Diễn phát vô lượng vi diệu Pháp âm, lưu bố vạn chủng ôn nhã đức hương.
Phát ra vô lượng vi diệu Pháp âm, lưu chuyển khắp nơi vạn loại ấm áp hòa nhã hương đức.

其有聞者 塵勞 垢習自然不起 , 風觸其身皆得快樂。
Kỳ hữu văn giả trần lao cấu tập tự nhiên bất khởi, phong xúc kỳ thân giai đắc khoái lạc.
Người nghe được trần lao tập quán xấu tự nhiên không phát khởi, gió tiếp xúc thân họ đều được khoái lạc.

譬如 比丘滅盡三昧 , 又風吹散華遍滿 佛土
Thí như Tỉ-kheo đắc diệt tận Tam-muội , hựu phong xuy tán hoa biến mãn Phật thổ .
Ví như Tỉ-kheo được Tam muội diệt hết, mới lại gió thổi rắc hoa tràn đầy khắp đất Phật.

隨色次第而不雜亂 , 柔軟光澤馨香芬烈。
Tùy sắc thứ đệ nhi bất tạp loạn, nhu nhuyễn quang trạch hinh hương phân liệt.
Tùy theo sắc lần lượt mà không lẫn lộn loạn xạ, hương cháy sáng tỏa mùi thơm mát dịu.

足履其上陷下四寸 , 隨舉足已還復如故 , 華用已訖地輒開裂。
Túc lý kỳ thượng hãm hạ tứ thốn, tùy cử túc dĩ hoàn phục như cố, hoa dụng dĩ cật địa triếp khai liệt.
Chân bước lên trên lún xuống bốn tấc, theo chân chuyển đi lại hoàn trả lại như cũ, hoa sử dụng xong đất mở ra nhận lấy.

以次化沒清淨無遺 , 隨其時節風吹散華 , 如是六反。
Dĩ thứ hóa một thanh tịnh vô di, tùy kỳ thời tiết phong xuy tán hoa, như thị lục phản.
Do lần lượt biến hóa thanh tịnh không để lại, tùy theo thời tiết gió thổi hoa tàn, như thế 6 thời khắc.

又眾寶 蓮華 周滿世界 , 一一寶華百千億葉。
Hựu chúng bảo Liên hoa châu mãn thế giới, nhất nhất bảo hoa bách thiên ức diệp.
Lại nữa các hoa sen báu biến đầy khắp thế giới, mỗi một hoa báu có trăm nghìn triệu cánh.

其葉光明無量種色 , 青色青光 , 白色白光。
Kỳ diệp quang minh vô lượng chủng sắc, thanh sắc thanh quang, bạch sắc bạch quang.
Quang minh của cánh hoa vô lượng màu sắc, cánh xanh phát quang xanh, cánh trắng phát quang trắng,

玄黃朱紫光色亦然 , 煒燁煥爛明曜日月。
huyền hoàng chu tử quang sắc diệc nhiên, vĩ diệp hoán lạn minh diệu Nhật Nguyệt.
đen vàng đỏ sắc tía quang sắc cũng như thế, ráng đỏ sáng rực huy hoàng hơn ánh Nhật Nguyệt.

一一華中 , 出三十六百千億光。一一光中 , 出三十六百千億佛。
Nhất nhất hoa trung , xuất tam thập lục bách thiên ức quang . Nhất nhất quang trung, xuất tam thập lục bách thiên ức Phật.
Trong mỗi bông hoa, phát xuất ra ba mươi sáu trăm nghìn triệu ánh quang. Trong mỗi ánh quang, phát xuất ra ba mươi sáu trăm nghìn triệu Phật.

身色紫金相好殊特。一一諸佛 , 又放百千光明。
Thân sắc tử kim Tướng-Hảo thù đặc . Nhất nhất chư Phật, hựu phóng bách thiên quang minh.
Thân sắc vàng tía 32 tướng 80 diện mạo đặc biệt. Mỗi một Đức Phật lại phóng ra trăm nghìn quang sáng.

普為 十方 說微妙法。如是諸佛。
Phổ vị thập phương thuyết vi diệu Pháp. Như thị chư Phật 。
Vì khắp nơi mười phương thuyết Pháp vi diệu. Các Phật như thế.

各各安立無量眾生於佛正道。
Các các an lập vô lượng chúng sinh ư Phật chính đạo 。
Từng vị đều an lập vô lượng chúng sinh ở trong Chính đạo Phật.

無量壽經卷上
Vô lượng thọ Kinh quyển thượng.
Kinh Vô Lượng Thọ Kinh quyển đầu.

============================================================
TUỆ QUANG 慧光 FOUNDATION http://www.daitangvietnam.com
Nguyên Tánh Trần Tiễn Khanh & Nguyên Hiển Trần Tiễn Huyến

Phiên Âm
Phật Tử Bùi Đức Huề dịch tiếng Việt 2/2009.
============================================================

佛說 無量壽經 卷下
Phật thuyết Vô Lượng Thọ Kinh quyển hạ (Taisho No. 360)
Phật thuyết Kinh Vô Lượng Thọ quyển cuối.

    曹魏 天竺 三藏 康僧鎧
    Tào ngụy Thiên-Trúc Tam Tạng Khang-tăng-khải dịch.
    Tào ngụy Thiên-Trúc Tam Tạng Khang-tăng-khải dịch.

佛告 阿難 : 其有眾生生彼國者。
Phật cáo A-nan : Kỳ hữu chúng sinh sinh bỉ quốc giả,
Phật bảo A-nan : Nếu có Chúng sinh sinh nước Phật đó,

皆悉住於 正定 之聚。所以者何 ?
giai tất trụ ư chính Định chi tụ . Sở dĩ giả hà ?
tất cả đều sống ở trong các Định chính. Sao lại như thế ?

佛國 中無諸邪聚及不定之聚。 十方 恒沙諸佛 如來
Bỉ Phật quốc trung vô chư Tà tụ cập bất Định chi tụ. Thập phương Hằng sa chư Phật Như Lai .
Trong đất Phật đó không có các Định sai và không có Định. Các Phật Như Lai nhiều như cát sông Hằng.

皆共讚歎 無量壽佛 威神 功德 不可思議
Giai cộng tán thán Vô Lượng Thọ Phật uy thần công Đức bất khả tư nghị .
Tất cả cùng ngợi ca Uy thần công Đức không thể suy bàn của Vô Lượng Thọ Phật .

諸有眾生聞其名號 , 信心歡喜乃至一念。
Chư hữu chúng sinh văn kỳ danh hiệu, tín tâm hoan hỉ nãi chí nhất niệm.
Nếu có chúng sinh nghe danh hiệu này, tâm tin tưởng vui mừng thậm chí nghĩ đọc 1 lần.

至心迴向願生彼國 , 即得 往生不退轉 , 唯除 五逆 誹謗正法
Chí tâm hồi hướng nguyện sinh bỉ quốc, tức đắc vãng sinh trụ Bất-thoái-chuyển , duy trừ Ngũ- nghịch phỉ báng chính Pháp.
Thành tâm hồi hướng nguyện sinh nước đó, tức thời vãng sinh được Bất thoái chuyển, chỉ trừ tội 5 nghịch đạo: Giết cha giết mẹ, giết A-la-hán , phá hoà hợp Tăng, chia lìa rời bỏ Phật, thiêu đốt Chùa Tháp và huỷ báng Chính Pháp.

佛告 阿難 : 十方 世界諸天人民。
Phật cáo A-nan : Thập phương thế giới chư Thiên Nhân dân.
Phật bảo A-nan : Thập phương thế giới Nhân dân cõi Trời.

其有至心願生彼國 , 凡有三輩。 其上輩者:
Kỳ hữu chí tâm nguyện sinh bỉ quốc, phàm hữu Tam bối. Kỳ thượng bối giả:
Nếu có quyết tâm nguyện sinh nước đó, thường có ba bậc. Người bậc cao :

捨家棄欲而作 沙門 , 發菩提心 , 一向專念 無量壽佛
Xả gia khí dục nhi tác Sa-môn, phát Bồ-đề tâm , nhất hướng chuyên niệm Vô Lượng Thọ Phật .
Rời gia đình bỏ ham muốn mà làm Sa môn, một lòng chuyên nhớ đọc học theo Vô Lượng Thọ Phật .

修諸 功德 願生彼國 , 此等眾生臨壽終時。
Tu chư công Đức nguyện sinh bỉ quốc, thử đẳng chúng sinh lâm thọ chung thời.
Tu các công Đức nguyện sinh nước đó, các chúng sinh đó lúc sắp hết tuổi thọ.

無量壽佛與諸大眾 , 現其人前。
Vô Lượng Thọ Phật dữ chư Đại chúng, hiện kỳ nhân tiền.
Vô Lượng Thọ Phật và các Đại chúng, hiện trước người đó.

即隨彼佛 往生 其國 , 便於 七寶 華中自然化生。
Tức tùy bỉ Phật vãng sinh kỳ quốc, tiện ư thất bảo hoa trung tự nhiên hóa sinh.
Tức thời theo Phật vãng sinh nước đó, liền ở trong hoa Sen bảy báu đương nhiên hoá sinh.

不退轉 , 智慧勇猛 神通 自在。是故 阿難 !
Trụ Bất-thoái-chuyển , Trí tuệ dũng mãnh Thần thông Tự-tại. Thị cố A-nan !
Ở trong Bất thoái chuyển, Trí tuệ dũng mãnh Thần thông tự tại. Vì thế A-nan .!

其有眾生 , 欲於今世見 無量壽佛
Kỳ hữu chúng sinh, dục ư kim thế kiến Vô Lượng Thọ Phật .
Nếu có chúng sinh, muốn trong đời này gặp Vô Lượng Thọ Phật .

應發 無上菩提 之心 , 修行 功德 , 願生彼國。
Ưng phát Vô-thượng Bồ-đề chi tâm, tu hành công Đức, nguyện sinh bỉ quốc.
Cần phát tâm Bình đẳng Bồ-đề , tu hành công Đức, nguyện sinh nước đó.

佛語 阿難 : 其中輩者 , 十方 世界諸天人民。
Phật ngữ A-nan : Kỳ trung bối giả, thập phương Thế giới chư Thiên Nhân dân.
Phật bảo A-nan : Người bậc giữa, nhân dân cõi Trời mười phương Thế giới.

其有至心願生彼國 , 雖不能行作 沙門 大修 功德 , 當發 無上菩提 之心。
Kỳ hữu chí tâm nguyện sinh bỉ quốc, tuy bất năng hành tác Sa-môn đại tu công Đức, đương phát Vô-thượng Bồ-đề chi tâm.
Nếu có quyết tâm nguyện sinh nước đó, tuy không thể tu hành làm Sa môn tu công Đức lớn, cần phát tâm Bình đẳng Bồ-đề .

一向專念 無量壽佛 , 多少修善 , 奉持齋戒 , 起立塔像。
Nhất hướng chuyên niệm Vô Lượng Thọ Phật , đa thiểu tu thiện, phụng trì Trai giới, khởi lập Tháp Tượng.
Một lòng chuyên nhớ đọc Vô Lượng Thọ Phật , tu thiện ít nhiều, giữ Trai giới, khởi xây Tháp Tượng.

飯食 沙門 , 懸繒 然燈 , 散華燒香。
Phạn thực Sa-môn, huyền tăng nhiên đăng, tán hoa thiêu hương.
Ăn uống như Sa môn, treo tăng đốt đèn, rắc hoa đốt hương.

以此迴向願生彼國 , 其人臨終。 無量壽佛 , 化現其身。
Dĩ thử hồi hướng nguyện sinh bỉ quốc, kỳ nhân lâm chung. Vô Lượng Thọ Phật , hóa hiện kỳ thân.
Dùng chúng hồi hướng nguyện sinh nước đó, người đó sắp hết thọ. Vô Lượng Thọ Phật hoá hiện trước mắt người đó.

光明相好具如真佛 , 與諸大眾現其人前。
Quang minh Tướng-Hảo cụ như chân Phật, dữ chư Đại chúng hiện kỳ nhân tiền.
Quang minh 32 tướng 80 tuỳ hình như Phật thật, và các Đại chúng hiện trước họ.

即隨化佛 往生 其國 , 住 不退轉 , 功德 智慧次如上輩者也。
Tức tùy hóa Phật vãng sinh kỳ quốc, trụ Bất-thoái-chuyển ,công Đức Trí tuệ thứ như thượng bối giả dã.
Tức thời theo hoá Phật sinh đất nước đó, được Bất thoái chuyển, công Đức Trí tuệ tiếp sau như người bậc cao.

佛語 阿難 : 其下輩者 , 十方 世界諸天人民。
Phật ngữ A-nan : Kỳ hạ bối giả, thập phương Thế giới chư Thiên Nhân dân.
Phật bảo A-nan : Người ở bậc thấp, mười phương Thế giới nhân dân cõi Trời.

其有至心欲生彼國 , 假使不能作諸 功德
Kỳ hữu chí tâm dục sinh bỉ quốc, giả sử bất năng tác chư công Đức.
Nếu có quyết tâm muốn sinh nước đó, giả sử không thể làm các công Đức.

當發 無上菩提 之心 , 一向專意乃至 十念 , 念 無量壽佛 願生其國。
Đương phát Vô-thượng Bồ-đề chi tâm, nhất hướng chuyên ý nãi chí thập niệm , niệm Vô Lượng Thọ Phật nguyện sinh kỳ quốc.
Cần phát tâm Bình đẳng Bồ-đề , một lòng chuyên ý thậm chí mười lần nhớ đọc, đọc danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật nguyện sinh nước đó.

若聞深法歡喜信樂不生 疑惑 , 乃至一念念於彼佛。
Nhược văn thâm Pháp hoa n hỉ tín nhạo bất sinh nghi hoặc , nãi chí nhất niệm niệm ư bỉ Phật.
Nếu nghe Pháp thâm sâu vui mừng tin tưởng ham thích không sinh nghi hoặc , thậm chí một lần nhớ đọc danh hiệu Phật đó.

以至誠心願生其國 , 此人臨終。
Dĩ chí thành tâm nguyện sinh kỳ quốc, thử nhân lâm chung .
Dùng tâm chí thành nguyện sinh nước đó, người đó lúc hết thọ.

夢見彼佛亦得 往生 , 功德 智慧次如中輩者也。
Mộng kiến bỉ Phật diệc đắc vãng sinh, công Đức Trí tuệ thứ như trung bối giả dã.
Trong giấc mơ gặp Phật đó cũng được vãng sinh, công Đức Trí tuệ tiếp sau như người bậc giữa.

佛告 阿難 : 無量壽佛 威神無極。
Phật cáo A-nan : Vô Lượng Thọ Phật uy thần vô cực.
Phật bảo A-nan : Vô Lượng Thọ Phật uy thần tối cao nhất.

十方世界無量無邊 不可思議 諸佛 如來 , 莫不稱歎於彼東方恒沙 佛國
Thập phương thế giới vô lượng vô biên bất khả tư nghị chư Phật Như Lai , mạc bất xưng thán ư bỉ Đông phương Hằng sa Phật quốc .
Vô lượng vô biên không thể suy bàn các Phật Như Lai mười phương Thế giới, ở các nước Phật phương Đông nhiều như cát sông Hằng đều cùng ca ngợi.

無量無數諸 菩薩 眾 ,皆悉往詣 無量壽佛 所。
Vô lượng vô số chư Bồ-tát chúng, giai tất vãng nghệ Vô Lượng Thọ Phật sở.
Vô lượng vô số các chúng Bồ-tát , tất cả đều vãng tới nơi Vô Lượng Thọ Phật ở.

恭敬供養及諸 菩薩 聲聞 大眾。聽受經法宣布 道化
Cung kính cúng dưỡng cập chư Bồ-tát Thanh-văn Đại chúng, thính thụ Kinh Pháp tuyên bố đạo hóa .
Cung kính cúng dưỡng cùng với các Bồ-tát Đại chúng, tiếp thu nghe Kinh Pháp tuyên bố giáo hoá Đạo.

南西北方四維上下亦復如是。爾時 世尊 而說頌曰。
Nam Tây Bắc phương tứ duy thượng hạ diệc phục như thị. Nhĩ thời Thế Tôn nhi thuyết tụng viết :
Phương Nam Tây Bắc bốn hướng trên dưới cũng lại như thế. Khi đó Thế Tôn dùng bài tụng thuyết rằng :

 東方諸 佛國   其數如恒沙
Đông phương chư Phật quốc . Kỳ số như Hằng sa.
Các đất Phật ở phương Đông. Lượng nhiều như cát sông Hằng.

 彼土諸 菩薩   往覲 無量覺
Bỉ thổ chư Bồ-tát   vãng cận vô lượng Giác.
Các Bồ-tát ở đất đó. Tới gặp vô lượng Chính-giác.

 南西北四維  上下亦復然
Nam Tây Bắc tứ duy. Thượng hạ diệc phục nhiên
Phương Nam Tây Bắc Bốn hướng. Phía Trên Dưới cũng như thế.

 彼土 菩薩 眾  往覲 無量覺
Bỉ thổ Bồ-tát chúng. Vãng cận vô lượng Giác
Các chúng Bồ-tát nước đó. Tới gặp vô lượng Đẳng Giác.

 一切諸 菩薩   各齎天妙華
Nhất thiết chư Bồ-tát . Các tê Thiên hương khí
Tất cả các chúng Bồ-tát . Đều mang theo khí hương Trời.

 寶香無價衣  供養 無量覺
Bảo hương vô giá y. Cúng dưỡng vô lượng Giác.
Hương báu áo quý vô giá. Cúng dưỡng các Chính Đẳng Giác

咸然奏 天樂   暢發和雅音
Hàm nhiên tấu Thiên nhạc . Sướng phát hòa nhã âm.
Nhạc Trời tất nhiên đều kêu. Ca sướng phát âm hoà nhã.

 歌歎 最勝尊   供養 無量覺
Ca thán Tối thắng tôn . Cúng dưỡng vô lượng Giác.
Ca ngợi Phật bậc cao nhất. Cúng dưỡng các Chính Đẳng Giác.

 究達 神通 慧  遊入 深法門
Cứu đạt Thần thông tuệ. Du nhập thâm Pháp môn .
Thần thông Tuệ tỏ tận cùng. Nhập vào môn Pháp thâm sâu.

 具足 功德 藏  妙智無等倫
Cụ túc công Đức tạng. Diệu trí vô đẳng luân.
Đầy đủ các loại công Đức. Diệu Trí Bình đẳng khác thường.

 慧日照世間  消除生死雲
Tuệ Nhật chiếu Thế gian. Tiêu trừ sinh tử vân.
Mặt trời Tuệ chiếu Thế gian. Tiêu trừ mây mù sinh tử.

 恭敬遶三匝  稽首 無上尊
Cung kính nhiễu tam tạp. Khể thủ Vô-thượng Tôn
Cung kính vây quanh 3 vòng. Phục lễ Thế Tôn Bình đẳng .

 見彼嚴 淨土   微妙難思議
Kiến bỉ nghiêm tịnh thổ . Vi diệu nan tư nghị.
Nhìn thấy đất nghiêm tịnh đó. Siêu tuyệt diệu khó suy bàn.

 因發無量心  願我國亦然
Nhân phát vô lượng tâm. Nguyện Ngã quốc diệc nhiên.
Vì thế phát tâm vô lượng. Nguyện nước con cũng như thế.

 應時 無量尊   動容發欣笑
Ưng thời vô lượng Tôn. Động dung phát hân tiếu.
Khi đó rất nhiều Thế Tôn . Cảm động đều cười rạng rỡ.

 口出無數光  遍照 十方
Khẩu xuất vô số quang. Biến chiếu thập phương quốc.
Miệng phát ra vô số quang. Chiếu rộng khắp mười phương nước.

 迴光圍遶身  三匝從頂入
Hồi quang vi nhiễu thân. Tam tạp tòng đỉnh nhập.
Quang vòng lại bao quanh thân. Ba vòng nhập vào đỉnh đầu.

 一切天人眾  踊躍皆歡喜
Nhất thiết Thiên Nhân chúng. Dũng dược giai hoan hỉ.
Tất cả chúng sinh người Trời. Đều được vui mừng phấn chấn

  大士 觀世音   整服稽首問
Đại-sĩ Quan-Thế-Âm. Chỉnh phục khể thủ vấn.
Đại sĩ Quan Âm Như Lai . Chỉnh quần áo phục lễ hỏi.

 白佛何緣笑  唯然願說意
Bạch Phật hà duyên tiếu. Duy nhiên nguyện thuyết ý.
Thưa vì duyên gì Phật cười. Nguyện xin Phật nói ý tứ.

 梵聲猶雷震   八音 暢妙響
Phạm thanh do lôi chấn. Bát âm sướng diệu hưởng.
Âm Phạm như tiếng sấm rền. Tám âm vi diệu cộng hưởng.

 當授 菩薩 記  今說仁諦聽
Đương thụ Bồ-tát ký. Kim thuyết nhân đế thính.
Cần Chuyển Bồ-tát thành Phật. Nay nói Ngài lắng nghe Tụê.

十方 來正士  吾悉知彼願
Thập phương lai Chính Sĩ. Ngô tất tri bỉ nguyện.
Chính Sĩ từ mười phương tới. Ta biết hết nguyện của họ.

 志求嚴 淨土   受決當作佛
Chí cầu nghiêm tịnh thổ . Thụ quyết đương tác Phật
Chí cầu đất Phật nghiêm tịnh. Quyết định nhận chuyển làm Phật

  覺了 一切法   猶如夢幻響
Giác liễu nhất thiết Pháp. Do như mộng huyễn hưởng.
Giác ngộ rõ tất cả Pháp. Âm hưởng giống như mộng ảo.

 滿足諸妙願  必成如是剎
Mãn túc chư diệu nguyện. Tất thành như thị sát.
Các nguyện vi diệu đầy đủ. Nhất định thành như đất đó.

 知法如電影  究竟 菩薩
Tri Pháp như điện ảnh. Cứu cánh Bồ-tát đạo.
Biết Pháp giống như điện ảnh. Cuối cùng thành Đạo Bồ-tát .

 具諸 功德 本  受決當作佛
Cụ chư công Đức bản. Thụ quyết đương tác Phật.
Đầy đủ các Đức căn bản. Nhận quyết định chuyển làm Phật.

 通達諸 法門   一切空 無我
Thông đạt chư Pháp môn . Nhất thiết không Vô-ngã.
Thông suốt rõ các môn Pháp. Tất cả Không không có mình.

 專求淨 佛土   必成如是剎
Chuyên cầu tịnh Phật thổ . Tất thành như thị sát.
Chuyên cầu đất Phật thanh tịnh. Tất cả thành như Đất đó.

 諸佛告 菩薩   令覲安養佛
Chư Phật cáo Bồ-tát . Linh cận An dưỡng Phật.
Các Phật bảo Bồ-tát rằng. Giúp gặp A Di Đà Phật

 聞法樂受行  疾得清淨處
Văn Pháp nhạo thụ hành. Tật đắc thanh tịnh xứ.
Nghe Pháp vui thích nhận hành. Nhanh chóng được nơi Thanh tịnh.

 至彼嚴 淨土   便速得 神通
Chí bỉ nghiêm tịnh thổ . Tiện tốc đắc Thần thông.
Tới đất Phật nghiêm tịnh đó. Liền nhanh chóng được Thần thông.

 必於 無量尊   受記成等覺
Tất ư vô lượng Tôn. Thụ ký thành Đẳng-giác.
Nhất định ở nơi các Phật. Chuyển bậc được thành Đẳng giác.

 其佛本願力  聞名欲 往生
Kỳ Phật bản nguyện lực. Văn danh dục vãng sinh.
Lực bản nguyện của Phật đó. Nghe danh hiệu muốn vãng sinh.

 皆悉到彼國  自致 不退轉
Giai tất đáo bỉ quốc. Tự trí Bất-thoái-chuyển
Tất cả đều tới nước đó. Tự được thành Bất thoái chuyển.

  菩薩 興志願  願己國無異
Bồ-tát hưng chí nguyện. Nguyện kỷ quốc vô dị.
Bồ-tát chí nguyện to lớn. Nguyện nước của mình không khác.

 普念度一切  名顯達 十方
Phổ niệm độ nhất thiết. Danh hiển đạt thập phương .
Nhớ cứu độ khắp tất cả. Danh hiệu hiển đạt mười phương.

 奉事億 如來   飛化遍諸剎
Phụng sự ức Như Lai . Phi hóa biến chư sát.
Phụng sự triệu Phật Như Lai . Biến hoá bay tới các nước.

 恭敬歡喜去  還到安養國
Cung kính hoan hỉ khứ. Hoàn đáo An dưỡng quốc.
Cung kính vui mừng ra đi. Trở lại đất Phật An Lạc.

 若人無善本  不得聞此經
Nhược nhân vô thiện bản. Bất đắc văn thử Kinh.
Nếu người không có bản thiện. Không thể được nghe Kinh này.

 清淨有戒者  乃獲聞 正法
Thanh tịnh hữu giới giả. Nãi hoạch văn chính Pháp.
Người có được Giới Thanh tịnh. Thì mới được nghe chính Pháp.

 曾更見 世尊   則能信此事
Tằng cánh kiến Thế Tôn . Tắc năng tín thử sự .
Từng đã gặp được Thế tôn . Chắc là năng tin việc này.

 謙敬聞奉行  踊躍大歡喜
Khiêm kính văn phụng hành . Dũng dược đại hoan hỉ.
Khiêm nhường kính nghe thừa hành. Phấn chấn vui mừng khôn tả.

 憍慢弊懈怠  難以信此法
Kiêu mạn tệ giải đãi. Nan dĩ tín thử Pháp .
Kiêu mạn tệ bạc lười nhác. Rất khó tin được Pháp này.

 宿世見諸佛  樂聽如是教
Túc thế kiến chư Phật. Nhạo thính như thị giáo.
Kiếp trước được gặp các Phật. Ham thích nghe lời dạy này.

  聲聞菩薩   莫能究聖心
Thanh-văn hoặc Bồ-tát . Mạc năng cứu Thánh tâm.
Thanh-văn hoặc là Bồ-tát . Không thể tới cùng tâm Thánh.

 譬如從生盲  欲行開導人
Thí như tòng sinh manh. Dục hành khai đạo nhân.
Ví như đi nghe theo người mù. Muốn làm việc dẫn dắt người.

  如來 智慧海   深廣無崖底
Như Lai Trí tuệ hải. Thâm quảng vô nhai để.
Trí tuệ Như Lai như biển. Sâu rộng không có tận cùng.

  二乘 非所測  唯佛獨明了
Nhị-thừa phi sở trắc. Duy Phật độc minh liễu.
Duyên-giác đo lường không được. Chỉ mình Phật hiểu rõ ràng.

 假使一切人  具足皆得道
Giả sử nhất thiết nhân. Cụ túc giai đắc đạo.
Giả sử tất cả mọi người. Toàn bộ đều được thành Đạo.

 淨慧如本空  億劫思佛智
Tịnh tuệ như bản không. Ức Kiếp tư Phật trí
Tịnh tuệ bản lai như Không. Triệu Kiếp tư duy Trí Phật

 窮力極講說  盡壽猶不知
Cùng lực cực giảng thuyết. Tận thọ do bất tri.
Giảng thuyết tới hết sức lực. Hết thọ còn chưa biết được.

  佛慧 無邊際  如是致清淨
Phật tuệ vô biên tế. Như thị Trí thanh tịnh.
Tuệ Phật không có biên giới. Trí tuệ thanh tịnh như thế.

 壽命甚難得   佛世 亦難值
Thọ mệnh thậm nan đắc. Phật thế diệc nan trực.
Thọ mệnh rất khó có được. Gặp thời có Phật cũng khó.

 人有信慧難  若聞精進求
Nhân hữu tín tuệ nan. Nhược văn tinh tiến cầu.
Người khó có được Tin Tuệ. Nếu được nghe cầu Tinh tiến.

 聞法能不忘  見敬得大慶
Văn Pháp năng bất vong. Kiến kính đắc đại khánh.
Nghe Pháp có thể không quên. Cung kính được vui mừng lớn.

 則我善親友  是故當發意
Tắc Ngã thiện thân hữu. Thị cố đương phát ý.
Chắc là bạn thân của Ta. Do đó cần nên phát ý.

 設滿世界火  必過要聞法
Thiết mãn Thế giới hỏa. Tất quá yếu văn Pháp.
Nếu Thế giới đầy hỏa tai. Cần phải trải qua nghe Pháp

 會當成 佛道   廣濟生死流
Hội đương thành Phật đạo . Quảng tế sinh tử lưu.
Đang sắp thành đạo Phật. Rộng cứu độ dòng sinh tử.

佛告 阿難 : 彼國 菩薩 , 皆當究竟 一生補處
Phật cáo A-nan : Bỉ quốc Bồ-tát , giai đương cứu cánh Nhất-sinh-bổ-xứ.
Phật bảo A-nan : Bồ-tát của nước đó, cuối cùng đều được là Bồ-tát một lần sinh thành Phật.

除其本願 ,為眾生故。
Trừ kỳ bản nguyện, vị chúng sinh cố.
Ngoài bản nguyện này, do cố gắng vì chúng sinh.

以弘誓 功德 而自莊嚴 , 普欲度脫一切眾生。 阿難 ! 彼 佛國 中。
Dĩ hoằng thệ công Đức nhi tự trang nghiêm, phổ dục độ thoát nhất thiết chúng sinh. A-nan ! Bỉ Phật quốc trung.
Dùng công Đức thệ nguyện lớn mà tự trang nghiêm, muốn độ thoát tất cả chúng sinh khắp nơi. A-nan ! Trong nước Phật đó,

聲聞 眾身光一尋。 菩薩 光明照百 由旬
chư Thanh-văn chúng thân quang nhất tầm. Bồ-tát quang minh chiếu bách Do-tuần.
quang thân của các chúng Thanh-văn chiếu xa khoảng 3m (8 thước). Quang minh của Bồ-tát chiếu xa 2 nghìn km.

有二 菩薩 最尊第一 , 威神光明普照 三千大千世界
Hữu nhị Bồ-tát tối tôn đệ nhất, uy thần quang minh phổ chiếu Tam thiên Đại thiên Thế giới.
Có hai Bồ-tát tôn quý bậc nhất, uy thần quang minh chiếu rộng khắp Ba nghìn Đại thiên Thế giới.

阿難白佛 : 彼二 菩薩 其號云何 ?
A-nan bạch Phật : Bỉ nhị Bồ-tát kỳ hiệu vân hà ?
A-nan bạch Phật : Hai vị Bồ-tát đó danh hiệu của họ ra sao ?

佛言 : 一名 觀世音 。二名 大勢 至。
Phật ngôn : Nhất danh Quan Thế Âm , nhị danh Đại Thế Chí.
Phật nói rằng : Người thứ nhất danh hiệu Quan Thế Âm, người thứ hai danh hiệu Đại Thế Chí.

是二 菩薩 , 於此 國土菩薩行
Thị nhị Bồ-tát , ư thử quốc thổ tu Bồ-tát hành.
Hai vị Bồ-tát này, ở đất nước này tu hành đạo Bồ-tát.

命終轉化生彼 佛國阿難 ! 其有眾生生彼國者。
Mệnh chung chuyển hóa sinh bỉ Phật quốc . A-nan ! Kỳ hữu chúng sinh sinh bỉ quốc giả.
Sau khi hết mệnh chuyển hóa sinh ở đất Phật đó. A-nan ! Nếu có chúng sinh sinh đất Phật đó.

皆悉具足三十二相 , 智慧成滿深入諸法。
Giai tất cụ túc tam thập nhị tướng, Trí tuệ thành mãn thâm nhập chư Pháp.
Tất cả đều đầy đủ 32 tướng, thành đạt đầy đủ Trí tuệ thâm nhập các Pháp.

究暢要妙 神通 無礙 , 諸根明利。其鈍根者成就 二忍
Cứu sướng yếu diệu Thần thông vô ngại, chư Căn minh lợi. Kỳ độn Căn giả thành tựu nhị nhẫn .
Cuối cùng được Thần thông vi diệu không có trở ngại, các Căn sáng suốt. Nếu Căn ngu tối cũng thành đạt Nhu thuận nhẫn ( Bồ-tát bậc 4,5,6).

其利根者得 阿僧祇 無生法忍 。又彼 菩薩
Kỳ lợi Căn giả đắc A-tăng-kỳ Vô-sinh Pháp nhẫn. Hựu bỉ Bồ-tát ,
Nếu Căn sáng suốt được A-tăng-kỳ Vô-sinh Pháp nhẫn ( Bồ-tát bậc 7,8,9,10). Mới lại Bồ-tát đó,

乃至成佛不更 惡趣 , 神通 自在常識宿命。
nãi chí thành Phật bất cánh Ác-thú, Thần thông Tự-tại thường thức túc mệnh.
thậm chí thành Phật không trở lại Ba đường dữ, Thần thông Tự tại thường biết được Kiếp trước.

除生他方五 濁惡世 , 示現同彼如我國也。
Trừ sinh tha phương Ngũ-trọc ác thế, thị hiện đồng bỉ như Ngã quốc dã.
Trừ sinh nước khác trong đời 5 trọc ác, cũng biểu hiện giống như đất nước của Ta.

佛語 阿難 : 彼國 菩薩 承佛威神。
Phật ngữ A-nan : Bỉ quốc Bồ-tát thừa Phật uy thần.
Phật bảo A-nan : Bồ-tát của nước đó dựa vào uy thần của Phật.

一食之頃往詣 十方 無量世界 , 恭敬供養諸 佛世尊
Nhất thực chi khoảnh vãng nghệ thập phương vô lượng Thế giới, cung kính cúng dưỡng chư Phật Thế tôn .
Thời gian khoảnh khắc chỉ bằng bữa ăn vãng tới mười phương vô lượng Thế giới, cung kính cúng dưỡng các Phật Thế Tôn .

隨心所念, 華香伎樂繒蓋幢旛。
Tùy tâm sở niệm, hoa hương kĩ nhạc tăng cái tràng phan.
Tuỳ theo nguyện vọng trong tâm, hương hoa kỹ nhạc tăng cái tràng phan.

無數無量供養之具 , 自然化生應念即至。
Vô số vô lượng cúng dưỡng chi cụ, tự nhiên hóa sinh ưng niệm tức chí.
Vô số vô lượng các đồ cúng dưỡng, đương nhiên hoá sinh tuỳ theo mong muốn tức thời mang tới.

珍妙殊特非世所有 , 轉以奉散諸佛 菩薩 聲聞 大眾。
Trân diệu thù đặc phi thế sở hữu, chuyển dĩ phụng tán chư Phật Bồ-tát Thanh-văn Đại chúng.
Châu báu đặc biệt vi diệu không phải Thế giới nào cũng có, chuyển tới dùng để cung kính dâng lên các Phật Bồ-tát Thanh-văn và Đại chúng.

在虛空中化成華蓋 , 光色晃耀香氣普熏。
Tại hư không trung hóa thành hoa cái, quang sắc hoảng diệu hương khí phổ huân.
Ở trong hư không hoá thành vành hoa, quang sắc sáng loà hương thơm vi diệu bay khắp các nơi.

其華周圓四百里者 , 如是轉倍。
Kỳ hoa châu viên tứ bách lý giả, như thị chuyển bội.
Hoa đó bay trong vòng 200km, như thế chuyển tăng gấp bội.

乃覆 三千大千世界 , 隨其前後以次化沒。
Nãi phúc Tam thiên Đại thiên Thế giới, tùy kỳ tiền hậu dĩ thứ hóa một.
Thậm chí che phủ Ba nghìn Đại thiên Thế giới, theo trước sau họ lần lượt hoá ra và biến mất.

其諸 菩薩 僉然欣悅 , 於虛空中共奏 天樂
Kỳ chư Bồ-tát thiêm nhiên hân duyệt, ư hư không trung cộng tấu Thiên nhạc .
Các Bồ-tát đó đương nhiên đều hân hoan mừng vui, ở trong hư không cùng nhau tấu nhạc Trời.

以微妙音歌歎 佛德 , 聽受經法歡喜無量。
Dĩ vi diệu âm ca thán Phật Đức, thính thụ Kinh Pháp hoa n hỉ vô lượng.
Dùng vi diệu âm thanh ca ngợi tán dương công Đức của Phật, nghe nhận Kinh Pháp vô cùng vui mừng.

供養佛已未食之前 , 忽然輕舉還其本國。 佛語 阿難 :
Cúng dưỡng Phật dĩ vị thực chi tiền, hốt nhiên khinh cử hoàn kỳ bản quốc. Phật ngữ A-nan :
Trước khi chưa ăn đã cúng dưỡng các Phật, đột nhiên nhẹ nhàng trở về nước cũ. Phật bảo A-nan :

無量壽佛 , 為諸 聲聞 菩薩 大眾頒宣法時,
Vô Lượng Thọ Phật, vị chư Thanh văn Bồ-tát Đại chúng ban tuyên Pháp thời,
Vô Lượng Thọ Phật, vì các Thanh-văn Bồ-tát Đại chúng lúc ban bố Pháp,

都悉集會 七寶 講堂 , 廣宣 道教 演暢妙法。
đô tất tập hội thất bảo giảng đường, quảng tuyên Đạo giáo diễn sướng diệu Pháp.
đều tập trung tất cả trong giảng đường bằng bảy báu, tuyên bố Đạo giáo rộng khắp vui vẻ diễn thuyết diệu Pháp.

莫不歡喜心解得道 , 即時四方自然風起 , 普吹寶樹出 五音 聲。
Mạc bất hoan hỉ tâm giải đắc đạo, tức thời tứ phương tự nhiên phong khởi, phổ xuy bảo thụ xuất ngũ âm thanh.
Tâm rất vui mừng hiểu được ý Đạo, tức thời bốn phía gió tự khắc nổi lên, thổi khắp các cây phát ra 5 điệu âm thanh.

雨無量妙華隨風周遍 , 自然供養如是不絕。
Vú vô lượng diệu hoa tùy phong chu biến, tự nhiên cúng dưỡng như thị bất tuyệt.
Rắc xuống rất nhiều hoa quý theo gió bay khắp nơi, tự khắc cúng dưỡng như thế không bao giờ hết.

一切諸天皆齎 天上 百千華香萬種伎樂 ,
Nhất thiết chư Thiên giai tê Thiên thượng bách thiên hoa hương vạn chủng kĩ nhạc,
Tất cả các Trời đều mang trăm nghìn loại hương hoa vạn loại kỹ nhạc trên Trời,

供養其佛及諸 菩薩 聲聞 大眾。普散華香奏諸音樂。
cúng dưỡng kỳ Phật cập chư Bồ-tát Thanh-văn Đại chúng . Phổ tán hoa hương tấu chư âm nhạc.
cúng dưỡng Phật đó cùng với Bồ-tát Thanh-văn Đại chúng. Hương hoa rải khắp các nơi tấu các âm nhạc.

前後來往更相開避 , 當斯之時 ,
tiền hậu lai vãng canh tương khai tị, đương tư chi thời,
lai vãng trước sau hỗ trợ nhau khai mở tránh né lẫn nhau, thời gian này cần,

熙然快樂不可勝言。佛告 阿難 : 生彼 佛國菩薩 等。
hi nhiên khoái lạc bất khả thắng ngôn. Phật cáo A-nan : Sinh bỉ Phật quốc chư Bồ-tát đẳng.
vui mừng phấn khởi nói không thể hết được. Phật bảo A-nan : Các Bồ-tát sinh ở đất Phật đó.

所可講說常宣 正法 , 隨順智慧無違無失。
Sở khả giảng thuyết thường tuyên chính Pháp, tùy thuận Trí tuệ vô vi vô thất.
Có thể giảng thuyết thường tuyên dương chính Pháp, thuận theo Trí tuệ không ngược không sai.

於其 國土 所有萬物 , 無 我所心 無染著心 , 去來進止情無所係。
Ư kỳ quốc thổ sở hữu vạn vật, Vô- ngã sở tâm vô nhiễm trước tâm, khứ lai tiến chỉ tình vô sở hệ.
Ở đất nước đó có được vạn vật, được tâm không vì mình, tâm không nhiễm uế cố chấp, đi lại tiến dừng, tình không dựa trên quan hệ có đi có lại.

隨意自在無所適莫 , 無彼 無我 無競無訟。
Tùy ý Tự tại vô sở thích mạc, vô bỉ Vô-ngã vô cạnh vô tụng.
Tự do tuỳ ý dừng lại tùy ý thích, không có họ không có mình, không cạnh tranh, không kiện tụng.

於諸眾生得大慈悲饒益之心 , 柔軟調伏無忿恨心。
Ư chư chúng sinh đắc Đại Từ Bi nhiêu ích chi tâm, nhu nhuyễn điều phục vô phẫn hận tâm.
Với các chúng sinh được tâm Đại Từ Bi nhiều lợi ích, tâm êm dịu điều phục không phẫn nộ thù hận.

離蓋清淨無厭怠心 , 等心勝心 , 深心定心。
Ly cái thanh tịnh vô yếm đãi tâm, đẳng tâm thắng tâm, thâm tâm định tâm.
Rời bỏ tâm thanh tịnh không lười nhác mệt mỏi, tâm mong đợi tâm cầu thắng, tâm thâm hiểm tâm kiên định.

愛法樂 法喜 法之心 , 滅諸 煩惱 , 離 惡趣 心。
Ái Pháp nhạo Pháp hỉ Pháp chi tâm, diệt chư phiền não , ly Ác-thú tâm.
Tâm yêu Pháp ham thích Pháp vui mừng Pháp, diệt các phiền não , ly rời tâm Địa ngục Quỷ đói Súc sinh.

究竟一切 菩薩 所行 , 具足成就無量 功德
Cứu cánh nhất thiết Bồ-tát sở hành, cụ túc thành tựu vô lượng công Đức.
Cuối cùng tu hành được tất cả các hành Đạo Bồ-tát , thành công đầy đủ vô lượng công Đức.

得深 禪定通明慧 , 遊志七覺修心 佛法
Đắc thâm Thiền-định chư thông minh tuệ , du chí Thất-giác tu tâm Phật Pháp .
Được Thiền định thâm sâu và Tuệ thông minh, chí hướng tới 7 Giác tu tâm Phật Pháp .

肉眼清徹靡不分了 , 天眼通 達無量無限。
Nhục nhãn thanh triệt mị bất phần liễu, Thiên nhãn thông đạt vô lượng vô hạn.
Mắt thường trong sáng phân biệt rõ ràng, Thiên nhãn thông tỏ không có lượng không có hạn.

法眼觀察究竟諸道 , 慧眼見真能度彼岸。
Pháp nhãn quan sát cứu cánh chư đạo, Tuệ-nhãn kiến chân năng độ bỉ Ngạn.
Trí tuệ Bồ-tát quan sát tới tận cùng các Đạo, Trí tuệ Thanh văn nhìn thấy chân thực có thể tới Niết-bàn .

佛眼具足 覺了 法性 , 以 無礙智 為人演說。
Phật nhãn cụ túc giác liễu Pháp-tính, dĩ Vô-ngại Trí vị nhân diễn thuyết.
Trí tuệ Phật hiểu rõ đầy đủ tính của Pháp, dùng Trí tuệ không trở ngại vì người diễn thuyết Pháp.

等觀三界空 無所有 , 志求 佛法 具諸辯才。
Đẳng quan Tam-giới không vô sở hữu , chí cầu Phật Pháp cụ chư biện tài.
Bình đẳng quan sát Tam giới Không-Không có-Có, chí cầu Pháp Phật đủ các hùng biện.

除滅眾生 煩惱 之患 , 從 如來 生解法 如如 , 善知習滅音聲方便。
Trừ diệt chúng sinh phiền não chi hoạn, tòng Như Lai sinh giải Pháp như như, thiện tri tập diệt âm thanh phương tiện
Trừ diệt hoạn nạn phiền não của các chúng sinh, sinh theo Như Lai hiểu Pháp giống như Không, dễ biết học tập Phương tiện diệt âm thanh.

不欣世語樂在正論 , 本志崇 佛道 。知 一切法 皆悉寂滅。
Bất hân Thế ngữ nhạo tại chính luận, tu chư thiện bản chí sùng Phật đạo . Tri nhất thiết Pháp giai tất tịch diệt.
Không hân hoan ngôn ngữ Thế gian ham thích trong Chính luận, ý chí kiên cố tôn sùng Đạo Phật. Biết tất cả các Pháp đều nhất định lặng lẽ tự diệt.

生身 煩惱 二餘俱盡聞甚深法心不疑懼。常能修行其 大悲者
Sinh thân phiền não nhị dư câu tận văn thậm thâm Pháp tâm bất nghi cụ. Thường năng tu hành kỳ đại bi giả .
Thân sống phiền não ngoài 2 thứ này ra đều diệt hết, nghe Pháp thâm sâu tâm không nghi ngờ sợ hãi. Thường năng tu hành Đại Bi đó.

深遠微妙靡不覆載 , 究竟一乘至于彼岸。
Thâm viễn vi diệu mị bất phúc tải, cứu cánh Nhất-thừa chí vu bỉ Ngạn.
Thâm sâu xa thẳm vi diệu che phủ khắp nơi, cuối cùng ở Pháp Bậc nhất tới được Niết bàn.

決斷疑網慧由心出 , 於 佛教 法該羅無外 , 智慧如大海。
Quyết đoạn nghi võng Tuệ do tâm xuất, ư Phật giáo Pháp cai la vô ngoại, Trí tuệ như đại hải.
Quyết đoạn tuyệt lưới nghi hoặc Tuệ phát ra từ tâm, với Pháp Phật giáo rất nhiều không có ngoại lệ, Trí tuệ như biển lớn.

三昧如山王 , 慧光明淨超踰日月。
Tam-muội như sơn vương, Tuệ quang minh tịnh siêu du Nhật Nguyệt.
Tam-muội như núi lớn nhất, ánh sáng Tuệ trong sạch vượt hơn ánh Nhật Nguyệt.

清白之法具足圓滿 , 猶如雪山 , 照諸 功德 等一淨故。
Thanh bạch chi Pháp cụ túc viên mãn, do như tuyết sơn, chiếu chư công Đức đẳng nhất tịnh cố.
Pháp trong sáng sạch đầy đủ hoàn hảo, giống như núi Tuyết, chiếu các công đức Bình đẳng Thanh tịnh bậc nhất.

猶如大地 , 淨穢好惡無異心故。猶如淨水 , 洗除 塵勞 諸垢染故。
Do như Đại địa, tịnh uế hảo ác vô dị tâm cố. Do như Tịnh thủy, tẩy trừ trần lao chư cấu nhiễm cố.
Giống như Đại địa, do tâm không khác sạch bẩn thiện ác. Giống như nước sạch, cố tẩy rửa sạch bụi trần và các nhiễm bẩn.

猶如火王 , 燒滅一切 煩惱薪 故。猶如大風 , 行諸世界無障閡故。
Do như hỏa Vương, thiêu diệt nhất thiết phiền não tân cố. Do như Đại phong, hành chư thế giới vô chướng ngại cố.
Giống như lửa lớn nhất, cố gắng thiêu cháy hết tất cả củi phiền não . Giống như Gió lớn, do không có trở ngại thổi tới các Thế giới.

猶如虛空 , 於 一切有 無所著 故。
Do như hư không, ư nhất thiết hữu vô sở trước cố.
Giống như hư không, do không thể chứa chấp được tất cả các hiện hữu trong nó.

猶如 蓮華 , 於諸世間無染污故。猶如 大乘 , 運載群萌出生死故。
Do như liên hoa , ư chư Thế gian vô nhiễm ô cố. Do như Đại-Thừa, vận tải quần manh xuất sinh tử cố.
Giống như hoa Sen, do không nhiễm ô uế ở các Thế gian. Giống như Đại thừa , cố vận chuyển chúng sinh ra khỏi dòng sinh tử.

猶如重雲 , 震大 法雷 覺未覺故。猶如大雨 , 雨 甘露法 潤眾生故。
Do như trùng vân, chấn đại Pháp lôi giác vị giác cố. Do như đại Vũ, vú Cam-lộ Pháp nhuận chúng sinh cố.
Giống như tầng mây, rung động sấm Pháp cố giác ngộ người chưa giác ngộ. Giống như mưa lớn, cố rải Pháp Giới tịnh thấm nhuận chúng sinh.

如金剛山 , 眾魔外道不能動故。
Như Kim Cương sơn, chúng Ma ngoại đạo bất năng động cố.
Như núi Kim Cương, các chúng Ma ngoại đạo cố không dám động tới.

梵天王 , 於諸善法最上首故。如尼拘類樹 , 普覆一切故。
Như Phạm- Thiên vương , ư chư thiện Pháp tối thượng thủ cố. Như Ni-câu loại thụ, phổ phúc nhất thiết cố.
Như Phạm Thiên vương , với các Pháp thiện cố gắng là người đứng đầu. Như loại cây Ni-câu, cố che phủ khắp tất cả.

優曇 鉢華 , 希有難遇故。如金翅鳥 , 威伏外道故。
Như Ưu-đàm-bát hoa, hi hữu nan ngộ cố. Như Kim-sí điểu, uy phục ngoại đạo cố.
Như hoa Ưu-đàm-bát, rất hiếm khi gặp được. Như chim Kim-sí, uy nghi chế phục được ngoại đạo.

如眾遊禽 , 無所藏積故。猶如牛王 , 無能勝 故。
Như chúng du cầm, vô sở tạng tích cố. Do như Ngưu vương, vô năng thắng cố.
Như các loài chim di cư, không có nơi ở cố định. Như Ngưu vương, do không gì có thể thắng được.

猶如象王 , 善調伏故。如 師子王 , 無所畏故。
Do như Tượng vương, thiện điều phục cố. Như Sư Tử Vương, vô sở úy cố.
Giống như Voi chúa, cố gắng dễ điều phục. Như Vua Sư Tử, do không có sợ hãi.

曠若虛空 , 大慈等故 , 摧滅嫉心不望勝故。
Khoáng nhược hư không, Đại Từ đẳng cố, tồi diệt tật tâm bất vọng thắng cố.
Hư không thoáng rộng, do Đại Từ Bi Bình đẳng, cố đẩy lùi diệt trừ tâm đố kị không hi vọng.

專樂求法心 無厭足 , 常欲廣說志無疲倦。
Chuyên nhạo cầu Pháp tâm vô yếm túc, thường dục quảng thuyết chí vô bì quyện.
Chuyên tâm ham thích cầu Pháp không biết đủ chán, thường muốn nói rộng khắp ý chí không mệt mỏi.

法鼓 , 建法幢 , 曜慧日 , 除癡闇 , 修 六和 敬。
Kích Pháp cổ, kiến Pháp-Tràng, diệu tuệ nhật, trừ si ám, tu Lục hòa kính.
Gõ trống Pháp, kiến thiết Đạo tràng, Tuệ sáng tỏ, trừ diệt si mê tăm tối, tu 6 hoà kính : Thân hoà cùng sống, Khẩu hoà không tranh luận, Ý hoà cùng vui vẻ, Kiến hoà cùng hiểu, Giới hòa cùng tu, Lợi hoà chia quân bình.

常行 法施 , 志勇精進心不退弱。
Thường hành Pháp thí, chí dũng tinh tiến tâm bất thoái nhược.
Thường thực hành bố thí Pháp, ý chí dũng mãnh Tinh tiến tâm không khiếp nhược lùi bước.

為世燈明最勝福田 , 常為師導等無憎愛。
Vị thế đăng minh tối thắng phúc điền, thường vi Sư đạo đẳng vô tăng ái.
Vì đời soi sáng được phúc điền cao nhất, thường là Thầy dẫn dắt tâm bình đẳng không có yêu gét.

唯樂正道無餘欣慼 , 拔諸欲刺以安群生。
Duy nhạo Chính đạo vô dư hân thích, bạt chư dục thứ dĩ an quần sinh.
Chỉ yêu thích Chính đạo không yêu thích thứ khác, bỏ các dục vọng dùng để yên ổn chúng sinh.

功德殊勝莫不尊敬 , 滅三垢障遊諸 神通
Công đức thù thắng mạc bất tôn kính, diệt Tam-cấu chướng du chư Thần thông.
Được công đức đặc biệt đều được tôn kính, diệt trừ trở ngại của Tham-sân-si du hành bằng Thần thông.

因力緣力 , 意力願力 , 方便之力 , 常力善力 ,
Nhân lực duyên lực, ý lực nguyện lực, phương tiện chi lực, thường lực thiện lực,
Lực nhân lực duyên, lực Ý lực nguyện, lực Phương tiện, lực thường lực thiện,

定力慧力 , 多聞之力 , 施戒忍辱 , 精進 禪定 ,
Định lực Tuệ lực, đa văn chi lực, Thí Giới Nhẫn nhục, Tinh tiến Thiền định ,
lực Định lực Tuệ, lực nghe nhiều, lực bố Thí trì Giới Nhẫn nhục, Tinh tiến Thiền định ,

智慧之力 , 正念 止觀諸通明力。
Trí tuệ chi lực, Chính-niệm chỉ quan chư thông minh lực.
Trí tuệ, lực Chính-niệm dừng quan sát và thông minh.

如法調伏諸眾生力 , 如是等力一切具足。身色相好 功德 辯才。
Như Pháp điều phục chư chúng sinh lực, như thị đẳng lực nhất thiết cụ túc. Thân sắc Tướng-Hảo công Đức biện tài.
Theo Pháp điều phục các lực chúng sinh, tất cả các lực như thế đều đã đầy đủ. Thân 32 tướng 80 hình tốt công Đức hùng biện.

具足莊嚴無與等者 , 恭敬供養無量諸佛。
Cụ túc trang nghiêm vô dữ đẳng giả, cung kính cúng dưỡng vô lượng chư Phật.
Đầy đủ trang nghiêm không ai so được, cung kính cúng dưỡng vô lượng các Phật

常為諸佛所共稱歎 , 究竟 菩薩波羅蜜
Thường vi chư Phật sở cộng xưng thán, cứu cánh Bồ-tát chư Ba-la-mật .
Thường được các Phật cùng nhau nói tên khen ngợi, cuối cùng thành Bồ-tát tới được Niết-bàn .

空無 相無願 三昧 不生不滅 諸三昧門。
Tu Không Vô-tướng Vô-nguyện Tam-muội bất sinh bất diệt chư Tam-muội môn.
Tu Không, không có Tướng, không có nguyện Tam-muội , không Sinh, không Diệt và các môn Tam-muội

遠離 聲聞 緣覺之地。 阿難 ! 彼諸 菩薩 ,
Viễn ly Thanh-văn Duyên- giác chi địa. A-nan ! Bỉ chư Bồ-tát ,
Rời bỏ Trí tuệ của bậc Thanh-văn Duyên-giác. A-nan ! Các Bồ-tát đó,

成就如是無量 功德 。我但為汝略言之耳。
thành tựu như thị vô lượng công Đức. Ngã đãn vị Nhữ lược ngôn chi nhĩ.
thành đạt vô lượng công Đức như thế. Ta chỉ vì Ngài nói sơ lược thôi.

若廣說者百千萬劫不能窮盡。
Nhược quảng thuyết giả, bách thiên vạn Kiếp bất năng cùng tận.
Nếu nói rộng khắp hết, trong trăm nghìn vạn Kiếp không thể tới tận cùng.

佛告彌勒 菩薩 諸天人等。
Phật cáo Di Lặc Bồ-tát chư Thiên Nhân đẳng.
Phật bảo Di Lặc Bồ-tát và các người Trời.

無量壽國 聲聞 菩薩 , 功德 智慧不可稱說。又其 國土
Vô-Lượng-Thọ quốc Thanh-văn Bồ-tát , công Đức Trí tuệ bất khả xưng thuyết. Hựu kỳ quốc thổ,
Thanh-văn Bồ-tát của nước Vô Lượng Thọ, công Đức Trí tuệ không thể nói hết. Mới lại đất Phật đó,

微妙安樂清淨若此。何不力為善 ? 念道之自然。
vi diệu an lạc thanh tịnh nhược thử. Hà bất lực vi thiện ? Niệm Đạo chi Tự-nhiên.
vi diệu an lạc thanh tịnh như thế. Vì sao không tận lực làm thiện ? Học Đạo và Giới tự nhiên .

著於無上下 , 洞達無邊際 , 宜各勤精進。
Trước ư vô thượng hạ, đỗng đạt vô biên tế, nghi các cần tinh tiến.
Cố chấp và không có trên dưới, thông suốt không có biên giới, tuỳ nghi cần tinh tiến.

努力自求之 , 必得超絕去 , 往生 安養國。
nỗ lực tự cầu chi, tất đắc siêu tuyệt khứ, vãng sinh An dưỡng quốc.
nỗ lực tự mình cầu, nhất định được siêu thoát hết, vãng sinh nước An Lạc.

橫截 五惡趣 , 惡趣自然閉 , 昇道無窮極。
Hoành tiệt Ngũ- ác thú , Ác- thú Tự-nhiên bế, thăng đạo vô cùng cực.
Cắt đứt ngay 5 Đường dữ (Người, A-tu-la , Địa ngục, Quỷ đói, Súc sinh), Đường dữ của Giới tự nhiên đóng lại, Đạo tăng cao tột cùng.

易往而無人 , 其國不逆違 , 自然之所牽。
Dị vãng nhi vô nhân, kỳ quốc bất nghịch vi, tự nhiên chi sở khiên.
Dễ vãng mà không có người, không làm ngược lại nước đó, tự khắc được dắt đi.

何不棄世事 , 勤行求道德 , 可獲極長生。
Hà bất khí thế sự, cần hành cầu Đạo Đức, khả hoạch cực trường sinh.
Vì sao không bỏ việc đời, cần hành cầu Đạo Đức, có thể thu hoạch được sự trường sinh lâu dài.

壽樂無有極 , 然世人薄俗 , 共諍不急之事。
Thọ lạc vô hữu cực, nhiên Thế nhân bạc tục, cộng tránh bất cấp chi sự.
Thọ vui không có hạn, tuy nhiên người đời bạc ác, cùng nhau tranh đấu các việc không cấp thiết.

於此劇惡極苦之中 , 勤身營務以自給濟。
Ư thử kịch ác cực khổ chi trung, cần thân doanh vụ dĩ tự cấp tế.
Ở trong bi kịch ác cực khổ đó, thân cần thoả mãn việc dùng để tự cung cấp cứu tế.

無尊無卑 , 無貧無富 , 少長男女共憂錢財。
Vô tôn vô ti, vô bần vô phú, thiếu trưởng nam nữ cộng ưu tiền tài.
Không tôn quý không hèn kém, không nghèo không giàu, trẻ già nam nữ cùng lo âu tiền tài.

有無同然 , 憂思適等 , 屏營愁苦 , 累念積慮。
Hữu vô đồng nhiên, ưu tư thích đẳng, bình doanh sầu khổ, luy niệm tích lự.
Đương nhiên không như nhau, lo âu tư duy ý thích, nhiều sầu khổ được che chắn, suy tư mệt mỏi tích chứa lo buồn.

為心走使無有安時 , 有田憂田 , 有宅憂宅。
Vị tâm tẩu sử vô hữu an thời, hữu điền ưu điền, hữu trạch ưu trạch.
Vì tâm sai khiến không lúc nào yên, có đất ưu lo đất, có nhà ưu lo nhà.

牛馬 六畜 奴婢錢財衣食什物 , 復共憂之。
Ngưu mã lục súc nô tì tiền tài y thực thập vật, phục cộng ưu chi.
Trâu ngựa lục súc nô tì tiền tài áo quần thực phẩm mười vật, lại cũng cùng lo âu.

重思累息憂念愁怖。
trọng tư luy tức ưu niệm sầu bố.
suy nghĩ lo âu chứa chất nặng nề buồn phiền sợ hãi.

橫為非常水火 盜賊 怨家債主 , 焚漂劫奪消散磨滅。
Hoạnh vi phi thường thủy hỏa đạo tặc oan gia trái chủ, phần phiêu Kiếp đoạt tiêu tán ma diệt.
Bất ngờ nhận được việc khác thường oan gia trái chủ trộm cướp đói khát chiến tranh, đốt thiêu đưa đẩy đoạt Kiếp tiêu tán diệt dần.

憂毒忪忪無有解時 , 結憤心中不離憂惱。
Ưu độc chung chung vô hữu giải thời, kết phẫn tâm trung bất ly ưu não.
Lo âu căm giận khiếp sợ không có thời gian giải thoát, kết tập trong tâm không bỏ được ưu phiền.

堅意 固適無縱捨 , 或坐摧碎身亡命終。
Tâm kiên ý cố thích vô túng xả, hoặc tọa tồi toái thân vong mệnh chung.
Tâm ý kiên cố không dễ dàng vứt bỏ, hoặc ngồi đẩy lui thân tan mất mệnh hết.

棄捐之去莫誰隨者 , 尊貴豪富亦有斯患。
Khí quyên chi khứ mạc thùy tùy giả, tôn quý hào phú diệc hữu tư hoạn.
Vứt bỏ đi không ai mang theo, tôn quý hào phú cũng có hoạn nạn này.

憂懼萬端勤苦若此 , 結眾寒熱與痛共俱。
Ưu cụ vạn đoan cần khổ nhược thử, kết chúng hàn nhiệt dữ thống cộng câu.
Lo âu sợ hãi khác nhau cần khổ như thế, kết thành các loại nóng lạnh và thống khổ cùng tới.

貧窮下劣困乏常無。無田亦憂欲有田。
Bần cùng hạ liệt khốn phạp thường vô. Vô điền diệc ưu dục hữu điền.
Bần cùng hạ tiện khốn khó thường không có gì. Không có đất cũng lo muốn có đất.

無宅亦憂欲有宅。無牛馬 六畜 奴婢錢財衣食什物 ,
Vô trạch diệc ưu dục hữu trạch. Vô ngưu mã lục súc nô tì tiền tài y thực thập vật,
Không có nhà cũng lo muốn có nhà. Không có trâu ngựa lục súc nô tì tiền tài áo quần thực phẩm mười vật,

亦憂欲有之。適有一復少一 , 有是少是 , 思有齊等。
diệc ưu dục hữu chi. Thích hữu nhất phục thiểu nhất, hữu thị thiểu thị, tư hữu tề đẳng.
cũng lo muốn có các thứ đó. Thích có một lại thiếu một, có cái nào thiếu cái ấy, suy nghĩ muốn có bằng nhau.

適欲具有便復糜散。 如是憂苦當復求索 , 不能時得思想無益。
Thích dục cụ hữu tiện phục mị tán. Như thị ưu khổ đương phục cầu sách, bất năng thời đắc tư tưởng vô ích.
Thích muốn có đủ liền lại lãng phí phá tán. Lo âu khổ não như thế nên tìm cách chế phục, không thể mất thời gian được tư tưởng vô ích.

身心俱勞坐起不安 , 憂念相隨勤苦若此。
Thân tâm câu lao tọa khởi bất an, ưu niệm tương tùy cần khổ nhược thử.
Thân tâm đều mệt mỏi đứng ngồi không yên, lo âu suy nghĩ kèm theo cần khổ như thế.

亦結眾寒熱與痛共俱。或時坐之終身夭命。
Diệc kết chúng hàn nhiệt dữ thống cộng câu. Hoặc thời tọa chi chung thân yêu mệnh.
Cũng kết thành các lạnh nóng và đau khổ cùng tới. Hoặc thời suốt đời ngồi tại chỗ chết non.

不肯為善行道進德 , 壽終身死當獨遠去。
Bất khẳng vi thiện hành Đạo tiến Đức, thọ chung thân tử đương độc viễn khứ.
Không cho rằng làm thiện hành Đạo tăng thêm Đức, thọ hết thân mất chỉ có một mình vĩnh viễn ra đi.

有所趣向善惡之道莫能知者。
Hữu sở thú hướng thiện ác chi đạo mạc năng tri giả.
Hướng về Đường thiện ác không thể biết được.

世間人民父子兄弟夫婦家室中外親屬 , 當相敬愛無相憎嫉。
Thế gian nhân dân phụ tử huynh đệ phu phụ gia thất trung ngoại thân thuộc, đương tương kính ái vô tương tăng tật.
Thế gian nhân dân cha mẹ anh em vợ chồng gia đình thân thuộc trong ngoài, cần yêu quý kính trọng lẫn nhau không gen gét lẫn nhau.

有無相通無得貪惜 , 言色常和莫相違戾。
Hữu vô tương thông vô đắc tham tích, ngôn sắc thường hòa mạc tương vi lệ.
Có không có thông cảm với nhau, không được tham lam tiếc nuối, lời nói sắc thái thường hòa nhã không ngang ngược với nhau.

或時心諍有所恚怒 , 今世恨意微相憎嫉。
Hoặc thời tâm tránh hữu sở khuể nộ, kim thế hận ý vi tương tăng tật.
Hoặc lúc tâm tranh đấu có tức giận, đời này ý thù hận gen gét lẫn nhau nhỏ.

後世轉劇至成大怨。所以者何 ?
Hậu thế chuyển kịch chí thành đại oán. Sở dĩ giả hà ?
Đời sau chuyển thành bi kịch thành oán gia lớn. Vì sao như thế ?

世間之事更相患害。雖不即時應急相破。
Thế gian chi sự canh tương hoạn hại. Tuy bất tức thời ưng cấp tương phá.
Sự việc của Thế gian càng thêm hoạn nạn nguy hại. Tuy không tức thời cần cấp tốc phá lẫn nhau.

然含毒畜怒結憤精神 , 自然剋識不得相離。
Nhiên hàm độc súc nộ kết phẫn tinh thần, tự nhiên khắc thức bất đắc tương ly.
Đương nhiên độc tố của tức giận nuôi dưỡng kết thành tinh thần phẫn nộ, tất nhiên khắc vào tâm thức không ly rời được.

皆當對生更相報復。人在世間愛欲之中 ,
Giai đương đối sinh canh tương báo phục. Nhân tại Thế gian ái dục chi trung,
Đều đang đối chọi nhau sinh, tăng thêm báo thù rửa hận. Người tại thế gian trong sự yêu dâm dục,

獨生獨死獨去獨來 , 當行至趣苦樂之地。
độc Sinh độc Tử độc Khứ độc Lai, đương hành chí thú khổ lạc chi địa.
một mình sinh một mình chết một mình đi một mình quay về, đang hướng tới cảnh khổ vui.

身自當之無有代者 , 善惡變化殃福異處。
Thân tự đương chi vô hữu đại giả, thiện ác biến hóa ương phúc dị xứ.
Thân tự làm nên không có ai thay thế được, thiện ác biến hóa tai ương phúc thiện nơi ở khác nhau .

宿豫嚴待當獨趣入 , 遠到他所莫能見者。
Túc dự nghiêm đãi đương độc thú nhập, viễn đáo tha sở mạc năng kiến giả.
Vui vẻ đối xử nghiêm túc trước đây đang nhập vào một hướng, rời xa đến nơi khác nhìn không thể thấy.

善惡自然追行所生 , 窈窈冥冥別離久長。
Thiện ác Tự-nhiên truy hành sở sinh, yểu yểu minh minh biệt ly cửu trường.
Thiện ác của Giới tự nhiên truy đuổi được sinh ra, tối tăm sâu thẳm ly biệt lâu dài.

道路不同會見無期 , 甚難甚難復得相值。
Đạo lộ bất đồng hội kiến vô kỳ, thậm nan thậm nan phục đắc tương trực.
Đường đi không giống nhau biết khi nào gặp lại nhau, khó thật khó thật lại trực tiếp gặp lại nhau.

何不棄眾事 , 各曼強健時 , 努力勤修善。
Hà bất khí chúng sự, các mạn cường kiện thời, nỗ lực cần tu thiện.
Sao không bỏ mọi việc, lúc còn trẻ đẹp khoẻ mạnh, nỗ lực cần tu thiện.

精進願度世 , 可得極長生。如何不求道 ?
Tinh tiến nguyện độ thế, khả đắc cực trường sinh. Như hà bất cầu đạo ?
Tinh tiến nguyện độ thoát đời, có thể được sống lâu dài. Như thế sao không cầu Đạo ?

安所須待欲何樂乎 ? 如是世人。
An sở tu đãi dục hà lạc hồ ? như thị thế nhân.
Cần được ở nơi yên ổn, muốn vui vẻ được không ? Người đời như thế.

不信作善得善為道得道。不信人死更生惠施得福。
Bất tín tác thiện đắc thiện vị Đạo đắc Đạo. Bất tín nhân tử canh sinh huệ thí đắc phúc.
Không tin làm thiện được thiện vì Đạo được Đạo. Không tin người chết lại sinh bố thí ân huệ được phúc.

善惡之事都不信之 , 謂之不然終無有是。
Thiện ác chi sự đô bất tín chi, vị chi bất nhiên chung vô hữu thị.
Đều không tin việc thiện ác, coi như không phải của Giới tự nhiên nói chung không có việc đó.

但坐此故且自見之 , 更相瞻視先後同然 , 轉相承受父餘教令。
Đãn tọa thử cố thả tự kiến chi, canh tương chiêm thị tiên hậu đồng nhiên, chuyển tương thừa thụ phụ dư giáo linh.
Chỉ ngồi chỗ đó cố thoải mái tự xem xét, quan sát kỹ qua lại trước sau cùng như nhau, chuyển nối tiếp nhau nhận lời giáo huấn khác của cha.

先人祖父素不為善不識道德 , 身愚神闇心塞意閉。
Tiên nhân tổ phụ tố bất vi thiện bất thức đạo đức, thân ngu thần ám tâm tắc ý bế.
Tổ tiên cha mẹ không làm thiện không hiểu Đạo đức, thân ngu si thần u tối tâm ý bế tắc.

死生之趣善惡之道 , 自不能見無有語者。
Tử sinh chi thú thiện ác chi Đạo, tự bất năng kiến vô hữu ngữ giả.
Sinh tử chuyển theo Đường thiện ác, tự mình không thể biết không có người nói cho.

吉凶禍福競各作之 , 無一怪也 , 生死常道轉相嗣立。
Cát hung họa phúc cạnh các tác chi, vô nhất quái dã, sinh tử thường đạo chuyển tương tự lập.
Cát hung hoạ phúc tranh nhau thi hành, không phải một việc lạ, bình thường sinh tử chuyển thành do tự mình thiết lập.

或父哭子或子哭父 , 兄弟夫婦更相哭泣。
Hoặc phụ khốc tử hoặc tử khốc phụ, huynh đệ phu phụ canh tương khốc khấp.
Hoặc con khóc cha hoặc cha khóc con, anh em vợ chồng khóc lóc lẫn nhau.

顛倒上下 無常 根本 , 皆當過去不可常保。
Điên đảo thượng hạ vô thường căn bản, giai đương quá khứ bất khả thường bảo.
Đạo lộn trên dưới gốc rễ thay đổi, đều nên bỏ qua không thể bảo đảm chắc được.

教語開導信之者少 , 是以生死流轉無有休止。
Giáo ngữ khai đạo tín chi giả thiểu, thị dĩ sinh tử lưu chuyển vô hữu hưu chỉ.
Dạy bảo khai mở dẫn dắt tin được chút ít, dùng nó trong dòng sinh tử không có ngừng nghỉ.

如此之人 , 曚冥抵突不信經法。
Như thử chi nhân, mông minh để đột bất tín Kinh pháp.
Như những người đó, mông muội đường đột không tin Kinh Pháp.

心無遠慮各欲快意 , 癡惑於愛欲 , 不達於道德。
Tâm vô vi ễn lự các dục khoái ý, si hoặc ư ái dục, bất đạt ư Đạo đức.
Tâm không lo xa khoái ý với các dục vọng, si mê cuồng hoặc trong ân ái, không hiểu rõ Đạo đức.

迷沒於瞋怒 , 貪狼於財色 , 坐之不得道。
Mê một ư sân nộ, tham lang ư tài sắc, tọa chi bất đắc đạo.
Mê muội chìm đắm trong thù hận tức giận, tham lam hiểm độc với tài sắc, ngồi không được Đạo.

當更 惡趣 苦 , 生死無窮已 , 哀哉甚可傷。
Đương cánh Ác-thú khổ, sinh tử vô cùng dĩ, ai tai thậm khả thương.
Càng tăng thêm khổ cho Ba đường dữ, sinh tử đã vô cùng tận , chao ôi thật đáng thương.

或時室家父子兄弟夫婦 , 一死一生更相哀愍。
Hoặc thời thất gia phụ tử huynh đệ phu phụ, nhất tử nhất sinh canh tương ai mẫn.
Hoặc thời gia đình cha con anh em chồng vợ, nhất tử nhất sinh càng thêm đau xót.

恩愛思慕憂念結縛 , 心意痛著迭相顧戀。
Ân ái tư mộ ưu niệm kết phược, tâm ý thống trước điệt tương cố luyến.
Ân ái riêng tư lo âu suy nghĩ kết thành dây buộc, tâm ý đau khổ cố chấp chuyển thành cố luyến tiếc.

窮日卒歲無有解已 , 教語道德心不開明。
Cùng nhật tốt tuế vô hữu giải dĩ, giáo ngữ Đạo đức tâm bất khai minh.
Ngày cùng năm tận đã không tháo bỏ được, dạy bảo Đạo đức tâm không khai sáng.

思想恩好不離情欲 , 惛曚閉塞愚惑所覆。
Tư tưởng ân hảo bất ly tình dục, hôn mông bế tắc ngu hoặc sở phúc.
Tư tưởng ân huệ tốt, không lánh tình dục, mông muội bế tắc ngu si mê hoặc được che phủ.

不能深思熟計心自端政專精行道決斷世。
Bất năng thâm tư thục kế tâm tự đoan chính chuyên tinh hành đạo quyết đoạn thế.
Không thể tư duy sâu sắc, tính suy tâm cần tự đoan chính, chuyên tâm tinh cần hành Đạo, quyết định đoạn tuyệt Thế gian.

事便旋至竟年壽終盡不能得道。
Sự tiện toàn chí cánh niên thọ chung tận bất năng đắc đạo.
Sự đời liền xoay vòng chuyển tới cuối cùng hết thọ không thể được Đạo.

無可奈何 , 總猥憒擾皆貪愛欲 , 惑 道者 眾。
Vô khả nại hà, tổng ổi hội nhiễu giai tham ái dục, hoặc đạo giả chúng.
Không thể nhẫn nại được sao, tất cả sự bỉ ổi hỗn loạn đều do tham tình ái, mê hoặc chúng sinh.

悟之者寡 , 世間怱怱 , 無可聊賴。
Ngộ chi giả quả, thế gian thông thông, vô khả liêu lại.
Hiểu được chút ít, thế gian tương thông, không thể ỷ lại.

尊卑上下貧富貴賤 , 勤苦怱務各懷殺毒。
Tôn ti thượng hạ bần phú quý tiện, cần khổ thông vụ các hoài sát độc.
Cao quý thấp kém trên dưới giầu nghèo phú quý đê tiện, cần khổ trải qua vụ việc nghi hoặc sát sinh độc hại.

惡氣窈冥為妄興事 , 違逆天地不從人心。
Ác khí yểu minh vi vọng hưng sự, vi nghịch Thiên địa bất tòng nhân tâm.
Khí ác lờ mờ được sự ngông cuồng lớn, đi ngược lại Trời đất không theo nhân tâm.

自然非惡先隨與之 , 恣聽所為待其罪極。
Tự-nhiên phi ác tiên tùy dữ chi, tứ thính sở vị đãi kỳ tội cực.
Giới tự nhiên tuỳ theo việc ác trước đây chuyển tới, thoái mái nghe có được tội cực lớn.

其壽未盡便頓奪之下入惡道。累世懟苦展轉其中。
Kỳ thọ vị tận tiện đốn đoạt chi hạ nhập Ác-đạo. Lũy Thế đỗi khổ triển chuyển kỳ trung.
Thọ mệnh chưa hết liền đốn chặt hạ xuống đưa vào Đường dữ. Nhiều đời chịu khổ luân chuyển trong đó.

數千億劫無有出期 , 痛不可言甚可哀愍。
Số thiên ức Kiếp vô hữu xuất kỳ, thống bất khả ngôn thậm khả ai mẫn.
Thời gian nghìn triệu Kiếp không có thời hạn thoát ra, khổ không thể nói thành lời thật là đau xót.

佛告彌勒 菩薩 諸天人等。
Phật cáo Di Lặc Bồ-tát chư Thiên Nhân đẳng.
Phật bảo Di Lặc Bồ-tát và các người Trời.

我今語汝世間之事 , 人用是故坐不得道。
Ngã kim ngữ Nhữ Thế gian chi sự, nhân dụng thị cố tọa bất đắc đạo.
Ta nay bảo Ngài việc của Thế gian, vì người sử dụng như thế ngồi không được Đạo.

當熟思計遠離眾惡 , 擇其善者勤而行之。
Đương thục tư kế viễn ly chúng ác, trạch kỳ thiện giả cần nhi hành chi.
Nên tư duy chín chắn tính kế xa rời các loại ác, lựa chọn nếu là người thiện cần cù thực hành.

愛欲榮華不可常保 , 皆當別離無可樂者。
Ái dục vinh hoa bất khả thường bảo, giai đương biệt ly vô khả lạc giả.
Tình ái vinh hoa không thể bảo đảm thường xuyên, đều đang biệt ly không thể vui vẻ.

曼佛在世當勤精進 , 其有至願生 安樂國 者。
Mạn Phật tại thế đương cần tinh tiến, kỳ hữu chí nguyện sinh An Lạc quốc giả.
Phật còn ở Thế gian lâu nên cần tinh tiến, nếu có chí nguyện sinh nước An Lạc.

可得智慧明達 功德 殊勝 , 勿得隨心所欲。
Khả đắc Trí tuệ minh đạt công Đức thù thắng, vật đắc tùy tâm sở dục.
Có thể được Trí tuệ thông tỏ công Đức đặc biệt, đừng có làm việc tuỳ theo tâm.

虧負經戒在人後也 , 儻有疑意不解經者。
Khuy phụ Kinh Giới tại nhân hậu dã, thảng hữu nghi ý bất giải Kinh giả.
Sau khi đã là người sống dựa vào Kinh Giới, nếu có ý nghi không hiểu nghĩa Kinh.

可具問佛當為說之 , 彌勒 菩薩 長跪白言。
Khả cụ vấn Phật đương vị thuyết chi, Di Lặc Bồ-tát trường quỵ bạch ngôn :
Có thể hỏi cụ thể Phật đang vì họ thuyết, Di Lặc Bồ-tát quỳ lâu bạch Phật rằng :

佛威神尊重 , 所說快善 , 聽 佛經 者貫心思之。
Phật uy thần tôn trọng, sở thuyết khoái thiện, thính Phật Kinh giả quán tâm tư chi.
Phật uy thần tôn quý kính trọng, lời nói ra nhanh được thiện lợi, người nghe Kinh Phật tâm tư thông suốt.

世人實爾如佛所言 , 今佛慈愍顯示 大道
Thế nhân thực nhĩ như Phật sở ngôn, kim Phật Từ mẫn hiển thị đại Đạo.
Người đời thực sự như thế như lời Phật nói, nay Phật Từ Bi xót thương hiển hiện rõ Đạo lớn.

耳目開明長得度脫 , 聞佛所說莫不歡喜。
Nhĩ mục khai minh trường đắc độ thoát, văn Phật sở thuyết mạc bất hoan hỉ,
Mắt mũi mở sáng được độ thoát lâu dài, nghe Phật thuyết Pháp mừng vui.

諸天人民蠕動之類 , 皆蒙慈恩解脫憂苦。
Chư Thiên Nhân dân nhuyễn động chi loại, giai mông Từ ân giải thoát ưu khổ.
Nhân dân cõi Trời các loại nhuyễn động, đều được Tư Bi ân huệ giải thoát buồn khổ.

佛語教誡甚深甚善。
Phật ngữ giáo giới thậm thâm thậm thiện.
Phật dạy giáo giới thâm sâu cực thiện.

智慧明見八方上下 去來今 事莫不究暢。今我眾等。
Trí tuệ minh kiến bát phương thượng hạ khứ lai kim sự mạc bất cứu sướng. Kim Ngã chúng đẳng.
Trí tuệ sáng nhìn thấy 8 phương trên dưới, việc của Quá khứ Tương lai hiện nay tường tận rõ ràng. Ngày nay chúng con,

所以蒙得度脫 , 皆佛前世求道之時謙苦所致。
sở dĩ mông đắc độ thoát, giai Phật tiền thế cầu đạo chi thời khiêm khổ sở trí.
sở dĩ được sự giải thoát, đều do Kiếp trước khiêm nhường cực khổ lúc Phật cầu Đạo mà chuyển tới.

恩德普覆福祿巍巍 , 光明徹照達 空無 極開入泥洹。
Ân đức phổ phúc phúc lộc nguy nguy, quang minh triệt chiếu đạt không vô cực khai nhập Nê- hoàn.
Ân đức bao trùm khắp phúc lộc uy nghi, quang minh sáng sạch chiếu soi suốt không gian không có giới hạn khai mở nhập Thanh tịnh Niết-bàn .

教授典攬威制消化 , 感動 十方 無窮無極。
Giáo thụ điển lãm uy chế tiêu hoá, cảm động thập phương vô cùng vô cực.
Dạy bảo truyền thụ Kinh điển chèo lái uy lực chế ngự tiêu trừ hóa độ, cảm động mười phương không có tận cùng không có giới hạn.

佛為 法王 尊超眾聖 , 普為一切天人之師。
Phật vi Pháp-vương tôn siêu chúng Thánh , phổ vi nhất thiết Thiên Nhân chi Sư .
Phật là Pháp-vương tôn quý hơn các Thánh, là Thầy của tất cả người Trời khắp nơi.

隨心所願皆令得道 , 今得值佛。
Tùy tâm sở nguyện giai linh đắc đạo, kim đắc trực Phật.
Tùy theo tâm nguyện đều giúp cho được Đạo, ngày nay được trực tiếp gặp Phật.

復聞 無量壽 聲 , 靡不歡喜 , 心得開明。
Phục văn Vô-Lượng-Thọ thanh, mị bất hoan hỉ, tâm đắc khai minh .
Lại được nghe danh hiệu Vô Lượng Thọ, rất là vui mừng, tâm được khai sáng.

佛告 彌勒 : 汝言是也 , 若有慈敬於佛者。
Phật cáo Di lặc : Nhữ ngôn thị dã, nhược hữu Từ kính ư Phật giả.
Phật bảo Di Lặc : Ngài đã nói lời đó, nếu có Từ Bi cung kính với Phật.

實為大善 , 天下久久乃復有佛。
Thực vi đại thiện, thiên hạ cửu cửu nãi phục hữu Phật.
Thực là rất thiện, thiên hạ còn lâu dài mới lại có Phật.

今我於此世作佛 , 演說經法宣布 道教 , 斷諸疑網。
Kim Ngã ư thử thế tác Phật, diễn thuyết Kinh Pháp tuyên bố đạo giáo , đoạn chư nghi võng.
Nay Ta ở Thế giới này làm Phật, diễn thuyết Kinh Pháp tuyên bố dạy Đạo, đoạn các lưới nghi.

拔愛欲之本 , 杜眾惡之源。
Bạt ái dục chi bản, đỗ chúng ác chi nguyên .
Rút bỏ ái dục là chính, dừng lại các nguồn gây ác.

遊步三界無所拘閡 , 典攬智慧眾道之要。
Du bộ Tam-giới vô sở câu ngại, điển lãm Trí tuệ chúng đạo chi yếu.
Đi bộ trong Tam giới không bị hạn chế trở ngại, duy trì mẫu mực Trí tuệ của các Đạo là chính.

執持綱維昭然分明 , 開示 五趣 度未度者。
Chấp trì cương duy chiêu nhiên phân minh, khai thị Ngũ-thú độ vi độ giả.
Nắm giữ kỷ cương phân minh rõ ràng, mở ra hiện rõ 5 Đường dữ cứu độ người chưa được độ.

決正生死泥洹之道。 彌勒 當知。
Quyết chính sinh tử Nê-hoàn chi Đạo. Di Lặc đương tri.
Quyết định bỏ sinh tử trong chính Đạo Thanh Tịnh Niết-bàn . Di lặc cần biết.

汝從無數劫來修 菩薩 行 , 欲度眾生其已久遠。
Nhữ tòng vô số Kiếp lai tu Bồ-tát hành, dục độ chúng sinh kỳ dĩ cửu viễn.
Ngài từ vô số Kiếp tới nay tu hành Đạo Bồ-tát , xa xưa lâu dài đã muốn cứu độ các chúng sinh

從汝得道至于泥洹 , 不可稱數。
Tòng nhữ đắc Đạo chí vu Nê-hoàn, bất khả xưng số.
Theo Ngài được Đạo tới được Thanh tịnh Niết-bàn , số không thể tính đếm được.

汝及 十方 諸天人民一切 四眾 , 永劫已來展轉 五道
Nhữ cập thập phương chư Thiên Nhân dân nhất thiết Tứ-chúng, vĩnh Kiếp dĩ lai triển chuyển Ngũ-đạo.
Ngài và Nhân dân cõi Trời mười phương tất cả Tứ chúng, từ Kiếp xa xưa tới nay luân chuyển trong 5 Đường : Người, A-tu-la , Địa ngục, Quỷ đói, Súc sinh.

憂畏勤苦不可具言 , 乃至今世生死不絕。
Ưu úy cần khổ bất khả cụ ngôn, nãi chí kim thế sinh tử bất tuyệt.
Lo âu sợ hãi cần lao khổ cực nói không thể hết, thậm chí đời này sinh tử chưa dứt.

與佛相值聽受經法 , 又復得聞 無量壽佛
Dữ Phật tương trực thính thụ Kinh Pháp, hựu phục đắc văn Vô Lượng Thọ Phật .
Trực tiếp cùng với Phật nghe nhận Kinh Pháp, lại cũng được nghe về Vô Lượng Thọ Phật .

快哉甚善吾助爾喜。
Khoái tai thậm thiện Ngô trợ nhĩ hỉ.
Nhanh được thiện lợi thâm sâu Ta giúp các Ngài vui vẻ.

汝今亦可自厭生死老病痛苦惡露不淨無可樂者。
Nhữ kim diệc khả tự yếm sinh tử lão bệnh thống khổ ác lộ bất tịnh vô khả lạc giả.
Ngài nay cũng có thể tự chán bỏ sinh chết già bệnh đau khổ lộ rõ việc ác, không Thanh tịnh không thể vui vẻ.

宜自決斷端身 正行 益作諸善。
Nghi tự quyết đoạn đoan thân chính hành ích tác chư thiện.
Tuỳ ý tự quyết định vứt bỏ, thân đoan nghiêm hành Chính-đạo, lợi ích làm các việc thiện.

修己潔體洗除心垢 , 言行忠信表裏相應。
Tu kỷ khiết thể tẩy trừ tâm cấu, ngôn hành trung tín biểu lý tương ứng.
Tự mình tu hành tẩy trừ thân thể được sạch sẽ tâm hết ô uế, nói làm trung tín biểu hiện tương ứng.

人能自度轉相拯濟 , 精明求願積累善本。
Nhân năng tự độ chuyển tương chửng tế, tinh minh cầu nguyện tích lũy thiện bản.
Người năng tự độ thoát chuyển thành cứu vớt, tinh tiến sáng suốt cầu nguyện tích luỹ bản thiện.

雖一世勤苦須臾之間。
Tuy nhất thế cần khổ tu du chi gian.
Tuy một đời cần lao khổ cực chỉ có trong thời gian khoảnh khắc cực ngắn.

後生 無量壽佛 國快樂無極 , 長與道德合明 , 永拔生死根本。
Hậu sinh Vô Lượng Thọ Phật quốc khoái lạc vô cực, trưởng dữ đạo đức hợp minh, vĩnh bạt sinh tử căn bản.
Sinh lần sau ở nước của Vô Lượng Thọ Phật vui vẻ vô cùng, tăng thêm Đạo đức tạo thành sáng suốt, vĩnh viễn rút bỏ gốc rễ của sinh tử.

無復貪恚愚癡苦惱之患。
Vô phục tham khuể ngu si khổ não chi hoạn.
Không trở lại tham lam thù hận ngu si khổ não và hoạn nạn.

欲壽一劫百劫千億萬劫 , 自在隨意皆可得之 , 無為自然。
Dục thọ nhất Kiếp bách Kiếp thiên ức vạn Kiếp, Tự tại tùy ý giai khả đắc chi, Vô-vi Tự-nhiên.
Muốn thọ một Kiếp trăm Kiếp nghìn triệu vạn Kiếp, tự do tuỳ theo ý đều được thành công, tự do thoải mái.

次於泥洹之道 , 汝等宜各精進求心所願。
Thứ ư Nê-hoàn chi Đạo, Nhữ đẳng nghi các tinh tiến cầu tâm sở nguyện.
Tiếp theo ở trong Đạo Thanh tịnh Niết-bàn , các Ngài tuỳ nghi tinh tiến tâm cầu nguyện.

無得 疑惑 中悔自為過咎。生彼邊地 七寶 宮殿 ,
Vô đắc nghi hoặc trung hối tự vi quá cữu. Sinh bỉ biên địa thất bảo cung điện,
Không được nghi hoặc bên trong sám hối tội cũ tự mình đã làm. Sinh ở cung điện bằng bảy báu cạnh biên giới của nước đó,

五百歲中受諸厄也。 彌勒 白佛 : 受佛重誨。
ngũ bách tuế trung thụ chư ách dã. Di Lặc bạch Phật : Thụ Phật trọng hối.
trong 500 năm cũng còn nhận các tai ách. Di Lặc bạch Phật rằng : Ghi nhận lời dạy ân trọng của Phật.

專精修學 , 如教奉行不敢有疑。
Chuyên tinh tu học, như giáo phụng hành bất cảm hữu nghi.
Chuyên tâm tinh cần tu học, như lời dạy cung kính thực hành không dám nghi hoặc .

佛告 彌勒 : 汝等能於此世 , 端心正意 不作眾惡。
Phật cáo Di lặc : Nhữ đẳng năng ư thử thế, đoan tâm chính ý bất tác chúng ác.
Phật bảo Di Lặc : Các Ngài năng ở đời này, đoan tâm chính ý không làm các việc ác.

甚為至德 , 十方 世界最無倫匹。
Thậm vi chí đức, thập phương Thế giới tối vô luân thất.
Tới được Đức thâm sâu, mười phương Thế giới không coi thường được.

所以者何 ? 諸 佛國土 天人之類。
Sở dĩ giả hà ? Chư Phật quốc thổ Thiên nhân chi loại.
Vì sao như thế ? Người Trời và các loài của các đất Phật đó.

自然作善不大為惡 , 易可開化。今我於此世間作佛。
Tự nhiên tác thiện bất đại vi ác, dị khả khai hóa. Kim Ngã ư thử thế gian tác Phật.
Tự khắc làm thiện không làm các việc đại ác, dễ có thể khai hoá. Nay Ta ở Thế giới này làm Phật.

處於 五惡 五痛 五燒 之中 , 為最劇苦。
Xử ư Ngũ-ác Ngũ-thống Ngũ-thiêu chi trung , vi tối kịch khổ.
Ở trong 5 ác 5 đau khổ 5 thiêu Kiếp, là bi kịch khổ cực nhất.

教化群生令捨 五惡 , 令去 五痛 , 令離 五燒
Giáo hóa quần sinh linh xả Ngũ-ác, linh khứ Ngũ-thống, linh ly Ngũ-thiêu.
Giáo hoá chúng sinh giúp bỏ 5 ác, giúp tống khứ 5 đau khổ, giúp ra rời 5 thiêu Kiếp.

降化其意令持 五善 獲其福德度世長壽泥洹之道。
Hàng hóa kỳ ý linh trì Ngũ-thiện hoạch kỳ phúc Đức độ thế trường thọ Nê-hoàn chi đạo.
Hàng phục giáo hoá ý họ giúp duy trì 5 thiện, thu được phúc Đức đó, độ thoát Thế gian trường thọ trong Đạo Thanh tịnh Niết-bàn .

佛言 : 何等為 五惡 ? 何等 五痛 ? 何等 五燒 ?
Phật ngôn : Hà đẳng vi Ngũ-ác ? Hà đẳng Ngũ-thống ? Hà đẳng Ngũ-thiêu ?
Phật nói rằng : Thế nào là 5 ác ? Thế nào là 5 đau khổ ? Thế nào là 5 thiêu Kiếp ?

何等消化 五惡 , 令持 五善 獲其福德度世長壽泥洹之道。
Hà đẳng tiêu hoá Ngũ-ác, linh trì Ngũ-thiện hoạch kỳ phúc Đức độ thế trường thọ Nê-hoàn chi đạo.
Làm thế nào để tiêu trừ hoá giải 5 ác, giúp duy trì 5 thiện thu hoạch được phúc Đức đó, độ thoát Thế gian trường thọ trong Đạo Thanh tịnh Niết-bàn .

其一惡者 : 諸天人民蠕動之類。
Kỳ nhất ác giả : Chư Thiên Nhân dân nhuyễn động chi loại,
Thứ nhất ác là : Nhân dân cõi Trời các loài nhuyễn động,

欲為眾惡莫不皆然 , 強者伏弱轉相剋賊。
dục vi chúng ác mạc bất giai nhiên, cường giả phục nhược chuyển tương khắc tặc.
muốn làm các việc ác đều theo Giới tự nhiên, mạnh chế phục yếu chuyển thành trộm cướp.

殘害殺戮迭相吞噬 , 不知修善惡逆無道。
Tàn hại sát lục điệt tương thôn phệ, bất tri tu thiện ác nghịch vô đạo.
Tàn hại chém giết thay nhau nhai nuốt, không biết tu thiện, ác nghịch không có Đạo.

後受殃罰自然趣向 , 神明記識犯者不赦。
Hậu thụ ương phạt Tự-nhiên thú hướng, Thần minh kí thức phạm giả bất xá.
Về sau nhận lấy tai ương trừng phạt hướng về Giới tự nhiên, ghi sâu vào Thần minh (tâm thức) người phạm vào không xoá đi được.

故有貧窮下賤乞匃孤獨聾盲瘖啞愚癡憋惡。
Cố hữu bần cùng hạ tiện khất cái cô độc lung manh âm á ngu si tệ ác.
Cho nên có nghèo khó hèn hạ xin ăn độc thân cô quả câm điếc mù loà ngu si tệ ác.

至有尫狂不逮之屬。又有尊貴豪富高才明達 ,
Chí hữu uông cuồng bất đãi chi thuộc. Hựu hữu tôn quý hào phú cao tài minh đạt,
Dẫn tới có điên cuồng không biết đối đãi thân thuộc. Lại có tôn quý giàu sang tài cao hiển đạt,

皆由宿世慈孝修善積德所致。
giai do túc thế Từ Hiếu tu thiện tích Đức sở trí.
đều do Kiếp trước Từ Bi Hiếu dưỡng tu thiện tích Đức mà có.

世有常道王法牢獄 , 不肯畏慎 , 為惡入罪受其殃罰。
Thế hữu Thường-đạo Vương-pháp lao ngục, bất khẳng úy thận, vi ác nhập tội thụ kỳ ương phạt.
Đời có Đạo thường Luật pháp lao tù, không biết sợ hãi không cẩn thận, làm ác bị tội nhận lấy tai ương trừng phạt.

求望解脫難得免出 , 世間有此目前現事。
Cầu vọng giải thoát nan đắc miễn xuất, Thế gian hữu thử mục tiền hiện sự.
Hi vọng cầu giải thoát khó được miễn thoát, Thế gian có các việc đó hiện ra trước mắt.

壽終後世尤深尤劇 , 入其幽冥轉生受身。
Thọ chung hậu thế vưu thâm vưu kịch, nhập kỳ u minh chuyển sinh thụ thân.
Sau khi chết đời sau càng thâm hiểm càng bi kịch lớn, nhập vào bóng tối chuyển sinh thân nhận lấy.

譬如王法痛苦極刑。
Thí như Vương-pháp thống khổ cực hình.
Ví như Luật pháp đau khổ cực hình.

故有自然三塗無量苦惱 , 轉貿其身 , 改形易道。
Cố hữu Tự-nhiên Tam-đồ vô lượng khổ não, chuyển mậu kỳ thân, cải hình dị Đạo.
Giới tự nhiên cũng có Địa ngục Quỷ đói Súc sinh khổ não vô lượng, chuyển đổi thân họ, thay hình thành con đường khác.

所受壽命或長或短 , 魂神精識自然趣之。
Sở thụ thọ mệnh hoặc trường hoặc đoản, hồn Thần tinh thức Tự-nhiên thú chi.
Nhận được thọ mệnh hoặc dài hoặc ngắn, Hồn thần tinh thức hướng tới Giới tự nhiên .

當獨值向相從共生更相報復無有止已。
Đương độc trực hướng tương tòng cộng sinh canh tương báo phục vô hữu chỉ dĩ.
Đang đơn độc trực tiếp cùng hướng cùng sinh tăng thêm báo phục không có dừng lại.

殃惡未盡不得相離 , 展轉其中無有出期。
Ương ác vị tận bất đắc tương ly, triển chuyển kỳ trung vô hữu xuất kỳ.
Tai ương ác nghiệp chưa hết không ly rời được, luân chuyển trong đó chưa có ngày ra khỏi.

難得解脫痛不可言。天地之間自然有是。
Nan đắc giải thoát thống bất khả ngôn. Thiên địa chi gian tự nhiên hữu thị.
Khó được giải thoát khổ không thể nói thành lời . Thế gian Trời Đất đương nhiên có việc đó.

雖不即時卒暴應至善惡之道會當歸之。
Tuy bất tức thời tốt bạo ưng chí thiện ác chi đạo hội đương quy chi.
Tuy không tức thời vội vàng mang tới, đạo thiện ác đang tụ hội quay về.

是為一大惡一痛一燒 , 勤苦如是。譬如大火焚燒人身 ,
Thị vi nhất đại ác nhất thống nhất thiêu, cần khổ như thị. Thí như đại hỏa phần thiêu nhân thân.
Đây là đại ác đau khổ thiêu Kiếp thứ nhất, cần lao khổ cực như thế. Ví như lửa lớn đốt thiêu thân người,

人能於中一心制意 , 端身 正行 獨作諸善 , 不為眾惡者。
nhân năng ư trung nhất tâm chế ý, đoan thân chính hành độc tác chư thiện, bất vi chúng ác giả.
người năng ở trong đó nhất tâm chế ngự suy nghĩ, đoan thân hành đúng chỉ làm các việc thiện, không làm các việc ác.

身獨度脫獲其福德度世上天泥洹之道。是為一大善也。
Thân độc độ thoát hoạch kỳ phúc Đức độ thế thượng Thiên Nê-hoàn chi đạo. Thị vi nhất đại thiện dã.
Chỉ độc thân độ thoát nhận được phúc Đức đó độ thoát Thế gian lên cõi Trời trong Đạo Thanh tịnh Niết-bàn . Đây cũng là thiện lớn thứ nhất.

佛言 : 其二惡者 , 世間人民父子兄弟室家夫婦 , 都無義理不順 法度
Phật ngôn : Kỳ nhị ác giả : Thế gian nhân dân phụ tử huynh đệ thất gia phu phụ, đô vô nghĩa lý bất thuận Pháp độ.
Phật nói rằng: Ác thứ hai là : Thế gian nhân dân cha con anh em gia đình chồng vợ, đều không có tình nghĩa không có luân lý không thuận theo phép tắc.

奢婬憍縱各欲快意 , 任心 自恣 更相欺惑 , 心口各異言念無實。
Xa dâm kiêu túng các dục khoái ý, nhâm tâm tự tứ canh tương khi hoặc, tâm khẩu các dị ngôn niệm vô thực.
Tham dâm phóng túng các dục vọng theo ý thích, tâm chứa đựng tự buông thả lại thêm lừa dối cuồng hoặc, nói một đàng làm một nẻo suy nghĩ không thực thà.

佞諂不忠 , 巧言諛媚 , 嫉賢謗善。
Nịnh siểm bất trung, xảo ngôn du mị, tật hiền báng thiện.
Nịnh bợ lươn lẹo không trung thực, xảo trá lừa lọc, ghen gét người hiền báng bổ thiện.

陷入怨枉 , 主上不明任用臣下 , 臣下自在機偽多端。
Hãm nhập oán uổng, chủ thượng bất minh nhâm dụng thần hạ, thần hạ tự tại cơ ngụy đa đoan.
Hãm hại làm oan uổng, Chúa thượng không sáng suốt lợi dụng hạ thần, hạ thần thoải mái cơ hội lừa dối đa đoan.

踐度能行知其形勢 , 在位不正為其所欺。
Tiễn độ năng hành tri kỳ hình thế, tại vị bất chính vị kỳ sở khi.
Biết được luật pháp hay dẫm đạp lên phép tắc, trong cương vị nhưng bất chính lừa dối.

妄損忠良不當天心 , 臣欺其君。
Vọng tổn trung lương bất đương Thiên tâm , thần khi kỳ quân.
Ngông cuồng tổn hại người trung lương không biết Đạo Trời, thần lừa dối vua của họ.

子欺其父 , 兄弟夫婦 , 中外知識 , 更相欺誑。
Tử khi kỳ phụ, huynh đệ phu phụ, trung ngoại tri thức, canh tương khi cuồng.
Con lừa dối cha mình, anh em chồng vợ, trong ngoài Tri thức, càng thêm dối trá điên cuồng.

各懷貪欲瞋恚愚癡 , 欲自厚己 , 欲貪多有。
Các hoài tham dục sân khuể ngu si, dục tự hậu kỷ, dục tham đa hữu.
Chỉ nhớ sự tham lam thù hận ngu si, hậu đãi bản thân, tham muốn có được nhiều.

尊卑上下心俱同然 , 破家亡身不顧前後 , 親屬內外坐之滅族。
Tôn ti thượng hạ tâm câu đồng nhiên, phá gia vong thân bất cố tiền hậu, thân thuộc nội ngoại tọa chi diệt tộc.
Cao quý hèn kém trên dưới tâm đều như nhau, phá gia thân mất không chiếu cố trước sau, thân thích nội ngoại ngồi đó diệt gia tộc.

或時室家知識鄉黨市里愚民野人 , 轉共從事 , 更相剝害 , 忿成怨結。
Hoặc thời thất gia Tri thức hương đảng thị lý ngu dân dã nhân, chuyển cộng tòng sự, canh tương bác hại, phẫn thành oán kết.
Hoặc khi gia đình Tri thức đồng hương phe nhóm làng xã thị trấn dân ngu người nơi khác, luân chuyển cùng nhau làm việc, càng thêm tàn hại, căn phẫn thành kết oán.

富有慳惜不肯施與 , 愛保貪重心勞身苦。
Phú hữu xan tích bất khẳng thí dữ, ái bảo tham trọng tâm lao thân khổ.
Giàu có tham tiếc không làm bố thí, yêu thích tham giữ tình ái tâm lao lực thân khổ.

如是至竟無所恃怙 , 獨來獨去無一隨者。
Như thị chí cánh vô sở thị hỗ, độc lai độc khứ vô nhất tùy giả.
Như thế tới phút cuối cùng không có được sự trợ giúp, một mình đi một mình trở lại chỉ một mình không có ai theo cùng.

善惡禍福追命所生 , 或在樂處 , 或入苦毒。
Thiện ác họa phúc truy mệnh sở sinh, hoặc tại lạc xứ, hoặc nhập khổ độc.
Thiên ác hoạ phúc theo mệnh mà sinh, hoặc tại nơi an vui, hoặc nhập vào nơi khổ ác độc.

然後乃悔當復何及。世間人民 , 心愚少智。
Nhiên hậu nãi hối đương phục hà cập. Thế gian nhân dân, tâm ngu thiểu Trí,
Đương nhiên sau đó hối hận trở tay sao kịp. Thế gian nhân dân tâm ngu Trí ít,

見善憎謗不思慕及 , 但欲為惡妄作非法。
kiến thiện tăng báng bất tư mộ cập, đãn dục vi ác vọng tác phi pháp.
thấy thiện căm gét phỉ báng không suy nghĩ ngưỡng mộ, chỉ muốn làm ác ngông cuồng làm điều phi pháp.

常懷盜心悕望他利 , 消散磨盡而復求索。
Thường hoài đạo tâm hy vọng tha lợi, tiêu tán ma tận nhi phục cầu sách.
Tâm thường nhớ tới việc trộm cướp cầu mong hi vọng lợi khác, tiêu tán hết sạch lại mong cầu tiếp.

邪心不正懼人有色 , 不豫思計事至乃悔。
Tà tâm bất chính cụ nhân hữu sắc, bất dự tư kế sự chí nãi hối.
Tâm tà bất chính sợ hãi người có thế, không tư duy trù tính lo liệu trước, việc đến mới hối hận.

今世現有王法牢獄 , 隨罪趣向受其殃罰。
Kim thế hiện hữu Vương-pháp lao ngục, tùy tội thú hướng thụ kỳ ương phạt.
Đời nay hiện có Luật pháp ngục tù, tuỳ theo tội chuyển tới nhận tai ương trừng phạt đó.

因其前世不信道德不修善本。
Nhân kỳ tiền thế bất tín đạo Đức bất tu thiện bản.
Do vì đời trước không tin Đạo đức không tu bản thiện.

今復為惡天神剋識別其名籍 , 壽終神逝下入惡道。
Kim phục vi ác Thiên thần khắc thức biệt kỳ danh tịch, thọ chung Thần thệ hạ nhập Ác-đạo.
Ngày nay lại làm ác Thiên thần khắc ghi vào sổ ghi tên đặc biệt của họ, sau khi chết Hồn thần đoạ xuống nhập vào Đường dữ.

故有自然三塗無量苦惱 , 展轉其中。
Cố hữu Tự-nhiên Tam-đồ vô lượng khổ não, triển chuyển kỳ trung.
Giới tự nhiên cũng có Ba đường dữ khổ não vô lượng, luân chuyển trong đó.

世世累劫無有出期 , 難得解脫痛不可言。
Thế thế lũy Kiếp vô hữu xuất kỳ, nan đắc giải thoát thống bất khả ngôn.
Nhiều đời nhiều Kiếp không có ngày ra, khó được giải thoát, đau khổ không nói thành lời.

是為二大惡二痛二燒 , 勤苦如是。
Thị vi nhị đại ác nhị thống nhị thiêu, cần khổ như thị.
Đây là đại ác đau khổ thiêu Kiếp thứ hai, cần khổ như thế.

譬如大火焚燒人身 , 人能於中一心制意。
Thí như đại hỏa phần thiêu nhân thân, nhân năng ư trung nhất tâm chế ý.
Ví như lửa lớn đốt thiêu thân người, người năng ở trong đó nhất tâm điều phục ý.

端身 正行 獨作諸善 , 不為眾惡者 , 身獨度脫。
Đoan thân chính hành độc tác chư thiện, bất vi chúng ác giả, thân độc độ thoát.
Thân đoan nghiêm hành đúng chỉ làm các việc thiện, không làm các việc ác, thân mình được độ thoát.

獲其福德度世上天泥洹之道。是為二大善也。
Hoạch kỳ phúc Đức độ thế thượng Thiên Nê-hoàn chi đạo. Thị vi nhị đại thiện dã.
Nhận được phúc Đức đó độ thoát Thế gian lên cõi Trời trong Đạo Thanh tịnh Niết-bàn . Đây cũng là thiện lớn thứ hai.

佛言 : 其三惡者 : 世間人民 , 相因寄生。
Phật ngôn : Kỳ tam ác giả : Thế gian nhân dân, tương nhân ký sinh,
Phật nói rằng : Đây là ác thứ ba : Thế gian nhân dân, do sinh sống dựa dẫm vào nhau,

共居天地之間 , 處年壽命無能幾何。
cộng cư Thiên địa chi gian, xử niên thọ mệnh vô năng kỷ hà.
cùng sống trong Thế gian Trời đất, thời gian thọ mệnh chẳng được bao nhiêu.

上有賢明長者尊貴豪富 ,下有貧窮廝賤尫劣愚夫。
Thượng hữu Hiền minh Trưởng-giả tôn quý hào phú, hạ hữu bần cùng tư tiện uông liệt ngu phu.
Trên có người Hiền triết Trưởng giả tôn quý giàu sang, dưới có người nghèo khó hèn kém ngông cuồng đê tiện ngu si.

中有不善之人 , 常懷邪惡 , 但念婬妷。
trung hữu bất thiện chi nhân, thường hoài tà ác, đãn niệm dâm dật,
ở giữa có người không thiện, tâm thường nhớ tà ác độc, chỉ nhớ dâm đãng,

煩滿胸中 , 愛欲交亂坐起不安。
phiền mãn hung trung, ái dục giao loạn tọa khởi bất an.
phiền não đầy trong tâm, yêu đương gian dâm loạn xạ đứng ngồi không yên.

貪意守惜但欲唐得 , 眄睞細色邪態外逸。
Tham ý thủ tích đãn dục đường đắc, miện lai tế sắc tà thái ngoại dật.
Ý tham luyến tiếc chỉ muốn được nhiều, liếc mắt đưa tình tà dâm thể hiện ra ngoài.

自妻厭憎私妄出入 , 費損家財事為非法。
Tự thê yếm tăng tư vọng xuất nhập, phí tổn gia tài sự vi phi pháp.
Tự gét bỏ vợ ích kỷ ngông cuồng khác nhau, lãng phí tổn hại gia tài làm việc phi pháp.

交結聚會興師相伐 , 攻劫殺戮強奪不道。
Giao kết tụ hội hưng sư tương phạt, công kiếp sát lục cường đoạt bất đạo.
Kết giao lập hội hưng binh cùng trừng phạt lẫn nhau, phá Kiếp tàn sát cưỡng đoạt bất đạo.

惡心在外不自修業 , 盜竊趣得欲擊成事。
Ác tâm tại ngoại bất tự tu nghiệp, đạo thiết thú đắc dục kích thành sự.
Tâm ác được ở bên ngoài không tự tu nghiệp, vui thú khi trộm cướp được kích động tạo thành sự việc.

恐勢迫脅歸給妻子 , 恣心快意極身作樂。
Khủng thế bách hiếp quy kết thê tử, tứ tâm khoái ý cực thân tác lạc.
Cậy thế khủng bố bức bách quy kết vợ con, phóng tâm tuỳ ý làm việc vui thú hết sức mình .

或於親屬不避尊卑 , 家室中外患而苦之。
Hoặc ư thân thuộc bất tị tôn ti, gia thất trung ngoại hoạn nhi khổ chi.
Hoặc với thân thuộc không né tránh tôn ti trật tự, gia đình trong ngoài hoạn nạn khổ cực.

亦復不畏王法禁令 , 如是之惡著於人鬼。
Diệc phục bất úy Vương-pháp cấm lệnh, như thị chi ác trước ư nhân quỷ.
Cũng lại không sợ Pháp luật lệnh cấm, ác như thế Quỷ giả danh làm người.

日月照見神明記識。故有自然三塗無量苦惱。展轉其中。
Nhật Nguyệt chiếu kiến Thần minh ký thức, cố hữu Tự-nhiên Tam-đồ vô lượng khổ não, triển chuyển kỳ trung.
Nhật Nguyệt chiếu soi thấy khắc sâu vào tâm thức, Giới tự nhiên cũng có Địa ngục Quỷ đói Súc sinh khổ não vô lượng, luân chuyển trong đó.

世世累劫無有出期。難得解脫痛不可言。是為 三大 惡三痛三燒。
Thế thế lũy Kiếp vô hữu xuất kỳ. Nan đắc giải thoát thống bất khả ngôn. Thị vi tam đại ác tam thống tam thiêu.
Nhiều đời nhiều Kiếp không có ngày thoát ra. Khó được giải thoát khổ không nói thành lời. Đây là đại ác đau khổ thiêu Kiếp thứ 3.

勤苦如是 , 譬如大火焚燒人身, 人能於中一心制意。
Cần khổ như thị, thí như đại hỏa phần thiêu nhân thân, nhân năng ư trung nhất tâm chế ý.
Khổ cực như thế, ví như lửa lớn đốt thiêu thân người, người năng ở trong đó nhất tâm chế ngự ý nghĩ.

端身 正行 獨作諸善 , 不為眾惡者。
Đoan thân chính hành độc tác chư thiện, bất vi chúng ác giả.
Thân đoan nghiêm thực hành đúng chỉ làm các việc thiện, không làm các việc ác.

身獨度脫獲其福德度世上天泥洹之道。是為 三大 善也。
Thân độc độ thoát hoạch kỳ phúc Đức độ Thế thượng Thiên Nê-hoàn chi đạo. Thị vi tam đại thiện dã.
Một mình được độ thoát nhận phúc Đức đó độ thoát Thế gian lên cõi Trời trong Đạo Thanh tịnh Niết-bàn . Đây cũng là thiện lớn thứ 3.

佛言 : 其四惡者 : 世間人民不念修善。
Phật ngôn : Kỳ tứ ác giả : Thế gian nhân dân bất niệm tu thiện,
Phật nói rằng : Ác thứ tư là : Thế gian nhân dân không nhớ tu thiện,

轉相教令共為眾惡 , 兩舌惡口 , 妄言綺語 ,
chuyển tương giáo linh cộng vi chúng ác, lưỡng thiệt ác khẩu, vọng ngôn kỳ ngữ.
chuyển thành dạy nhau cùng nhau làm các việc ác, nói hai lời nói ác, nói dối nói thêu dệt bịa đặt.

讒賊鬪亂憎嫉善人敗壞賢明。
Sàm tặc đấu loạn tăng tật thiện nhân bại hoại hiền minh.
Nói bừa đấu loạn ghen gét đố kỵ người thiện, phá huỷ hoại hiền tài.

於傍快喜不孝二親 , 輕慢師長 , 朋友無信 , 難得誠實。
Ư bàng khoái hỉ bất hiếu nhị thân , khinh mạn sư trưởng, bằng hữu vô tín, nan đắc thành thực.
Lấy chúng làm vui bất hiếu Cha mẹ, coi khinh Sư trưởng, bạn hữu không tin, không có thành thực.

尊貴自大謂己有道 , 橫行威勢侵易於人。
Tôn quý tự đại vị kỷ hữu đạo, hoạnh hành uy thế xâm dị ư nhân.
Tôn quý tự cao tự đại coi chỉ mình có Đạo, uy thế hoành hành ngang ngược dễ xâm phạm người.

不能自知 , 為惡無恥。
Bất năng tự tri, vi ác vô sỉ.
Không tự biết rằng, làm ác vô liêm sỉ

自以強健欲人敬難 , 不畏天地神明日月。不肯作善。
Tự dĩ cường kiện dục nhân kính nan, bất úy Thiên địa Thần minh Nhật Nguyệt, bất khẳng tác thiện.
Tự cho khoẻ mạnh muốn người kính trọng, không sợ Trời đất Thần minh Nhật Nguyệt, không cần làm thiện.

難可降化 , 自用偃蹇謂可常爾 , 無所憂懼。
Nan khả hàng hóa, tự dụng yển kiển vị khả thường nhĩ, vô sở ưu cụ.
Khó có thể thuyết phục giáo hoá, tự dùng cao ngạo coi là bình thường, không có lo âu sợ hãi.

常懷憍慢 , 如是眾惡天神記識。
Thường hoài kiêu mạn, như thị chúng ác Thiên thần ký thức.
Thường luôn kiêu mạn, các loại ác như thế Thiên thần khắc ghi vào tâm thức.

賴其前世頗作福德 , 小善扶接營護助之。
Lại kỳ tiền thế phả tác phúc Đức, tiểu thiện phù tiếp doanh hộ trợ chi.
Ỷ lại đời trước có làm phúc Đức, dựa vào ít thiện trợ giúp lớn sao được.

今世為惡福德盡滅 , 諸善神鬼各去離之。
Kim thế vi ác phúc Đức tận diệt, chư thiện Thần Quỷ các khứ ly chi.
Đời này làm ác phúc Đức diệt hết, các Thần Quỷ thiện họ bỏ ra đi.

身獨空立無所復依 , 壽命終盡諸惡所歸。
Thân độc không lập vô sở phục y , thọ mệnh chung tận chư ác sở quy.
Độc Thân trơ trọi lại không có chỗ dựa, sau khi chết đi các ác quay trở lại.

自然迫促共趣奪之 , 又其名籍記在神明 , 殃咎牽引。
Tự-nhiên bách xúc cộng thú đoạt chi, hựu kỳ danh tịch ký tại Thần minh, ương cữu khiên dẫn.
Giới tự nhiên bức xúc cùng tới tước đoạt, lại có sổ danh khắc ghi trong tâm thức, tai ương cũ dẫn dắt lôi đi.

當往趣向 , 罪報自然無從捨離。
Đương vãng thú hướng, tội báo tự nhiên vô tòng xả ly.
Đang chuyển theo hướng ác, tội báo đương nhiên không thể xa rời.

但得前行入於火鑊 , 身心摧碎精神痛苦。
Đãn đắc tiền hành nhập ư hỏa hoạch, thân tâm thôi toái tinh thần thống khổ.
Chỉ được việc đầu tiên là nhập vào vạc dầu, thâm tâm tan nát tinh thần khổ đau.

當斯之時悔復何及。天道自然不得蹉跌。
Đương tư chi thời hối phục hà cập. Thiên đạo Tự-nhiên bất đắc tha điệt.
Khi đó hối hận sao kịp. Đạo Trời Giới tự nhiên không có sai lầm.

故有自然三塗無量苦惱 , 展轉其中 , 世世累劫無有出期。
Cố hữu Tự-nhiên Tam-đồ vô lượng khổ não, triển chuyển kỳ trung, thế thế lũy Kiếp vô hữu xuất kỳ.
Giới tự nhiên cũng có Địa ngục Quỷ đói Súc sinh khổ não vô lượng, luân chuyển trong đó nhiều đời nhiều Kiếp không có ngày ra.

難得解脫痛不可言。是為 四大 惡四痛四燒 , 勤苦如是。
Nan đắc giải thoát thống bất khả ngôn. Thị vi tứ đại ác tứ thống tứ thiêu, cần khổ như thị.
Khó được giải thoát đau khổ không nói thành lời. Đây là đại ác đau khổ thiêu Kiếp thứ 4, cần khổ như thế.

譬如大火焚燒人身 , 人能於中一心制意 , 端身 正行 獨作諸善。
Thí như đại hỏa phần thiêu nhân thân, nhân năng ư trung nhất tâm chế ý, đoan thân chính hành độc tác chư thiện.
Ví như lửa lớn thiêu đốt thân người, người năng ở trong đó nhất tâm chế ngự ý, thân đoan nghiêm thực hành đúng chỉ làm các việc thiện,

不為眾惡。身獨度脫 , 獲其福德度世上天泥洹之道。是為 四大 善也。
bất vi chúng ác. Thân độc độ thoát, hoạch kỳ phúc Đức độ thế thượng Thiên Nê-hoàn chi đạo. Thị vi tứ đại thiện dã.
không làm các việc ác. Một thân được độ thoát, nhận phúc Đức đó độ thoát Thế gian lên cõi Trời trong Đạo Thanh tịnh Niết-bàn . Đây cũng là thiện lớn thứ 4.

佛言 : 其 五惡 者 : 世間人民。
Phật ngôn : Kỳ Ngũ-ác giả : Thế gian nhân dân,
Phật nói rằng : Ác thứ năm là : Thế gian nhân dân,

徙倚懈惰不肯作善治身修業 , 家室眷屬飢寒困苦。
tỉ ỷ giải nọa bất khẳng tác thiện trì thân tu nghiệp, gia thất quyến thuộc cơ hàn khốn khổ.
dựa dẫm ỷ lại lười nhác không cần làm thiện giữ thân tu nghiệp, gia đình thân thuộc đói rách khốn khổ.

父母教誨 , 瞋目怒應 , 言令不和。
Phụ mẫu giáo hối, sân mục nộ ứng, ngôn linh bất hòa.
Cha mẹ dạy bảo, giận mắt trợn ngược, nói gây bất hoà.

違戾反逆譬如怨家 , 不如無子 , 取與無節 , 眾共患厭。
Vi lệ phản nghịch thí như oan gia, bất như vô tử, thủ dữ vô tiết, chúng cộng hoạn yếm.
Chống đối phản nghịch ví như oan gia, không bằng không có con, lấy vô tội vạ, cùng chung các hoạn nạn chán gét.

負恩違義 , 無有報償之心。
Phụ ân vi nghĩa, vô hữu báo thường chi tâm .
Quên ân bội nghĩa, không có tâm báo đáp.

貧窮困乏不能復得 , 辜較縱奪放恣遊散。
Bần cùng khốn phạp bất năng phục đắc, cô giảo túng đoạt phóng tứ du tán.
Nghèo túng khốn khó không thể khắc phục được, tội lỗi rõ ràng thoải mái cướp đoạt phóng túng chơi bời.

串數唐得用自賑給 , 耽酒嗜美 , 飲食無度 , 肆心蕩逸。
Xuyến số đường đắc dụng tự chẩn cấp, đam tửu thị mỹ, ẩm thực vô độ, tứ tâm đãng dật,
Móc lối lừa gạt số mệnh dùng tự an ủi lừa gạt, đam mê rượi ăn ngon, ăn uống vô độ, phóng tâm du đãng.

魯扈抵突 , 不識人情 , 強欲抑制 , 見人有善。
Lỗ hỗ để đột, bất thức nhân tình, cường dục ức chế, kiến nhân hữu thiện,
Lỗ mãng đường đột, không hiểu tình người, mạnh nuốn áp chế, thấy người được thiện,

憎嫉惡之 , 無義無禮 , 無所顧錄。
tăng tật ác chi, vô nghĩa vô lễ, vô sở cố lục.
gen gét ác độc, vô lễ vô nghĩa, không có chiếu cố.

自用職當不可諫曉 , 六親 眷屬所資有無。
Tự dụng chức đương bất khả gián hiểu, lục thân quyến thuộc sở tư hữu vô.
Lợi dụng chức trách cho cá nhân, không thể can gián giúp cho hiểu được, lục thân quyến thuộc có không có sự giúp đỡ.

不能憂念 , 不惟父母之恩 , 不存師友之義。
Bất năng ưu niệm, bất duy phụ mẫu chi ân, bất tồn sư hữu chi nghĩa.
Không có suy nghĩ lo âu, không suy nghĩ báo ân cha mẹ, không có tình nghĩa thầy bạn.

心常念惡 , 口常言惡 , 身常行惡 , 曾無一善。
Tâm thường niệm ác, khẩu thường ngôn ác, thân thường hành ác, tằng vô nhất thiện.
Tâm thường nghĩ ác, miệng thường nói ác, thân thường làm ác, chưa từng có một việc thiện.

不信先聖諸 佛經 法 , 不信行道可得度世。
Bất tín tiên Thánh chư Phật Kinh Pháp, bất tín hành Đạo khả đắc độ thế.
Không tin tổ tiên Thần Thánh và Kinh pháp Phật, không tin hành Đạo có thể được độ thoát Thế gian.

不信死後神明更生。
Bất tín tử hậu Thần minh cánh sinh.
Không tin sau khi chết Hồn thần lại tái sinh.

不信作善得善為惡得惡 , 欲殺真人鬪亂眾僧。
Bất tín tác thiện đắc thiện vi ác đắc ác, dục sát chân nhân đấu loạn Chúng Tăng .
Không tin làm thiện được thiện, làm ác được ác, muốn giết người chân chính, đấu loạn Tăng Chúng.

欲害父母兄弟眷屬 , 六親 憎惡願令其死。
Dục hại phụ mẫu huynh đệ quyến thuộc, lục thân tăng ác nguyện linh kỳ tử.
Muốn hại cha mẹ anh em quyến thuộc, căm gét lục thân cầu cho họ chết.

如是世人心意俱然 , 愚癡曚昧 , 而自以智慧。
Như thị thế nhân tâm ý câu nhiên, ngu si mông muội, nhi tự dĩ Trí tuệ.
Tâm ý của người đời đương nhiên đều như thế, ngu si mê muội, mà tự lấy đó là Trí tuệ.

不知生所從來死所趣向 , 不仁不順 , 逆惡天地。
Bất tri sinh sở tòng lai tử sở thú hướng, bất nhân bất thuận, nghịch ác Thiên địa.
Không biết sinh từ tương lai tới, chết hướng theo về ý thích, bất nhân không thuận, ác độc đối nghịch với Trời đất.

而於其中 , 悕望僥倖 , 欲求長生 , 會當歸死。
Nhi ư kỳ trung, hi vọng nghiêu hãnh, dục cầu trường sinh, hội đương quy tử.
Mà ở trong đó, hi vọng được may mắn, muốn cầu trường sinh, đang quay về cái chết.

慈心教誨令其念善 , 開示 生死善惡之趣自然有是 , 而不信之。
Từ tâm giáo hối linh kỳ niệm thiện, khai thị sinh tử thiện ác chi thú Tự-nhiên hữu thị, nhi bất tín chi.
Từ tâm dạy bảo giúp họ suy nghĩ thiện, hiện rõ hướng đi của sinh tử thiện ác theo hướng của Giới tự nhiên là như thế, mà không tin tưởng.

苦心與語無益其人 , 心中閉塞意不開解。
Khổ tâm dữ ngữ vô ích kỳ nhân, tâm trung bế tắc ý bất khai giải.
Khổ tâm dạy bảo vô ích cho họ, bế tắc ở trong tâm ý không thông hiểu được.

大命將終悔懼交至 , 不豫修善 , 臨窮方悔。
Đại mệnh tương chung hối cụ giao chí, bất dự tu thiện, lâm cùng phương hối.
Sắp chết rất sợ hãi hối hận, không dự tính tu thiện, cùng đường sắp chết lại hối tiếc.

悔之於後將何及乎 , 天地之間 五道 分明。
Hối chi ư hậu tương hà cập hồ. Thiên địa chi gian Ngũ-đạo phân minh,
Về sau hối hận làm sao kịp được. Thế gian Trời đất 5 Đường rõ ràng,

恢廓窈冥浩浩茫茫善惡報應禍福相承。身自當之無誰代者。
khôi khuếch yểu minh hạo hạo mang mang thiện ác báo ứng họa phúc tương thừa. Thân tự đương chi vô thùy đại giả.
bao la sâu thẳm mênh mông mù mịt thiện ác báo ứng họa phúc mang theo. Thân tự đang mang theo không ai mang thay được.

數之自然應其所行 , 殃咎追命無得縱捨。
Sổ chi Tự-nhiên ưng kỳ sở hành, ương cữu truy mệnh vô đắc túng xả.
Giới tự nhiên tính sổ thi hành theo ý của họ, tai ương tội cũ đuổi theo mệnh không dễ vứt bỏ.

善人行善從樂入樂從明入明。
Thiện nhân hành thiện tòng lạc nhập lạc tòng minh nhập minh.
Người thiện làm thiện theo vui nhập vào vui theo sáng nhập vào sáng.

惡人行惡從苦入苦從冥入冥。誰能知者獨佛知耳。
Ác nhân hành ác tòng khổ nhập khổ tòng minh nhập minh. Thùy năng tri giả độc Phật tri nhĩ.
Người ác làm ác theo khổ nhập vào khổ theo u tối nhập vào u tối. Ai có thể biết việc này duy nhất chỉ có Phật biết thôi.

教語 開示 信用者少 , 生死不休惡道不絕 , 如是世人難可具盡。
Giáo ngữ khai thị tín dụng giả thiểu, sinh tử bất hưu Ác đạo bất tuyệt, như thị thế nhân nan khả cụ tận.
Dạy bảo khai mở hiện rõ mà người tin hiểu ít, sinh tử không ngừng Đường dữ không hết, người đời như thế khó có thể hết được.

故有自然三塗無量苦惱 , 展轉其中 , 世世累劫無有出期。
Cố hữu Tự-nhiên Tam-đồ vô lượng khổ não, triển chuyển kỳ trung, thế thế lũy Kiếp vô hữu xuất kỳ.
Giới tự nhiên cũng có Địa ngục Quỷ đói Súc sinh khổ não vô lượng, luân chuyển trong đó, nhiều đời nhiều Kiếp chưa có ngày ra.

難得解脫痛不可言。是為 五大五痛 五燒 , 勤苦如是。
Nan đắc giải thoát thống bất khả ngôn. Thị vi ngũ đại ác ngũ thống ngũ thiêu , cần khổ như thị.
Khó được giải thoát khổ không thể nói thành lời. Đây đại ác đau khổ thiêu Kiếp thứ năm, cần lao khổ cực như thế.

譬如大火焚燒人身 , 人能於中一心制意 , 端身 正念
Thí như đại hỏa phần thiêu nhân thân, nhân năng ư trung nhất tâm chế ý, đoan thân chính niệm.
Ví như lửa lớn đốt thiêu thân người, người năng ở trong đó nhất tâm chế ngự ý nghĩ, thân đoan nghiêm suy nghĩ đúng.

言行相副所作至誠 , 所語如語心口不轉。
Ngôn hành tương phó sở tác chí thành, sở ngữ như ngữ tâm khẩu bất chuyển.
Nói đi đôi với làm chí thành làm việc, lời lời như nhau tâm miệng không thay đổi.

獨作諸善不為眾惡者 , 身獨度脫。
Độc tác chư thiện bất vi chúng ác giả, thân độc độ thoát.
Chỉ làm các việc thiện không làm các việc ác, thân mình được độ thoát.

獲其福德度世上天泥洹之道。是為 五大 善也。
Hoạch kỳ phúc Đức độ thế thượng Thiên Nê-hoàn chi đạo. Thị vi ngũ đại thiện dã.
Thu nhận phúc Đức đó độ thoát Thế gian lên cõi Trời trong Đạo Thanh tịnh Niết-bàn . Đây cũng là thiện lớn thứ 5.

佛告 彌勒 : 吾語汝等是世 五惡 勤苦若此。
Phật cáo Di lặc : Ngô ngữ Nhữ đẳng thị thế Ngũ-ác cần khổ nhược thử.
Phật bảo Di Lặc : Ta bảo các Ngài 5 ác cần khổ ở đời là như thế đó.

五痛 五燒 展轉相生 , 但作眾惡不修善本。
Ngũ-thống Ngũ-thiêu triển chuyển tương sinh, đãn tác chúng ác bất tu thiện bản.
5 đau khổ 5 thiêu Kiếp luân chuyển cùng sinh, chỉ làm các việc ác không tu bản thiện.

皆悉自然入諸 惡趣 , 或其今世先被殃病。
Giai tất Tự-nhiên nhập chư Ác-thú, hoặc kỳ kim thế tiên bị ương bệnh.
Nhất định đều nhập vào Đường dữ của Giới tự nhiên, hoặc đời này trước tiên bị tai ương bệnh tật.

求死不得求生不得 , 罪惡所招示眾見之。
Cầu tử bất đắc cầu sinh bất đắc, tội ác sở chiêu thị chúng kiến chi.
Cầu chết không được cầu sinh cũng không được, tội ác được chuyển tới hiện ra cho mọi người thấy.

身死隨行入 三惡道 , 苦毒無量自相燋然。
Thân tử tùy hành nhập Tam-ác đạo, khổ độc vô lượng tự tương tiêu nhiên.
Chết thân tùy theo việc đã làm nhập vào Địa ngục Quỷ đói Súc sinh, khổ độc vô lượng sẽ tự đốt thiêu.

至其久後共作怨結 , 從小微起遂成大惡。
Chí kỳ cửu hậu cộng tác oán kết, tòng tiểu vi khởi toại thành đại ác.
Lâu dài về sau tạo thành oán kết, từ nhỏ bé khởi tạo thành ác lớn.

皆由貪著財色不能施慧。
Giai do tham trước tài sắc bất năng thi Tuệ.
Đều do tham lam cố chấp tài sắc không thể học hành được Trí tuệ.

癡欲所迫隨心思想 , 煩惱 結縛無有解已。
Si dục sở bách tùy tâm tư tưởng, phiền não kết phược vô hữu giải dĩ.
Ngu si bị bức bách tư tưởng theo tâm, phiền não kết buộc lấy thân không thể tháo bỏ được.

厚己諍利無所省錄 , 富貴榮華當時快意。
Hậu kỷ tránh lợi vô sở tỉnh lục, phú quý vinh hoa đương thời khoái ý.
Tự mình tranh lợi nhiều không biết giảm bớt, đương thời phú quý vinh hoa như ý.

不能忍辱不務修善 , 威勢無幾隨以磨滅。
Bất năng nhẫn nhục bất vụ tu thiện, uy thế vô kỷ tùy dĩ ma diệt.
Không năng nhẫn nhục không tính làm thiện, uy thế không lâu dần dần diệt hết.

身生勞苦久後大劇 , 天道施張自然糾舉。
Thân sinh lao khổ cửu hậu đại kịch, Thiên đạo thi trương Tự-nhiên củ cử.
Thân sinh lao khổ về sau thành bi kịch lớn, đạo Trời mở ra Giới tự nhiên thu lại tất cả.

綱紀羅網上下相應 , 煢煢忪忪當入其中。
Cương kỷ la võng thượng hạ tương ứng, quỳnh quỳnh chung chung đương nhập kỳ trung。
Rường lưới võng trên dưới tương ứng, lo lắng khiếp sợ đang nhập vào trong đó.

古今有是痛哉可傷。
Cổ kim hữu thị thống tai khả thương.
Từ xưa tới nay có sự đau khổ thương tâm như thế.

佛語 彌勒 : 世間如是佛皆哀之。
Phật ngữ Di lặc : Thế gian như thị Phật gia i ai chi.
Phật bảo Di Lặc : Thế gian như thế Phật đều thương xót.

威神力 摧滅眾惡。悉令就善棄捐所思。
uy thần lực tồi diệt chúng ác, tất linh tựu thiện khí quyên sở tư.
Dùng uy thần lực diệt trừ các ác, giúp tất cả thành công thiện, tư tưởng được cởi bỏ.

奉持經戒受行 道法 無所違失。終得度世泥洹之道。
Phụng trì Kinh giới thụ hành đạo Pháp vô sở vi thất, chung đắc độ thế Nê-hoàn chi đạo.
Phụng trì Kinh Giới nhận hành Đạo Pháp không được ngược lại quên mất, cuối cùng được độ thoát Thế gian trong Đạo Thanh tịnh Niết-bàn .

佛言 : 汝今諸天人民及後世人。
Phật ngôn : Nhữ kim chư Thiên Nhân dân cập hậu thế nhân。
Phật nói rằng : Nay Ngài và nhân dân cõi Trời cùng với người đời sau.

佛經 語當熟思之 , 能於其中端心 正行
Đắc Phật Kinh ngữ đương thục tư chi, năng ư kỳ trung đoan tâm chính hành.
Được Kinh lời của Phật nên thành thực tư duy, siêng năng với Kinh này tâm đoan nghiêm thực hành đúng.

主上為善率化其下 , 轉相勅令各自端守。
Chủ thượng vi thiện suất hóa kỳ hạ, chuyển tương sắc lệnh các tự đoan thủ.
Giáo chủ trước làm thiện, giáo hoá dẫn dắt xuống dưới, chuyển thành sắc lệnh giúp họ tự giữ đoan nghiêm.

尊聖敬善仁慈博愛 , 佛語 教誨無敢虧負。
Tôn Thánh kính thiện nhân từ bác ái, Phật ngữ giáo hối vô cảm khuy phụ.
Thánh tôn kính thiện nhân từ bác ái, lời Phật dạy bảo không dám phụ ân quên mất.

當求度世拔斷生死眾惡之本。
Đương cầu độ thế bạt đoạn sinh tử chúng ác chi bản.
Nên cầu độ thoát Thế gian rút bỏ đoạn trừ sinh tử các loại ác là căn bản.

永離三塗無量憂畏苦痛之道。汝等於是廣殖德本。
Vĩnh ly Tam-đồ vô lượng ưu úy khổ thống chi đạo. Nhữ đẳng ư thị quảng thực đức bản.
Vinh viễn rời bỏ Địa ngục Quỷ đói Súc sinh ưu phiền sợ hãi khổ đau vô lượng. Các Ngài ở trong đó trồng bản thiện rộng khắp.

布恩施慧勿犯 道禁 , 忍辱精進一心智慧 , 轉相教化。
Bố ân thí tuệ vật phạm Đạo cấm, nhẫn nhục tinh tiến nhất tâm trí tuệ, chuyển tương giáo hóa.
Ban ân phát Trí tuệ không phạm cấm Đạo, Nhẫn nhục Tinh tiến nhất tâm Trí tuệ, chuyển dạy giáo hoá lẫn nhau.

為德立善正心正意。齋戒清淨一日一夜。
Vị Đức lập thiện chính tâm chính ý, Trai giới Thanh tịnh nhất nhật nhất dạ.
Vì Đức thực hành thiện chính tâm chính ý, Trai giới Thanh tịnh một này một đêm.

勝在 無量壽 國為善百歲 , 所以者何。
Thắng tại Vô LượngThọ quốc vi thiện bách tuế, sở dĩ giả hà ?
Hơn ở nước của Vô Lượng Thọ Phật làm thiện 100 năm, vì sao như thế ?

佛國土 無為自然。皆積眾善無毛髮之惡。
Bỉ Phật quốc thổ Vô-vi Tự -nhiên, giai tích chúng thiện vô mao phát chi ác.
Đất nước Phật đó Tự do thoải mái, đều tích chứa các thiện không có bất kỳ ác nào dù chỉ nhỏ như sợi lông.

於此修善十日十夜 , 勝於他方諸 佛國 中為善千歲 , 所以者何 ?
Ư thử tu thiện thập nhật thập dạ, thắng ư tha phương chư Phật quốc trung vi thiện thiên tuế, sở dĩ giả hà ?
Ở nơi đó tu thiện mười ngày mười đêm, hơn ở đất nước Phật khác làm thiện nghìn năm, vì sao như thế ?

他方 佛國 為善者多為惡者少。
Tha phương Phật quốc vi thiện giả đa vi ác giả thiểu.
Đất nước Phật khác người làm thiện nhiều người làm ác ít.

福德自然無造惡之地 , 唯此間多惡無有自然。勤苦求欲轉相欺殆。
Phúc đức Tự-nhiên vô tạo ác chi địa, duy thử gian đa ác vô hữu Tự-nhiên. Cần khổ cầu dục chuyển tương khi đãi.
Phúc Đức của Giới tự nhiên không tạo thành nơi ác, duy chỉ có nơi ác không có Giới tự nhiên. Cần khổ cầu mong chuyển thành lừa dối nguy hiểm.

心勞形困飲苦食毒 , 如是怱務未甞寧息。
Tâm lao hình khốn ẩm khổ thực độc, như thị thông vụ vị thường ninh tức.
Tâm lao lực hình thể khốn khó ăn uống khổ độc, những việc như thế chắc chắn chưa ngừng nghỉ.

吾哀汝等天人之類 , 苦心誨喻教令修善。
Ngô ai Nhữ đẳng Thiên Nhân chi loại, khổ tâm hối dụ giáo linh tu thiện.
Ta thương xót Ngài Trời người các loại, khổ tâm dạy bảo dẫn dắt giúp tu thiện.

隨器開導授與經法 , 莫不承用。
Tùy khí khai đạo thụ dữ Kinh Pháp, mạc bất thừa dụng.
Tuỳ theo tâm tính khai mở dẫn dắt truyền thụ Kinh Pháp, sử dụng tuỳ thích.

在意所願皆令得道。佛所遊履 , 國邑丘聚 , 靡不蒙化。
Tại ý sở nguyện giai linh đắc đạo. Phật sở du lý, quốc ấp khưu tụ, mị bất mông hóa.
Tuỳ theo nguyện vọng đều giúp được Đạo. Nơi Phật đi qua nước thành làng xóm, đều nhận được sự giáo hoá.

天下和順 , 日月清明 , 風雨以時 , 災厲不起。
Thiên hạ hòa thuận, Nhật Nguyệt thanh minh, phong vũ dĩ thời, tai lệ bất khởi.
Trời đất hoà thuân, Nhật Nguyệt sáng tỏ, mưa gió đúng thời, tai nạn thít chặt không phát khởi.

國豐民安 , 兵戈無用 , 崇德興仁 , 務修禮讓。
Quốc phong dân an, binh qua vô dụng, sùng đức hưng nhân, vụ tu lễ nhượng.
Nước giàu dân yên, binh đao không sử dụng, tôn sùng Đức hạnh nhân từ lớn mạnh, cần tu lễ nghĩa nhường nhịn.

佛言 : 我哀愍汝等諸天人民 , 甚於父母念子。
Phật ngôn : Ngã ai mẫn Nhữ đẳng chư Thiên Nhân dân, thậm ư phụ mẫu niệm tử.
Phật nói rằng : Ta xót thương Ngài và nhân dân cõi Trời, thâm sâu như cha mẹ nhớ con.

今吾於此世作佛 , 降化 五惡 消除 五痛 , 絕滅 五燒 , 以善攻惡。
Kim Ngô ư thử thế tác Phật, hàng hóa ngũ ác tiêu trừ ngũ thống , tuyệt diệt ngũ thiêu , dĩ thiện công ác.
Nay Ta ở Thế giới này làm Phật, hàng phục hoá giải 5 ác tiêu trừ 5 đau khổ, diệt hết 5 thiêu Kiếp, dùng thiện tấn công ác.

拔生死之苦 , 令獲五德昇無為之安。吾去世後經道漸滅。
Bạt sinh tử chi khổ, linh hoạch ngũ Đức thăng Vô-vi chi an. Ngô khứ thế hậu Kinh đạo tiệm diệt.
Rút bỏ khổ đau sinh tử, giúp được 5 Đức thăng lên Đạo Vô-vi an lạc. Ta ra đi đời sau Kinh Đạo diệt dần.

人民諂偽復為眾惡 , 五燒 五痛 還如前法。
Nhân dân siểm ngụy phục vi chúng ác, ngũ thiêu ngũ thống hoàn như tiền Pháp.
Nhân dân gian trá lừa đảo quay lại làm các việc ác, 5 đau khổ 5 thiêu Kiếp hoàn toàn giồng như trước khi chưa có Pháp.

久後轉劇不可悉說。我但為汝略言之耳。
Cửu hậu chuyển kịch bất khả tất thuyết. Ngã đãn vị Nhữ lược ngôn chi nhĩ.
Lâu dài về sau chuyển thành bi kịch không thể nói hết được. Ta chỉ sơ lược nói cho Ngài nghe thôi.

佛告 彌勒 : 汝等各善思之。
Phật cáo Di lặc : Nhữ đẳng các thiện tư chi.
Phật bảo Di Lặc : Các Ngài cần tư duy Trí tuệ.

轉相教誡如 佛經 法無得犯也。於是彌勒 菩薩 合掌白言。
Chuyển tương giáo giới như Phật Kinh Pháp vô đắc phạm dã . Ư thị Di Lặc Bồ-tát hợp chưởng bạch ngôn :
Thay nhau dạy Giới như trong Kinh Pháp của Phật không được sai phạm. Lúc đó Di Lặc Bồ-tát chắp tay bạch Phật rằng :

佛所說甚善世人實爾。 如來 普慈哀愍 ,
Phật sở thuyết thậm thiện thế nhân thực nhĩ. Như Lai phổ từ ai mẫn,
Lời Phật nói rất thực người đời thực như vậy. Như Lai Từ bi xót thương tất cả,

悉令度脫 , 受佛重誨不敢違失。
tất linh độ thoát, thụ Phật trọng hối bất cảm vi thất.
giúp cho tất cả được độ thoát, nhận lời dạy ân trọng của Phật không dám vi phạm quên mất.

佛告 阿難 。汝起更整衣服合掌恭敬。
Phật cáo A-nan : Nhữ khởi cánh chỉnh y phục hợp chưởng cung kính,
Phật bảo A-nan : Ngài đứng lên chỉnh lại quần áo chắp tay cung kính,

無量壽佛 , 十方 國土 諸佛 如來
lễ Vô Lượng Thọ Phật , thập phương quốc độ chư Phật Như Lai
lễ bái Vô Lượng Thọ Phật , các Phật Như Lai của mười phương đất nước.

常共稱揚讚歎彼佛 無著 無閡。於是 阿難 起整衣服。
Thường cộng xưng dương tán thán bỉ Phật vô trước vô ngại. Ư thị A-nan khởi chỉnh y phục,
Thường cùng nhau xưng tên tán dương ca ngợi Phật đó không cố chấp không có trở ngại. Khi đó A-nan đứng lên chỉnh lại quần áo,

正身西向 , 恭敬合掌 五體投地 , 禮 無量壽佛 , 白言 世尊 :
Chính thân Tây hướng, cung kính hợp chưởng ngũ thể đầu địa , lễ Vô Lượng Thọ Phật , bạch ngôn Thế Tôn .
Mặt quay về hướng chính Tây cung kính chắp tay phục đất hành lễ, lễ bái Vô Lượng Thọ Phật , bạch Thế Tôn rằng :

願見彼佛 安樂國 土及諸 菩薩 聲聞 大眾。說是語已 , 即時 無量壽佛 , 放大光明。
Nguyện kiến bỉ Phật An Lạc quốc thổ cập chư Bồ-tát Thanh văn Đại chúng. Thuyết thị ngữ dĩ, tức thời Vô Lượng Thọ Phật , phóng đại quang minh,
Nguyện mong thấy được đất nước An Lạc và các Bồ-tát Thanh-văn Đại chúng của Phật đó. Nói xong lời đó, tức thời Vô Lượng Thọ Phật , phóng quang minh lớn,

普照一切諸 佛世界 。金剛圍山 , 須彌山 王。
phổ chiếu nhất thiết chư Phật Thế giới. Kim cương Vi sơn , Tu Di Sơn Vương,
chiếu rộng khắp tất cả Thế giới các Phật. Núi Kim cương núi Thiết vi, núi Tu di là núi số 1.

大小諸山 , 一切所有皆同一色。
Đại tiểu chư sơn, nhất thiết sở hữu giai đồng nhất sắc.
Các núi lớn nhỏ, tất cả đều cùng một màu sắc.

譬如劫水彌滿世界 , 其中萬物沈沒不現。
Thí như Kiếp thủy di mãn Thế giới, kỳ trung vạn vật trầm một bất hiện.
Ví như Đại hồng thuỷ bao phủ đầy tràn Thế giới, ở trong đó vạn vật trầm luân chìm nổi không hiện.

滉瀁浩汗唯見大水 , 彼 佛光 明亦復如是。
Hoảng dưỡng hạo hãn duy kiến Đại thủy, bỉ Phật quang minh diệc phục như thị 。
Chỉ nhìn thấy nước lớn mênh mông tràn đầy, quang minh của Phật đó cũng giống như thế.

聲聞 菩薩 一切光明皆悉隱蔽 , 唯見 佛光 明耀顯赫。
Thanh-văn Bồ-tát nhất thiết quang minh giai tất ẩn tế, duy kiến Phật quang minh diệu hiển hách.
Quang minh của tất cả Bồ-tát Thanh-văn đều bị chìm ẩn, duy chỉ thấy được quanh minh vi diệu hiển hách của Phật đó.

爾時 阿難 即見 無量壽佛 , 威德巍巍如 須彌山 王。
Nhĩ thời A-nan tức kiến Vô Lượng Thọ Phật , uy đức nguy nguy như Tu Di Sơn Vương.
Khi đó A-nan tức thì nhìn thấy Vô Lượng Thọ Phật , uy đức cao lớn lộng lẫy như núi Tu Di là núi số 1.

高出一切諸世界上 , 相好光明靡不照耀。
Cao xuất nhất thiết chư thế giới thượng, Tướng-Hảo quang minh mị bất chiếu diệu.
Cao vượt lên trên tất cả các Thế giới, 32 tướng 80 hình dáng đẹp quang minh chiếu khắp mọi nơi.

此會 四眾 一時悉見 , 彼見此土亦復如是。
Thử hội Tứ Chúng nhất thời tất kiến, bỉ kiến thử độ diệc phục như thị.
Tứ chúng trong hội này cùng lúc tất cả nhìn thấy, họ nhìn thấy đất đó cũng lại như thế.

爾時佛告 阿難 及慈氏 菩薩 : 汝見彼國。
Nhĩ thời Phật cáo A-nan cập Từ Thị Bồ-tát : Nhữ kiến bỉ quốc,
Khi đó Phật bảo A-nan và Từ Thị Bồ-tát : Ngài thấy đất đó,

從地已上至 淨居天 , 其中所有微妙嚴淨。
tòng địa dĩ thượng chí Tịnh-cư Thiên, kỳ trung sở hữu vi diệu nghiêm tịnh.
từ đất lên tới cõi Trời Tịnh-cư, trong đó có được sự vi diệu nghiêm tịnh.

自然之物為悉見不 ? 阿難 對曰 : 唯然已見。
Tự -nhiên chi vật vi tất kiến phủ ? A-nan đối viết : Duy nhiên dĩ kiến.
Nhìn thấy được tất cả các vật của Giới tự nhiên phải không ? A-nan đáp lại : Tất nhiên đã nhìn thấy.

汝寧復聞 無量壽佛 大音宣布一切世界化眾生不 ?
Nhữ ninh phục văn Vô Lượng Thọ Phật đại âm tuyên bố nhất thiết Thế giới hóa chúng sinh phủ ?
Ngài chắc chắn nghe được âm thanh lớn của Vô Lượng Thọ Phật tuyên bố giáo hoá chúng sinh tất cả Thế giới phải không ?

阿難對曰 : 唯然已聞 , 彼國人民。
A-nan đối viết : Duy nhiên dĩ văn, bỉ quốc nhân dân,
A-nan đáp rằng : Tất nhiên đã nghe thấy, nhân dân nước đó,

乘百千 由旬 七寶 宮殿無所障閡。
thừa bách thiên Do-tuần thất bảo cung điện vô sở chướng ngại.
ngồi trong cung điện bằng bảy báu cao 2 triệu km không có sự trở ngại.

遍至 十方 供養諸佛。汝復見不 ? 對曰 : 已見。
biến chí thập phương cúng dường chư Phật. Nhữ phục kiến phủ ? đối viết : Dĩ kiến.
biến ra khắp mười phương cúng dưỡng các Phật. Ngài lại cũng nhìn thấy chứ ? Đáp lại rằng : Đã nhìn thấy.

彼國人民有胎生者 ? 汝復見不 ? 對曰 : 已見。
Bỉ quốc nhân dân hữu thai sinh giả ? Nhữ phục kiến phủ ? Đối viết : Dĩ kiến.
Nhân dân nước đó có sinh từ bào thai phải không ? Ngài lại nhìn thấy chứ ? Đáp lại rằng : Đã nhìn thấy.

其胎生者所處宮殿 , 或百 由旬五百由旬
Kỳ thai sinh giả sở xử cung điện, hoặc bách do-tuần hoặc ngũ bách do tuần .
Nếu người sinh từ bào thai được ở trong cung điện hoặc cao 2 nghìn km hoặc cao 10 nghìn km.

各於其中受諸快樂。如 忉利天 亦皆自然。
Các ư kỳ trung thụ chư khoái lạc, như Đao Lợi Thiên diệc giai Tự-nhiên.
Họ ở trong đó nhận mọi vui vẻ, giống như cõi Trời Đao Lợi cũng đều là Giới tự nhiên.

爾時慈氏 菩薩 白佛言 : 世尊 ! 何因何緣。
Nhĩ thời Từ thị Bồ-tát bạch Phật ngôn : Thế Tôn ! Hà nhân hà duyên,
Khi đó Từ Thị Bồ-tát bạch Phật rằng : Thế Tôn ! Nhân gì duyên gì,

彼國人民胎生化生 ? 佛告慈氏 : 若有眾生。
bỉ quốc nhân dân thai sinh hóa sinh ? Phật cáo Từ Thị : Nhược hữu chúng sinh,
nhân dân nước đó được sinh từ bào thai, sinh do biến hoá. Phật bảo Từ Thị : Nếu có chúng sinh,

疑惑 心修諸 功德 , 願生彼國 , 不了佛智
nghi hoặc tâm tu chư công Đức, nguyện sinh bỉ quốc, bất liễu Phật trí ,
dùng tâm nghi hoặc tu các công Đức, nguyện sinh nước đó, không hiểu rõ Trí Phật,

不思議智 , 不可稱智 , 大乘 廣智 , 無等無倫最上勝智。
bất tư nghị Trí, bất khả xưng Trí, Đại-Thừa quảng Trí, vô đẳng vô luân tối thượng thắng Trí.
Trí không thể suy bàn, Trí không thể nói được, Trí rộng lớn Đại-thừa, Trí Chính đẳng Giác cao nhất.

於此諸智 疑惑 不信。
Ư thử chư Trí nghi hoặc bất tín.
Với các loại Trí đó nghi hoặc không tin.

然猶信罪福修習善本 , 願生其國 , 此諸眾生生彼宮殿。
Nhiên do tín tội phúc tu tập thiện bản, nguyện sinh kỳ quốc, thử chư chúng sinh sinh bỉ cung điện.
Đương nhiên do phúc tội của niềm tin tu tập bản thiện, nguyện sinh nước đó, các chúng sinh đó sinh cung điện này.

壽五百歲 , 常不 見佛 不聞經法。
Thọ ngũ bách tuế, thường bất kiến Phật bất văn Kinh pháp,
Thọ 500 năm, thường không gặp Phật không nghe Kinh Pháp,

不見 菩薩 聲聞 聖眾 , 是故於彼 國土 , 謂之胎生。若有眾生 ,
bất kiến Bồ-tát Thanh-văn Thánh chúng, thị cố ư bỉ quốc thổ, vị chi thai sinh. Nhược hữu chúng sinh.
không gặp Bồ-tát Thanh văn các Thánh, vì thế ở đất nước đó, gọi là sinh từ bào thai. Nếu có chúng sinh,

明信佛智乃至勝智 , 作諸 功德 信心迴向。
minh tín Phật Trí nãi chí thắng trí, tác chư công đức tín tâm hồi hướng.
tin tưởng sáng tỏ Trí Phật thậm chí được các Trí Phật, làm các công Đức tâm tin tưởng hồi hướng.

此諸眾生於 七寶 華中自然化生加趺而坐。
Thử chư chúng sinh ư thất bảo hoa trung tự nhiên hóa sinh gia phu nhi tọa。
Các chúng sinh đó ở trong hoa Sen bảy báu, đương nhiên sinh do biến hoá ngồi thế kết già,

須臾之頃 , 身相光明智慧 功德
tu du chi khoảnh, thân tướng quang minh trí tuệ công đức ,
chỉ trong giây phút, thân tướng quang minh Trí tuệ công Đức,

如諸 菩薩 具足成就。復次慈氏。他方諸大菩薩。
như chư Bồ-tát cụ túc thành tựu. Phục thứ Từ Thị ! Tha phương chư đại Bồ-tát,
giống như các Bồ-tát đã thành công đầy đủ. Lại nữa Từ Thị ! Các Đại Bồ-tát của phương khác,

發心欲見 無量壽佛
phát tâm dục kiến Vô Lượng Thọ Phật ,
phát tâm muốn thấy Vô Lượng Thọ Phật ,

恭敬供養及諸 菩薩 聲聞 之眾 , 彼菩薩等 , 命終得生 無量壽 國。
cung kính cúng dưỡng cập chư Bồ-tát Thanh-văn chi chúng, bỉ Bồ-tát đẳng, mệnh chung đắc sinh Vô Lượng Thọ quốc.
cung kính cúng dưỡng cùng với các chúng Bồ-tát Thanh-văn , các Bồ-tát đó, sau khi mất được sinh vào nước Vô Lượng Thọ Phật .

七寶 華中自然化生。 彌勒 當知。
Ư thất bảo hoa trung tự nhiên hóa sinh. Di lặc đương tri !
Ở trong hoa Sen bảy báu tất nhiên sinh do biến hoá. Di Lặc nên biết !

彼化生者智慧勝故 , 其胎生者皆無智慧。
Bỉ hóa sinh giả Trí tuệ thắng cố, kỳ thai sinh giả giai vô Trí tuệ,
Người được hoá sinh đó đã có Trí tuệ, còn người sinh từ bào thai đều không có Trí tuệ,

於五百歲中 , 常不 見佛 不聞經法。
ư ngũ bách tuế trung, thường bất kiến Phật bất văn Kinh pháp,
trong 500 năm, thường không gặp Phật không nghe Kinh Pháp,

不見 菩薩聲聞 眾。無由供養於佛 , 不知菩薩法式 ,
bất kiến Bồ-tát chư Thanh-văn chúng. Vô do cúng dưỡng ư Phật, bất tri Bồ-tát pháp thức.
không gặp chúng Bồ-tát Thanh-văn . Do không cúng dưỡng với Phật, không biết Pháp nghi thức của Bồ-tát,

不得修習 功德 , 當知此人 , 宿世之時 , 無有智慧 疑惑 所致。
bất đắc tu tập công đức , đương tri thử nhân, túc thế chi thời, vô hữu trí tuệ nghi hoặc sở trí.
không được tu tập công Đức, nên biết người đó, thời gian Kiếp trước, không có Trí tuệ do nghi hoặc mà chuyển thành.

佛告 彌勒 : 譬如 轉輪聖王 別有宮室 七寶 莊飾 , 張設床帳懸諸繒旛。
Phật cáo Di Lặc : Thí như Chuyển luân Thánh-vương biệt hữu cung thất thất bảo trang sức, trương thiết sàng trướng huyền chư tăng phan.
Phật bảo Di Lặc : Ví như Chuyển luân Thánh vương có cung thất đặc biệt trang sức bằng bảy báu, xây dựng giường trướng lớn treo cái tăng cái tràng phan.

若有諸小王子 , 得罪於王輒內彼宮中 , 繫以金鎖。
Nhược hữu chư Tiểu Vương-tử, đắc tội ư Vương triếp nội bỉ cung trung, hệ dĩ kim tỏa.
Nếu có các Tiểu vương tử, có lỗi với Vương liền ở trong nội cung đó, dẫn tới bị nhốt.

供給飲食衣服床蓐華香伎樂 , 如轉 輪王 無所乏少。
Cung cấp ẩm thực y phục sàng nhục hoa hương kĩ nhạc, như Chuyển luân Vương vô sở phạp thiếu.
Cung cấp đồ ăn uống quần áo giường đệm hoa hương kĩ nhạc, giống như Chuyển luân vương không thiếu.

於意云何 ? 此諸王子寧樂彼處不 ? 對曰 : 不也 , 但種種方便。
Ư ý vân hà ? Thử chư Vương tử ninh lạc bỉ xứ phủ ? Đối viết : Bất dã, đãn chủng chủng Phương tiện.
Ý là sao ? Các Vương tử đó chắc là vui vẻ ở nơi đó phải không ? Đáp rằng : Không đâu. Chỉ là các loại Phương tiện.

求諸 大力 欲自勉出。佛告 彌勒 : 此諸眾生亦復如是。
cầu chư đại lực dục tự miễn xuất. Phật cáo Di lặc : Thử chư chúng sinh diệc phục như thị.
cầu các lực lớn muốn tự thoát ra. Phật bảo Di Lặc : Các chúng sinh đó cũng lại như thế.

疑惑 佛智生彼宮殿 , 無有形罰乃至一念惡事。
nghi hoặc Phật Trí sinh bỉ cung điện, vô hữu hình phạt nãi chí nhất niệm ác sự.
Dùng sự nghi hoặc Trí Phật sinh trong cung điện đó, không có hình phạt thậm chí một suy nghĩ ác cũng không có.

但於五百歲中不見 三寶 , 不得供養修諸善本 , 以此為苦。
Đãn ư ngũ bách tuế trung bất kiến Tam-Bảo, bất đắc cúng dưỡng tu chư thiện bản, dĩ thử vi khổ.
Chỉ với 500 năm không gặp Phật Pháp Tăng, không được cúng dưỡng tu các bản thiện, lấy đó là khổ.

雖有餘樂猶不樂彼處。若此眾生識其本罪 ,
Tuy hữu dư lạc do bất lạc bỉ xứ. Nhược thử chúng sinh thức kỳ bản tội.
Tuy có thừa sự vui vẻ nhưng do không thích nơi này. Nếu các chúng sinh đó nhận thức được tội cũ của mình.

深自悔責求離彼處 , 即得如意 , 往詣 無量壽佛 所。
thâm tự hối trách cầu ly bỉ xứ, tức đắc như ý, vãng nghệ Vô Lượng Thọ Phật sở.
thâm tâm tự sám hối cầu ra khỏi nơi đó, tức thì được như ý, vãng tới nơi ở của Vô Lượng Thọ Phật .

恭敬供養 , 亦得遍至無量無數諸 如來 所 , 修諸 功德
Cung kính cúng dưỡng, diệc đắc biến chí vô lượng vô số chư Như Lai sở, tu chư công Đức.
Cung kính cúng dưỡng, cũng được biến ra tới khắp nơi ở của vô số vô lượng các Như Lai , tu các công Đức.

彌勒當知 ! 其有 菩薩疑惑 者 , 為失大利是故應當明信諸佛無上智慧。
Di Lặc đương tri ! Kỳ hữu Bồ-tát sinh nghi hoặc giả, vi thất đại lợi thị cố ứng đương minh tín chư Phật Vô-thượng Trí tuệ.
Di Lặc nên biết ! Nếu có Bồ-tát sinh nghi hoặc , bị mất lợi lớn vì thế cần sáng suốt tin tưởng vào Trí tuệ Bình đẳng của các Phật.

彌勒 菩薩 白佛言 : 世尊 ! 於此世界有幾所不退菩薩。生彼 佛國
Di Lặc Bồ-tát bạch Phật ngôn : Thế Tôn ! Ư thử Thế giới hữu kỷ sở Bất-thoái Bồ-tát, sinh bỉ Phật quốc .
Di Lặc Bồ-tát bạch Phật rằng : Thế Tôn ! Ở Thế giới này có bao nhiêu Bất-thoái Bồ-tát, sinh vào đất Phật đó.

佛告 彌勒 : 於此世界有六十七億不退 菩薩 , 往生 彼國。
Phật cáo Di Lặc : Ư thử Thế giới hữu lục thập thất ức Bất-thoái Bồ-tát , vãng sinh bỉ quốc.
Phật bảo Di Lặc : Ở Thế giới này có 67 triệu Bất-thoái Bồ-tát , vãng sinh nước đó.

一一 菩薩 , 已曾供養無數諸佛 , 次如 彌勒 者也。
Nhất nhất Bồ-tát , dĩ tằng cúng dưỡng vô số chư Phật, thứ như Di Lặc giả dã.
Mỗi một Bồ-tát , đã từng cúng dưỡng vô số chư Phật, kế sau cũng như Di Lặc vậy.

諸小行 菩薩 及修習少 功德 者, 不可稱計 , 皆當 往生
Chư tiểu hành Bồ-tát cập tu tập thiểu công Đức giả, bất khả xưng kế, giai đương vãng sinh.
Các người tu hành đạo Bồ-tát nhỏ và tu tập công Đức ít, không thể kể tính đếm được, đều đang vãng sinh.

佛告 彌勒 : 不但我剎諸 菩薩往生 彼國。他方 佛土 亦復如是。
Phật cáo Di Lặc : Bất đãn Ngã sát chư Bồ-tát đẳng vãng sinh bỉ quốc. Tha phương Phật thổ diệc phục như thị.
Phật bảo Di Lặc : Không chỉ các Bồ-tát của nước Ta vãng sinh nước đó. Các đất Phật khác cũng lại như thế.

其第一佛名曰遠照 , 彼有百八十億 菩薩 , 皆當 往生
Kỳ đệ nhất Phật danh viết Viễn Chiếu, bỉ hữu bách bát thập ức Bồ-tát , giai đương vãng sinh.
Phật thứ nhất danh hiệu Viễn Chiếu, nơi đó có 180 triệu Bồ-tát , đều đang vãng sinh.

其第二佛名曰寶藏 , 彼有九十億 菩薩 , 皆當 往生
Kỳ đệ nhị Phật danh viết Bảo Tạng, bỉ hữu cửu thập ức Bồ-tát , giai đương vãng sinh.
Phật thứ hai danh hiệu Bảo Tạng, nơi đó có 90 triệu Bồ-tát , đều đang vãng sinh.

其第三佛名曰無量音 , 彼有二百二十億 菩薩 , 皆當 往生
Kỳ đệ tam Phật danh viết Vô Lượng Âm, bỉ hữu nhị bách nhị thập ức Bồ-tát , giai đương vãng sinh.
Phật thứ ba danh hiệu Vô Lượng Âm, nơi đó có 220 triệu Bồ-tát , đều đang vãng sinh.

其第四佛名曰甘露味 , 彼有二百五十億 菩薩 , 皆當 往生
Kỳ đệ tứ Phật danh viết Cam Lộ Vị, bỉ hữu nhị bách ngũ thập ức Bồ-tát , giai đương vãng sinh.
Phật thứ tư danh hiệu Cam Lộ Vị, nơi đó có 250 triệu Bồ-tát , đều đang vãng sinh.

其第 五佛 名曰龍勝 , 彼有十四億 菩薩 , 皆當 往生
Kỳ đệ ngũ Phật danh viết Long Thắng, bỉ hữu thập tứ ức Bồ-tát , giai đương vãng sinh.
Phật thứ 5 danh hiệu Long Thắng, nơi đó có 14 triệu Bồ-tát , đều đang vãng sinh.

其第六佛名曰勝力, 彼有萬四千 菩薩 , 皆當 往生
Kỳ đệ lục Phật danh viết Thắng Lực, bỉ hữu vạn tứ thiên Bồ-tát , giai đương vãng sinh.
Phật thứ 6 danh hiệu Thắng Lực, nơi đó có 14 nghìn Bồ-tát , đều đang vãng sinh.

其第 七佛 名曰師子 , 彼有五百億 菩薩 , 皆當 往生
Kỳ đệ thất Phật danh viết Sư Tử, bỉ hữu ngũ bách ức Bồ-tát , giai đương vãng sinh.
Phật thứ 7 danh hiệu Sư Tử, nơi đó có 500 triệu Bồ-tát , đều đang vãng sinh.

其第 八佛 名曰離垢光 , 彼有八十億 菩薩 , 皆當 往生
Kỳ đệ bát Phật danh viết Ly Cấu Quang, bỉ hữu bát thập ức Bồ-tát , giai đương vãng sinh.
Phật thứ 8 danh hiệu Ly Cấu Quang, nơi đó có 80 triệu Bồ-tát , đều đang vãng sinh.

其第九佛名曰德首 , 彼有六十億 菩薩 , 皆當 往生
Kỳ đệ cửu Phật danh viết Đức Thủ, bỉ hữu lục thập ức Bồ-tát , giai đương vãng sinh.
Phật thứ 9 danh hiệu Đức Thủ, nơi đó có 60 triệu Bồ-tát , đều đang vãng sinh.

其第 十佛 名曰妙德山 , 彼有六十億 菩薩 , 皆當 往生
Kỳ đệ thập Phật danh viết Diệu Đức Sơn, bỉ hữu lục thập ức Bồ-tát , giai đương vãng sinh.
Phật thứ 10 danh hiệu Diệu Đức Sơn, nơi đó có 60 triệu Bồ-tát , đều đang vãng sinh.

其第十一佛名曰人王 , 彼有十億 菩薩 , 皆當 往生
Kỳ đệ thập nhất Phật danh viết Nhân Vương, bỉ hữu thập ức Bồ-tát , giai đương vãng sinh.
Phật thứ 11 danh hiệu Nhân Vương, nơi đó có 10 triệu Bồ-tát , đều đang vãng sinh.

其第十二佛名曰無上華 , 彼有無數不可稱計諸 菩薩 眾 ,
Kỳ đệ thập nhị Phật danh viết Vô Thượng Hoa, bỉ hữu vô số bất khả xưng kế chư Bồ-tát chúng,
Phật thứ 12 danh hiệu Vô Thượng Hoa, nơi đó có vô số các chúng Bồ-tát không thể kể đếm được,

不退轉 , 智慧勇猛 , 已曾供養無量諸佛。
giai Bất-thoái-chuyển , Trí tuệ dũng mãnh, dĩ tằng cúng dưỡng vô lượng chư Phật.
đều là Bất thoái chuyển, Trí tuệ dũng mãnh, đã từng cúng dưỡng vô lượng các Phật.

於七日中即能攝取百千億劫 大士 所修堅固之法。斯等 菩薩 皆當 往生
Ư thất nhật trung tức năng nhiếp thủ bách thiên ức Kiếp Đại Sĩ sở tu kiên cố chi Pháp. Tư đẳng Bồ-tát giai đương vãng sinh.
Trong 7 ngày tức thì có thể thu giữ các Pháp được Đại Sĩ tu kiên cố trong trăm nghìn triệu Kiếp. Những Bồ-tát đó đều đang vãng sinh.

其第十三佛名曰無畏 , 彼有七百九十億大 菩薩 眾 ,
Kỳ đệ thập tam Phật danh viết Vô Úy, bỉ hữu thất bách cửu thập ức Đại Bồ-tát chúng,
Phật thứ 13 danh hiệu Vô Úy, nơi đó có 790 triệu các Đại Bồ-tát ,

諸小 菩薩比丘 等不可稱計 , 皆當 往生
chư Tiểu Bồ-tát cập Tì-kheo đẳng bất khả xưng kế, giai đương vãng sinh.
các Tiểu Bồ-tát và các Tì-kheo không thể kể đếm được, đều đang vãng sinh.

佛語 彌勒 : 不但此十四 佛國 中諸 菩薩 等當 往生 也。
Phật ngữ Di Lặc : Bất đãn thử thập tứ Phật quốc trung chư Bồ-tát đẳng đương vãng sinh dã,
Phật bảo Di Lặc : Không chỉ các Bồ-tát trong 14 đất Phật đang được vãng sinh,

十方世界無量 佛國 , 其 往生 者亦復如是甚多無數。
thập phương Thế giới vô lượng Phật quốc , kỳ vãng sinh giả diệc phục như thị thậm đa vô số.
mười phương Thế giới vô lượng đất Phật, người vãng sinh cũng lại như thế rất nhiều vô số.

我但說 十方 諸佛名號及 菩薩 比丘 生彼國者。
Ngã đãn thuyết thập phương chư Phật danh hiệu cập Bồ-tát Tì-kheo sinh bỉ quốc giả.
Ta chỉ nói danh hiệu các Phật mười phương và Bồ-tát Tì-kheo sinh đất nước đó.

晝夜一劫尚未能竟。我今為汝略說之耳。
Trú dạ nhất Kiếp thượng vị năng cánh. Ngã kim vị Nhữ lược thuyết chi nhĩ.
Ngày đêm một Kiếp vẫn còn chưa thể đến tận cùng. Ta nay vì Ngài nói sơ lược thôi.

佛語 彌勒 : 其有得聞彼佛名號。
Phật ngữ Di Lặc : Kỳ hữu đắc văn bỉ Phật danh hiệu,
Phật bảo Di Lặc : Nếu được nghe danh hiệu Phật đó,

歡喜踊躍乃至一念 , 當知此人為得大利。
hoan hỉ dũng dược nãi chí nhất niệm, đương tri thử nhân vi đắc đại lợi.
vui mừng phấn chấn thậm chí một suy nghĩ đọc danh hiệu Phật đó, nên biết người đó có được lợi lớn.

則是具足無上 功德 。是故 彌勒 !
Tắc thị cụ túc Vô-thượng công Đức. Thị cố Di Lặc !
Chắc là đã đầy đủ công Đức Bình đẳng. Vì thế Di Lặc !

設有大火充滿 三千大千世界 , 要當過此 , 聞是經法 ,
Thiết hữu đại hỏa sung mãn Tam thiên Đại thiên Thế giới, yếu đương quá thử, văn thị Kinh Pháp.
Nếu có lửa lớn tràn đầy khắp Ba nghìn Đại thiên Thế giới, cần phải vượt qua nơi đó, nghe Kinh Pháp này,

歡喜信樂 , 受持讀誦 , 如說修行。所以者何 ?
hoan hỉ tín nhạo, thụ trì độc tụng, như thuyết tu hành. Sở dĩ giả hà ?
vui mừng tin tưởng ham thích, ghi nhớ đọc tụng, như thuyết tu hành. Vì sao như thế ?

多有 菩薩 , 欲聞此經而不能得。
Đa hữu Bồ-tát , dục văn thử Kinh nhi bất năng đắc.
Có nhiều Bồ-tát , muốn nghe Kinh này mà không thể được nghe.

若有眾生聞此經者。於 無上道不退轉
Nhược hữu chúng sinh văn thử Kinh giả, ư Vô-thượng Đạo chung Bất-thoái-chuyển .
Nếu có chúng sinh nghe được Kinh này, với Đạo Bình đẳng cuối cùng được Bất thoái chuyển.

是故應當專心信受持誦說行。
Thị cố ứng đương chuyên tâm tín thụ trì tụng thuyết hành.
Vì thế nên chuyên tâm tin tưởng ghi nhớ tụng nói thực hành.

吾今為諸眾生說此經法 , 令見 無量壽佛 及其 國土 一切所有。
Ngô kim vị chư chúng sinh thuyết thử Kinh Pháp, linh kiến Vô Lượng Thọ Phật cập kỳ quốc thổ nhất thiết sở hữu.
Ta nay vì các chúng sinh thuyết Kinh Pháp này, giúp được thấy Vô Lượng Thọ Phật cùng với tất cả mọi việc của đất Phật đó.

所當為者皆可求之。
Sở đương vi giả giai khả cầu chi.
Người đang muốn được như thế đều có thể cầu.

無得以我滅度之後復生 疑惑 , 當來之世經道滅盡。
Vô đắc dĩ Ngã diệt độ chi hậu phục sinh nghi hoặc , Đương lai chi Thế Kinh đạo diệt tận.
Lại không được sinh nghi hoặc do vì Ta sau khi tạ thế, ở thời Tương lai Kinh Đạo diệt hết.

我以慈悲哀愍 , 特留此經止住百歲。
Ngã dĩ Từ Bi ai mẫn, đặc lưu thử Kinh chỉ trụ bách tuế.
Ta vì Từ Bi xót thương, đặc biệt lưu truyền Kinh này trụ lại 100 năm.

其有眾生值斯經者 , 隨意所願皆可得度。
Kỳ hữu chúng sinh trực tư Kinh giả, tùy ý sở nguyện giai khả đắc độ.
Nếu có chúng sinh trực tiếp có Kinh này, tuỳ theo ý nguyện đều được độ thoát.

佛語 彌勒 : 如來 興世難值難見。
Phật ngữ Di Lặc : Như Lai hưng thế nan trực nan kiến.
Phật bảo Di Lặc : Khó trực tiếp khó gặp vào thời Như Lai xuất hiện ở đời .

佛經 道難得難聞。 菩薩 勝法諸 波羅蜜 。得聞亦難。
Chư Phật Kinh đạo nan đắc nan văn. Bồ-tát thắng Pháp chư Ba-la-mật , đắc văn diệc nan.
Các Đạo Kinh Phật khó có được, khó được nghe. Bồ-tát được các Pháp và tới được Niết-bàn , được nghe Kinh cũng khó.

善知識 聞法能行 , 此亦為難。
Ngộ thiện tri thức văn Pháp năng hành, thử diệc vi nan.
Gặp Tri thức thiện nghe Pháp có thể tu hành, việc này cũng khó.

若聞斯經信樂受持 , 難中之難無過此難。
Nhược văn tư Kinh tín nhạo thụ trì, nạn trung chi nạn vô quá thử nan.
Nếu nghe Kinh này tin tưởng ham thích ghi nhớ, khó khăn trong hoạn nạn không vượt hơn khó khăn này.

是故我法如是作如是說如是教 , 應當信順如法修行。
Thị cố Ngã Pháp như thị tác như thị thuyết như thị giáo, ứng đương tín thuận như Pháp tu hành.
Do đó Pháp của Ta như thế, làm như thế, nói như lời dạy bảo, nên cần tin tưởng thuận theo như Pháp tu hành.

爾時 世尊 說此經法無量眾生皆發無上 正覺 之心。
Nhĩ thời Thế Tôn thuyết thử Kinh Pháp vô lượng chúng sinh giai phát Vô-thượng Chính-giác chi tâm.
Khi Thế Tôn thuyết Kinh Pháp này vô lượng chúng sinh đều phát tâm Bình đẳng Chính giác.

萬二千 那由他 人得清淨 法眼 。二十二億諸天人民得 阿那含
Vạn nhị thiên Na-do-tha nhân đắc thanh tịnh Pháp-nhãn. Nhị thập nhị ức chư Thiên Nhân dân đắc A-na-hàm .
Vạn hai nghìn Na-do-tha người được Thanh tịnh Pháp Bồ-tát . 22 triệu nhân dân cõi Trời được quả A-la-hàm.

八十萬 比丘 漏盡意解 , 四十億 菩薩不退轉
Bát thập vạn Tì-kheo Lậu tận ý giải, tứ thập ức Bồ-tát đắc Bất-thoái-chuyển .
80 vạn Tì-kheo hiểu rõ ý hết phiền não , 40 triệu Bồ-tát được Bất thoái chuyển.

以弘誓 功德 而自莊嚴。於將來世當成 正覺
Dĩ hoằng thệ công Đức nhi tự trang nghiêm, ư Tương lai thế đương thành Chính-giác.
Dùng công Đức thệ nguyện lớn mà tự trang nghiêm, ở đời Tương lai đang thành Chính giác.

爾時 三千大千世界 六種震動 , 大光普照 十方 國土
Nhĩ thời Tam thiên Đại thiên Thế giới lục chủng chấn động , đại quang phổ chiếu thập phương quốc thổ.
Khi đó Ba nghìn Đại thiên Thế giới 6 loại chấn động, quang lớn chiếu rộng khắp mười phương đất Phật.

百千音樂自然而作 , 無量妙華芬芬而降。
Bách thiên âm nhạc tự nhiên nhi tác, vô lượng hương khí phân phân nhi giáng.
Trăm nghìn âm nhạc tự khắc cùng kêu, vô lượng khí hương lả tả giáng xuống.

佛說經已。彌勒 菩薩十方 來諸菩薩眾。
Phật thuyết Kinh dĩ. Di Lặc Bồ-tát cập thập phương lai chư Bồ-tát chúng.
Phật thuyết xong Kinh. Di Lặc Bồ-tát và các chúng Bồ-tát từ mười phương tới.

長老 阿難 諸大 聲聞 , 一切大眾聞佛所說靡不歡喜。
Trưởng-lão A-nan chư Đại Thanh-văn , nhất thiết Đại chúng văn Phật sở thuyết mị bất hoan hỉ.
Trưởng lão A-nan các Đại Thanh-văn , tất cả Đại chúng nghe được Phật thuyết hết sức vui vẻ.

無量壽經卷下
Vô Lượng Thọ Kinh quyển hạ
Kinh Vô Lượng Thọ quyển cuối.

============================================================
TUỆ QUANG 慧光 FOUNDATION http://www.daitangvietnam.com
Nguyên Tánh Trần Tiễn Khanh & Nguyên Hiển Trần Tiễn Huyến Phiên Âm.

Phật Tử Bùi Đức Huề dịch 2/2009.
============================================================

往生淨土神咒 .

Vãng sinh Tịnh độ Thần chú.

Thần chú vãng sinh Tây phương Cực-lạc.

南無阿彌多婆夜 . 哆他伽多夜 . 哆地夜他 . 阿彌唎 . 都婆毗 .

Nam-mô A di đa bà dạ. Đa tha già đa dạ. Đa địa dạ tha. A di lị. Đô bà tì.

阿彌唎哆 . 悉耽婆毗 . 阿彌唎哆 . 毗迦蘭帝 . 阿彌唎哆 . 毗迦蘭多 .

A di lị đa. Tất đam bà tì. A di lị đa. tì ca lan đế. A di lị đa. Tì ca lan đa .

伽彌. 伽伽那 . 枳多迦利 . 娑婆訶 .

Già di nhị. Già già na. Chỉ đa ca lợi. Sa bà ha.